Trong Tín biểu, Hội Thánh tuyên xưng mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi và “thiên ý nhiệm mầu là kế hoạch yêu thương” (Ep 1,9) của Ngài đối với tất cả các thụ tạo: Chúa Cha hoàn tất “thiên ý nhiệm mầu” của Ngài khi ban Con yêu dấu và Thánh Thần Ngài để cứu độ trần gian và để tôn vinh Danh Ngài. Đó là mầu nhiệm của Đức Kitô1 được mặc khải và thực hiện trong lịch sử, theo một kế hoạch, một “sự an bài” được tổ chức cách khôn ngoan mà thánh Phaolô gọi là “mầu nhiệm Thiên Chúa đã an bài” (Ep 3,9) và truyền thống giáo phụ gọi là “Nhiệm cục của Ngôi Lời Nhập Thể” hay “Nhiệm cục cứu độ.”
In the Symbol of the faith the Church confesses the mystery of the Holy Trinity and of the plan of God's "good pleasure" for all creation: the Father accomplishes the "mystery of his will" by giving his beloved Son and his Holy Spirit for the salvation of the world and for the glory of his name.
“Công trình cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa cách trọn hảo này, đã được tiên báo trong Cựu Ước qua những công trình vĩ đại của Chúa, nay được Đức Kitô thực hiện, đặc biệt bằng mầu nhiệm Vượt Qua, nghĩa là bằng cuộc tử nạn hồng phúc, sự sống lại từ cõi chết và lên trời vinh hiển của Người; qua đó, ‘Người đã chết để tiêu diệt sự chết của chúng ta và sống lại để tái lập sự sống’. Chính từ cạnh sườn Đức Kitô an nghỉ trên thập giá mà bí tích kỳ diệu của toàn thể Hội Thánh đã được phát sinh.”2 Vì vậy, trong phụng vụ, Hội Thánh chủ yếu cử hành mầu nhiệm Vượt Qua, qua mầu nhiệm đó Đức Kitô đã thực hiện công trình cứu độ chúng ta.
"The wonderful works of God among the people of the Old Testament were but a prelude to the work of Christ the Lord in redeeming mankind and giving perfect glory to God. He accomplished this work principally by the Paschal mystery of his blessed Passion, Resurrection from the dead, and glorious Ascension, whereby 'dying he destroyed our death, rising he restored our life.' For it was from the side of Christ as he slept the sleep of death upon the cross that there came forth 'the wondrous sacrament of the whole Church."'
Hội Thánh loan báo và cử hành mầu nhiệm này của Đức Kitô trong phụng vụ của mình, để các tín hữu được sống nhờ mầu nhiệm đó và làm chứng cho mầu nhiệm đó trong trần gian: “Nhờ phụng vụ, nhất là trong hy tế Thánh Thể của Chúa, ‘công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện’. Phụng vụ góp phần rất nhiều để giúp các tín hữu, qua cuộc sống mình, diễn tả và biểu lộ cho người khác mầu nhiệm Đức Kitô và bản chất đích thực của Hội Thánh.”3 Thuật ngữ “phụng vụ” nghĩa là gì? (1069-1070)
It is this mystery of Christ that the Church proclaims and celebrates in her liturgy so that the faithful may live from it and bear witness to it in the world:
Thuật ngữ “phụng vụ” (“liturgia”), theo gốc chữ, có nghĩa là “công vụ”, “việc phục vụ nhân danh dân cho dân.” Trong truyền thống Kitô Giáo, thuật ngữ này có nghĩa là dân Thiên Chúa dự phần vào “công việc của Thiên Chúa.”4 Qua phụng vụ, Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc và Thượng Tế của chúng ta, tiếp tục công trình cứu chuộc chúng ta trong Hội Thánh, với Hội Thánh và nhờ Hội Thánh của Người.
The word "liturgy" originally meant a "public work" or a "service in the name of/on behalf of the people." In Christian tradition it means the participation of the People of God in "the work of God." Through the liturgy Christ, our redeemer and high priest, continues the work of our redemption in, with, and through his Church.
Thuật ngữ “phụng vụ” trong Tân Ước được dùng để chỉ không những việc cử hành phụng tự thần linh,5 mà còn cả việc loan báo Tin Mừng6 và việc thực thi bác ái.7 Trong tất cả những trường hợp này, vấn đề là phục vụ Thiên Chúa và phục vụ con người. Trong cử hành phụng vụ, Hội Thánh là người phục vụ, theo hình ảnh Chúa mình, là Đấng duy nhất “lo việc tế tự”,8 Hội Thánh được tham dự vào chức tư tế (phụng tự), tiên tri (loan báo) và vương đế (phục vụ bác ái) của Người: “Vì thế, phụng vụ đáng được xem là việc thực thi trách vụ tư tế của Chúa Giêsu Kitô; trong đó, công cuộc thánh hóa con người được biểu thị bằng những dấu chỉ khả giác và được thực hiện cách riêng biệt theo từng dấu chỉ, và trong đó phụng tự công cộng vẹn toàn được thực thi bởi Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô, nghĩa là bởi Đấng là Đầu cùng với các chi thể của Người. Do đó, mọi cử hành phụng vụ, vì là công trình của Đức Kitô tư tế và của Thân Thể Người là Hội Thánh, đều là hành động thánh thiêng tuyệt hảo, không có một hành động nào khác của Hội Thánh hữu hiệu bằng, xét cả về danh hiệu lẫn đẳng cấp.”9 Phụng vụ xét như nguồn mạch sự sống (1071-1072)
In the New Testament the word "liturgy" refers not only to the celebration of divine worship but also to the proclamation of the Gospel and to active charity. In all of these situations it is a question of the service of God and neighbor. In a liturgical celebration the Church is servant in the image of her Lord, the one "leitourgos"; she shares in Christ's priesthood (worship), which is both prophetic (proclamation) and kingly (service of charity):
Phụng vụ, là công trình của Đức Kitô, cũng là hành động của Hội Thánh Người. Phụng vụ thực hiện và biểu thị Hội Thánh như dấu chỉ hữu hình của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người nhờ Đức Kitô. Phụng vụ dẫn các tín hữu vào sự sống mới của cộng đoàn. Phụng vụ đòi buộc mọi người phải tham dự “một cách ý thức, tích cực và có kết quả.”10
As the work of Christ liturgy is also an action of his Church. It makes the Church present and manifests her as the visible sign of the communion in Christ between God and men. It engages the faithful in the new life of the community and involves the "conscious, active, and fruitful participation" of everyone.
“Phụng vụ không phải là tất cả hoạt động của Hội Thánh”:11 việc rao giảng Tin Mừng, đức tin và sự hối cải phải đi trước phụng vụ; lúc đó phụng vụ mới có thể mang lại hoa trái của mình trong đời sống các tín hữu: đời sống mới theo Chúa Thánh Thần, việc dấn thân vào sứ vụ của Hội Thánh và việc phục vụ cho sự hợp nhất của Hội Thánh. Kinh nguyện và phụng vụ (1073)
"The sacred liturgy does not exhaust the entire activity of the Church": it must be preceded by evangelization, faith, and conversion. It can then produce its fruits in the lives of the faithful: new life in the Spirit, involvement in the mission of the Church, and service to her unity.
Phụng vụ còn là tham dự vào kinh nguyện của Đức Kitô dâng lên Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Mọi kinh nguyện Kitô Giáo đều bắt nguồn và kết thúc trong phụng vụ. Nhờ phụng vụ, con người nội tâm được bén rễ sâu và đặt nền tảng12 trên tình yêu của Thiên Chúa, Đấng “rất mực yêu mến chúng ta” (Ep 2,4) trong Con yêu dấu của Ngài. Đây chính là “công trình kỳ diệu của Thiên Chúa”, là đời sống được hướng dẫn và được nội tâm hóa bởi mọi lời cầu nguyện, “mọi lúc trong Thần Khí” (Ep 6,18). Việc dạy giáo lý và phụng vụ (1074-1075)
The liturgy is also a participation in Christ's own prayer addressed to the Father in the Holy Spirit. In the liturgy, all Christian prayer finds its source and goal. Through the liturgy the inner man is rooted and grounded in "the great love with which [the Father] loved us" in his beloved Son. It is the same "marvelous work of God" that is lived and internalized by all prayer, "at all times in the Spirit."
“Phụng vụ là chóp đỉnh mà hoạt động của Hội Thánh vươn tới, đồng thời là nguồn mạch tuôn trào tất cả sức mạnh của Hội Thánh.”13 Do đó, phụng vụ là chỗ rất đặc biệt để dạy giáo lý cho dân Thiên Chúa. “Dạy giáo lý, tự bản chất, gắn liền với mọi cử hành phụng vụ và bí tích, vì chính trong các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, Đức Kitô Giêsu hành động cách sung mãn để biến đổi con người.”14
"The liturgy is the summit toward which the activity of the Church is directed; it is also the font from which all her power flows." It is therefore the privileged place for catechizing the People of God. "Catechesis is intrinsically linked with the whole of liturgical and sacramental activity, for it is in the sacraments, especially in the Eucharist, that Christ Jesus works in fullness for the transformation of men."
Việc dạy giáo lý trong phụng vụ nhằm đưa con người vào mầu nhiệm Đức Kitô (mystagon), dẫn từ hữu hình đến vô hình, từ dấu chỉ đến thực tại, từ “các bí tích” tới “các mầu nhiệm.” Việc trình bày như vậy là trách nhiệm của các sách địa phương và miền. Còn Sách này, nhằm phục vụ toàn thể Hội Thánh, trong đó có nhiều khác biệt về nghi thức và văn hóa,15 nên chỉ trình bày những gì là căn bản và chung cho toàn thể Hội Thánh liên quan tới phụng vụ xét như là mầu nhiệm và việc cử hành (Đoạn 1), rồi đến bảy bí tích và các á bí tích (Đoạn 2).
Liturgical catechesis aims to initiate people into the mystery of Christ (It is "mystagogy." ) by proceeding from the visible to the invisible, from the sign to the thing signified, from the "sacraments" to the "mysteries." Such catechesis is to be presented by local and regional catechisms. This Catechism, which aims to serve the whole Church in all the diversity of her rites and cultures, will present what is fundamental and common to the whole Church in the liturgy as mystery and as celebration, and then the seven sacraments and the sacramentals.
Ngày lễ Ngũ Tuần, nhờ việc tuôn ban Chúa Thánh Thần, Hội Thánh được biểu lộ cho trần gian. Hồng ân của Thần Khí khai mở một thời đại mới trong “việc phân phát các mầu nhiệm”: đó là thời đại của Hội Thánh, trong thời gian kéo dài này, Đức Kitô, nhờ phụng vụ của Hội Thánh Người, biểu lộ, làm hiện diện và truyền thông công trình cứu độ của Người “cho tới khi Chúa đến” (1 Cr 11,26). Trong thời đại này của Hội Thánh, Đức Kitô từ nay sống và hành động trong và với Hội Thánh Người một cách mới, riêng cho thời đại mới này. Người hành động qua các bí tích; truyền thống chung của Hội Thánh, Đông phương cũng như Tây phương, gọi đó là “Nhiệm cục bí tích”: nhiệm cục này cốt tại việc truyền thông (hoặc “phân phát”) hoa trái của mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô trong việc cử hành phụng vụ “bí tích” của Hội Thánh. Do đó, trước hết, cần phải trình bày “việc phân phát bí tích” (Chương một). Nhờ đó, chúng ta sẽ thấy rõ hơn bản chất và những khía cạnh cốt yếu của việc cử hành phụng vụ (Chương hai).
The Church was made manifest to the world on the day of Pentecost by the outpouring of the Holy Spirit. The gift of the Spirit ushers in a new era in the "dispensation of the mystery" the age of the Church, during which Christ manifests, makes present, and communicates his work of salvation
“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Ngài đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Ngài đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Ngài, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Ngài. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Chúa Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Ngài ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu” (Ep 1,3-6).
"Blessed be the God and Father of our Lord Jesus Christ, who has blessed us in Christ with every spiritual blessing in the heavenly places, even as he chose us in him before the foundation of the world, that we should be holy and blameless before him. He destined us before him in love to be his sons through Jesus Christ, according to the purpose of his will, to the praise of his glorious grace which he freely bestowed on us in the Beloved."
“Chúc lành” là hành động thần linh ban sự sống, và nguồn gốc của hành động này là Chúa Cha. Việc chúc lành của Ngài vừa là một lời nói vừa là một hồng ân (bene-dictio, eu-logia). Khi áp dụng cho con người, từ này có nghĩa “chúc tụng”, nghĩa là tôn thờ và tạ ơn Đấng Tạo hóa của mình.
Blessing is a divine and life-giving action, the source of which is the Father; his blessing is both word and gift. When applied to man, the word "blessing" means adoration and surrender to his Creator in thanksgiving.
Từ lúc khởi đầu cho đến lúc cùng tận thời gian, toàn bộ công trình của Thiên Chúa đều là chúc lành. Từ bài thơ phụng vụ về cuộc tạo dựng đầu tiên cho đến những thánh ca về thành Giêrusalem thiên quốc, các tác giả được linh hứng đều loan báo chương trình cứu độ như một lời chúc lành triền miên của Thiên Chúa.
From the beginning until the end of time the whole of God's work is a blessing. From the liturgical poem of the first creation to the canticles of the heavenly Jerusalem, the inspired authors proclaim the plan of salvation as one vast divine blessing.
Từ lúc khởi đầu, Thiên Chúa đã chúc lành cho các sinh vật, đặc biệt cho người nam và người nữ. Giao ước với ông Noê và với tất cả mọi sinh vật canh tân lời chúc lành sinh sôi nảy nở này, bất chấp tội lỗi của con người đã khiến đất đai “bị chúc dữ.” Nhưng khởi từ tổ phụ Ápraham, lời chúc lành của Thiên Chúa mới đi sâu vào lịch sử loài người, một lịch sử đang hướng về cõi chết, để làm cho nó tiến về cõi sống, tiến về nguồn mạch của nó: nhờ đức tin của “cha các kẻ tin”, người đã đón nhận lời chúc lành, mà lịch sử cứu độ được khởi đầu.
From the very beginning God blessed all living beings, especially man and woman. the covenant with Noah and with all living things renewed this blessing of fruitfulness despite man's sin which had brought a curse on the ground. But with Abraham, the divine blessing entered into human history which was moving toward death, to redirect it toward life, toward its source. By the faith of "the father of all believers," who embraced the blessing, the history of salvation is inaugurated.
Những lời chúc lành của Thiên Chúa được bày tỏ qua các biến cố kỳ diệu và có ý nghĩa cứu độ: đó là việc sinh hạ Ixaác, việc xuất hành ra khỏi Ai Cập (Vượt Qua và Xuất Hành), việc trao ban Đất Hứa, việc tuyển chọn Đavít, sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đền Thờ, cuộc lưu đày có ý nghĩa thanh luyện và sự hồi hương của “ít người còn sót lại.” Lề Luật, các Tiên tri và các Thánh vịnh, dệt nên phụng vụ của dân Chúa chọn, vừa nhắc nhớ những lời chúc lành của Thiên Chúa, vừa đáp lại những lời chúc lành đó bằng những câu ca ngợi và chúc tụng tạ ơn.
The divine blessings were made manifest in astonishing and saving events: the birth of Isaac, the escape from Egypt (Passover and Exodus), the gift of the promised land, the election of David, the presence of God in the Temple, the purifying exile, and return of a "small remnant." the Law, the Prophets, and the Psalms, interwoven in the liturgy of the Chosen People, recall these divine blessings and at the same time respond to them with blessings of praise and thanksgiving.
Trong phụng vụ của Hội Thánh, lời chúc lành của Thiên Chúa được mặc khải và truyền thông cách sung mãn: Chúa Cha được nhận biết và được tôn thờ với tư cách là nguồn gốc và cùng đích của mọi chúc lành trong công trình tạo dựng và cứu độ; trong Ngôi Lời của Ngài, Đấng đã nhập thể, chịu chết và sống lại vì chúng ta, Chúa Cha đổ tràn trên chúng ta những lời chúc lành của Ngài, và nhờ Ngôi Lời, Ngài tuôn đổ vào lòng chúng ta hồng ân chứa đựng mọi hồng ân: đó là Chúa Thánh Thần.
In the Church's liturgy the divine blessing is fully revealed and communicated. the Father is acknowledged and adored as the source and the end of all the blessings of creation and salvation. In his Word who became incarnate, died, and rose for us, he fills us with his blessings. Through his Word, he pours into our hearts the Gift that contains all gifts, the Holy Spirit.
Như vậy, chúng ta hiểu được chiều kích kép của phụng vụ Kitô Giáo xét như lời đáp lại của đức tin và tình yêu đối với những lời “chúc lành thiêng liêng” Chúa Cha đã ban cho chúng ta. Một đàng, được kết hợp với Chúa của mình và dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh chúc tụng Chúa Cha “vì phúc lộc khôn tả Ngài ban” (2 Cr 9,15), bằng việc tôn thờ, ca ngợi và tạ ơn. Đàng khác, cho tới khi kế hoạch của Thiên Chúa được hoàn tất, Hội Thánh không ngừng dâng lên Chúa Cha “lễ vật là những hồng ân Ngài ban”, và cầu khẩn Ngài ban Thánh Thần xuống trên lễ vật này, trên chính Hội Thánh, trên các tín hữu và trên toàn thể trần gian, để, nhờ hiệp thông vào sự chết và sự sống lại của Đức Kitô- Thượng tế, và nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, những lời chúc lành này của Thiên Chúa đem lại hoa trái sự sống “để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Ngài ban tặng cho ta” (Ep 1,6).
The dual dimension of the Christian liturgy as a response of faith and love to the spiritual blessings the Father bestows on us is thus evident. On the one hand, the Church, united with her Lord and "in the Holy Spirit," blesses the Father "for his inexpressible gift in her adoration, praise, and thanksgiving. On the other hand, until the consummation of God's plan, the Church never ceases to present to the Father the offering of his own gifts and to beg him to send the Holy Spirit upon that offering, upon herself, upon the faithful, and upon the whole world, so that through communion in the death and resurrection of Christ the Priest, and by the power of the Spirit, these divine blessings will bring forth the fruits of life "to the praise of his glorious grace."
Đức Kitô, Đấng “ngự bên hữu Chúa Cha” và tuôn đổ Thánh Thần trên Thân Thể của Người là Hội Thánh, từ nay hoạt động qua các bí tích do chính Người thiết lập để truyền thông ân sủng của Người. Các bí tích là những dấu chỉ khả giác (các lời nói và các hành động) mà loài người chúng ta hiện nay vẫn có thể hiểu được. Các bí tích thực hiện cách hữu hiệu ân sủng mà chúng nói lên, nhờ hành động của Đức Kitô và nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần.
"Seated at the right hand of the Father" and pouring out the Holy Spirit on his Body which is the Church, Christ now acts through the sacraments he instituted to communicate his grace. the sacraments are perceptible signs (words and actions) accessible to our human nature. By the action of Christ and the power of the Holy Spirit they make present efficaciously the grace that they signify.
Trong phụng vụ của Hội Thánh, Đức Kitô chủ yếu biểu lộ và hoàn thành mầu nhiệm Vượt Qua của Người. Trong cuộc đời trần thế, Chúa Giêsu đã loan báo mầu nhiệm Vượt Qua của Người bằng lời giảng dạy và tham dự trước vào mầu nhiệm đó bằng các hành động của Người. Khi Giờ của Người đến, Chúa Giêsu đã sống biến cố độc nhất của lịch sử, một biến cố không qua đi: Chúa Giêsu chịu chết, chịu mai táng, sống lại từ cõi chết và ngự bên hữu Chúa Cha “một lần cho mãi mãi” (Rm 6,10; Hr 7,27; 9,12). Đó là biến cố xác thực, đã xảy ra trong lịch sử của chúng ta, nhưng là biến cố độc nhất. Tất cả những biến cố khác của lịch sử đã xảy ra một lần rồi qua đi, chìm vào dĩ vãng. Trái lại, mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô không thể chỉ tồn tại trong quá khứ, bởi vì chính Người đã dùng cái chết của Người mà hủy diệt sự chết, và bất cứ điều gì Đức Kitô là, bất cứ điều gì Người đã làm và đã chịu vì tất cả mọi người, những điều đó đều tham dự vào tính vĩnh cửu của Thiên Chúa, và như vậy, đều vượt trên mọi thời gian và luôn là hiện tại. Biến cố Thập Giá và Phục Sinh vẫn đang tồn tại và lôi kéo mọi sự tới sự sống.
In the liturgy of the Church, it is principally his own Paschal mystery that Christ signifies and makes present. During his earthly life Jesus announced his Paschal mystery by his teaching and anticipated it by his actions. When his Hour comes, he lives out the unique event of history which does not pass away: Jesus dies, is buried, rises from the dead, and is seated at the right hand of the Father "once for all." His Paschal mystery is a real event that occurred in our history, but it is unique: all other historical events happen once, and then they pass away, swallowed up in the past. the Paschal mystery of Christ, by contrast, cannot remain only in the past, because by his death he destroyed death, and all that Christ is - all that he did and suffered for all men - participates in the divine eternity, and so transcends all times while being made present in them all. the event of the Cross and Resurrection abides and draws everything toward life.
“Như Đức Kitô được Chúa Cha sai đi thế nào, thì chính Người cũng sai các Tông Đồ, được đầy tràn Thánh Thần, như vậy, không những để khi công bố Tin Mừng cho mọi thụ tạo, các Tông Đồ loan báo rằng Con Thiên Chúa đã nhờ sự chết và sự sống lại của Người, mà giải thoát chúng ta khỏi quyền lực Xatan và sự chết, và đưa chúng ta vào Nước của Chúa Cha, nhưng còn để các Tông Đồ thực thi công trình cứu độ, mà các ông đã rao giảng, nhờ Hy Lễ và các bí tích, là trung tâm điểm của toàn thể đời sống phụng vụ.”
"Accordingly, just as Christ was sent by the Father so also he sent the apostles, filled with the Holy Spirit. This he did so that they might preach the Gospel to every creature and proclaim that the Son of God by his death and resurrection had freed us from the power of Satan and from death and brought us into the Kingdom of his Father. But he also willed that the work of salvation which they preached should be set in train through the sacrifice and sacraments, around which the entire liturgical life revolves."
Như vậy, Đức Kitô Phục sinh, khi ban Chúa Thánh Thần cho các Tông Đồ, đã trao cho các ông quyền thánh hóa của Người: Các ông trở nên những dấu chỉ bí tích của Đức Kitô. Nhờ quyền năng của cùng một Chúa Thánh Thần, các ông trao quyền thánh hóa ấy cho những người kế nhiệm. Việc “kế nhiệm Tông Đồ” này xây dựng nên toàn bộ đời sống phụng vụ của Hội Thánh; chính việc kế nhiệm đó mang tính bí tích và được lưu truyền qua bí tích Truyền Chức thánh.
Thus the risen Christ, by giving the Holy Spirit to the apostles, entrusted to them his power of sanctifying: they became sacramental signs of Christ. By the power of the same Holy Spirit they entrusted this power to their successors. This
“Để thực hiện một công cuộc lớn lao như vậy (phân phát hoặc truyền thông công trình cứu độ của Người), Đức Kitô luôn hiện diện trong Hội Thánh Người, nhất là trong các hoạt động phụng vụ. Người hiện diện trong Hy tế Thánh lễ cũng như trong con người thừa tác viên, “Đấng xưa đã tự hiến trên thánh giá, thì nay chính Người dâng hiến qua thừa tác vụ của các tư tế”, và nhất là Người hiện diện dưới hình bánh hình rượu Thánh Thể. Người hiện diện bằng quyền năng của Người trong các bí tích, đến nỗi khi một ai đó làm Phép Rửa, thì đó là chính Đức Kitô làm Phép Rửa. Người hiện diện trong Lời của Người, vì chính là Người đang nói, khi Kinh Thánh được đọc lên trong Hội Thánh. Cuối cùng, Người hiện diện khi Hội Thánh cầu nguyện và hát Thánh vịnh, như chính Người đã hứa: ‘Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ’ (Mt 18,20).”
"To accomplish so great a work" - the dispensation or communication of his work of salvation - "Christ is always present in his Church, especially in her liturgical celebrations. He is present in the Sacrifice of the Mass not only in the person of his minister, 'the same now offering, through the ministry of priests, who formerly offered himself on the cross,' but especially in the Eucharistic species. By his power he is present in the sacraments so that when anybody baptizes, it is really Christ himself who baptizes. He is present in his word since it is he himself who speaks when the holy Scriptures are read in the Church. Lastly, he is present when the Church prays and sings, for he has promised 'where two or three are gathered together in my name there am I in the midst of them."'
“Trong công cuộc lớn lao như vậy, qua đó Thiên Chúa được tôn vinh cách hoàn hảo và con người được thánh hóa, Đức Kitô hằng liên kết với Hội Thánh là Hiền Thê rất yêu quý của Người, và Hội Thánh kêu cầu Người là Chúa của mình và nhờ Người mà phụng thờ Chúa Cha hằng hữu.”
"Christ, indeed, always associates the Church with himself in this great work in which God is perfectly glorified and men are sanctified. the Church is his beloved Bride who calls to her Lord and through him offers worship to the eternal Father."
“Trong phụng vụ trần thế, chúng ta tham dự như một cách nếm trước phụng vụ trên trời, được cử hành trong thành thánh Giêrusalem, nơi chúng ta là lữ khách đang tiến về, ở đó, Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa, là thừa tác viên của cung thánh, và của nhà tạm đích thực; chúng ta hợp cùng toàn thể đạo binh trên trời đồng thanh ca ngợi tôn vinh Chúa; chúng ta kính nhớ các Thánh, và hy vọng được đồng phận với các ngài; chúng ta mong đợi Đấng Cứu Độ là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, cho đến khi Người, là sự sống của chúng ta, xuất hiện, và chúng ta sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang.”
"In the earthly liturgy we share in a foretaste of that heavenly liturgy which is celebrated in the Holy City of Jerusalem toward which we journey as pilgrims, where Christ is sitting at the right hand of God, Minister of the sanctuary and of the true tabernacle. With all the warriors of the heavenly army we sing a hymn of glory to the Lord; venerating the memory of the saints, we hope for some part and fellowship with them; we eagerly await the Savior, our Lord Jesus Christ, until he, our life, shall appear and we too will appear with him in glory."
Trong phụng vụ, Chúa Thánh Thần là nhà sư phạm về đức tin cho Dân Thiên Chúa, là Đấng thực hiện “những kỳ công của Thiên Chúa”, tức là các bí tích của Giao Ước Mới. Điều Chúa Thánh Thần mong muốn và thực hiện trong lòng Hội Thánh, đó là chúng ta được sống bằng sự sống của Đức Kitô phục sinh. Khi Chúa Thánh Thần gặp được nơi chúng ta lời đáp lại của đức tin mà Ngài đã khơi lên, thì đó là một sự cộng tác thật sự. Vì vậy, phụng vụ là công trình chung của Chúa Thánh Thần và Hội Thánh.
In the liturgy the Holy Spirit is teacher of the faith of the People of God and artisan of "God's masterpieces," the sacraments of the New Covenant. the desire and work of the Spirit in the heart of the Church is that we may live from the life of the risen Christ. When the Spirit encounters in us the response of faith which he has aroused in us, he brings about genuine cooperation. Through it, the liturgy becomes the common work of the Holy Spirit and the Church.
Trong việc phân phát cách bí tích mầu nhiệm của Đức Kitô, Chúa Thánh Thần cũng hành động cùng một cách thức như trong các thời đại khác của Nhiệm cục cứu độ: Ngài chuẩn bị cho Hội Thánh gặp gỡ Chúa của mình; Ngài nhắc nhớ và làm tỏ hiện Đức Kitô cho đức tin của cộng đoàn; Ngài làm cho hiện diện và hiện tại hóa mầu nhiệm của Đức Kitô bằng quyền năng biến đổi của Ngài; sau cùng, Thánh Thần của sự hiệp thông kết hợp Hội Thánh vào đời sống và sứ vụ của Đức Kitô.
In this sacramental dispensation of Christ's mystery the Holy Spirit acts in the same way as at other times in the economy of salvation: he prepares the Church to encounter her Lord; he recalls and makes Christ manifest to the faith of the assembly. By his transforming power, he makes the mystery of Christ present here and now. Finally the Spirit of communion unites the Church to the life and mission of Christ. The Holy Spirit prepares for the reception of Christ
Trong Nhiệm cục bí tích, Chúa Thánh Thần hoàn tất các hình bóng của Cựu Uớc. Bởi vì Hội Thánh của Đức Kitô “đã được chuẩn bị cách kỳ diệu trong lịch sử dân Ítraen và trong Cựu Ước”, nên phụng vụ của Hội Thánh giữ lại một số yếu tố của phụng tự Cựu Ước, xét như một phần không thể thiếu và không thể thay thế, coi đó là của mình: — Chủ yếu là việc đọc Cựu Ước; — lời cầu nguyện của các Thánh vịnh; — và nhất là tưởng nhớ các biến cố cứu độ và những thực tại đầy ý nghĩa đã được hoàn tất trong mầu nhiệm của Đức Kitô (Lời Hứa và Giao Ước, Xuất Hành và Vượt Qua, Vương Quốc và Đền Thờ, Lưu Đày và Hồi Hương).
In the sacramental economy the Holy Spirit fulfills what was prefigured in the Old Covenant. Since Christ's Church was "prepared in marvellous fashion in the history of the people of Israel and in the Old Covenant," The Church's liturgy has retained certain elements of the worship of the Old Covenant as integral and irreplaceable, adopting them as her own: -notably, reading the Old Testament; -praying the Psalms; -above all, recalling the saving events and significant realities which have found their fulfillment in the mystery of Christ (promise and covenant, Exodus and Passover, kingdom and temple, exile and return).
Chính trên sự hòa hợp này giữa hai Giao Ước, mà giáo lý về cuộc Vượt Qua của Chúa được xây dựng, rồi đến giáo lý của các Tông Đồ và của các Giáo phụ. Giáo lý này khai mở những điều còn bị che giấu trong văn tự của Cựu Ước: đó là mầu nhiệm của Đức Kitô. Cách giải thích này được gọi là “tiên trưng”, vì nó cho thấy sự mới mẻ của Đức Kitô khởi từ những “hình bóng” (biểu trưng) loan báo về Người qua các sự kiện, lời nói và biểu tượng của Giao ước cũ. Nhờ việc đọc lại Cựu Ước trong Thánh Thần chân lý khởi đi từ Đức Kitô, các hình bóng được biểu lộ ra. Chẳng hạn, cơn lụt hồng thủy và con tàu ông Nôê là hình bóng báo trước ơn cứu độ nhờ bí tích Rửa Tội; cột mây và việc vượt qua Biển Đỏ cũng cùng ý nghĩa đó; nước từ tảng đá là hình bóng các hồng ân thiêng liêng của Đức Kitô; manna trong hoang địa là hình bóng tiên báo Thánh Thể, “Bánh bởi trời, bánh đích thực” (Ga 6,32).
It is on this harmony of the two Testaments that the Paschal catechesis of the Lord is built, and then, that of the Apostles and the Fathers of the Church. This catechesis unveils what lay hidden under the letter of the Old Testament: the mystery of Christ. It is called "typological" because it reveals the newness of Christ on the basis of the "figures" (types) which announce him in the deeds, words, and symbols of the first covenant. By this re-reading in the Spirit of Truth, starting from Christ, the figures are unveiled. Thus the flood and Noah's ark prefigured salvation by Baptism, as did the cloud and the crossing of the Red Sea. Water from the rock was the figure of the spiritual gifts of Christ, and manna in the desert prefigured the Eucharist, "the true bread from heaven."
Vì vậy, đặc biệt trong mùa Vọng, mùa Chay và nhất là đêm Canh thức Vượt Qua, Hội Thánh đọc lại và sống trở lại tất cả các biến cố lớn lao đó của lịch sử cứu độ trong “ngày hôm nay” của phụng vụ của mình. Nhưng điều đó cũng đòi hỏi việc dạy giáo lý phải giúp các tín hữu mở rộng tâm hồn để hiểu được ý nghĩa “thiêng liêng” ấy của Nhiệm cục cứu độ, đúng như phụng vụ của Hội Thánh bày tỏ và giúp chúng ta sống.
For this reason the Church, especially during Advent and Lent and above all at the Easter Vigil, re-reads and re-lives the great events of salvation history in the "today" of her liturgy. But this also demands that catechesis help the faithful to open themselves to this spiritual understanding of the economy of salvation as the Church's liturgy reveals it and enables us to live it.
Phụng vụ Do Thái và Phụng vụ Kitô Giáo. Việc hiểu biết rõ hơn về đức tin và đời sống tôn giáo của dân Do Thái, như họ tuyên xưng và sống cho đến nay, có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn một số khía cạnh của phụng vụ Kitô Giáo. Đối với người Do Thái cũng như với Kitô hữu, Kinh Thánh là phần cốt yếu của cả hai nền phụng vụ: công bố Lời Chúa, đáp lại Lời Chúa, kinh nguyện ca ngợi và chuyển cầu cho người sống và kẻ chết, sự khẩn cầu lòng thương xót Chúa. Phụng vụ Lời Chúa, trong cơ cấu đặc trưng của nó, bắt nguồn từ phụng vụ Do Thái. Các Giờ Kinh phụng vụ cũng như các bản văn và công thức phụng vụ khác, cũng song song với phụng vụ Do Thái, kể cả các kinh nguyện đáng kính nhất của chúng ta, như kinh “Lạy Cha.” Các Kinh nguyện Thánh Thể cũng được cảm hứng từ những kiểu mẫu của truyền thống Do Thái. Liên hệ giữa phụng vụ Do Thái và phụng vụ Kitô Giáo, kể cả những khác biệt trong nội dung, có thể thấy rõ cách đặc biệt trong các ngày lễ lớn của Năm phụng vụ, như lễ Vượt Qua. Các Kitô hữu và người Do Thái cùng cử hành lễ Vượt Qua: đối với người Do Thái đó là lễ Vượt Qua của lịch sử hướng tới tương lai; còn đối với các Kitô hữu, lễ Vượt Qua đã được hoàn thành trong sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, tuy vẫn luôn trông đợi sự hoàn tất chung cuộc.
Jewish liturgy and Christian liturgy. A better knowledge of the Jewish people's faith and religious life as professed and lived even now can help our better understanding of certain aspects of Christian liturgy. For both Jews and Christians Sacred Scripture is an essential part of their respective liturgies: in the proclamation of the Word of God, the response to this word, prayer of praise and intercession for the living and the dead, invocation of God's mercy. In its characteristic structure the Liturgy of the Word originates in Jewish prayer. the Liturgy of the Hours and other liturgical texts and formularies, as well as those of our most venerable prayers, including the Lord's Prayer, have parallels in Jewish prayer. the Eucharistic Prayers also draw their inspiration from the Jewish tradition. the relationship between Jewish liturgy and Christian liturgy, but also their differences in content, are particularly evident in the great feasts of the liturgical year, such as Passover. Christians and Jews both celebrate the Passover. For Jews, it is the Passover of history, tending toward the future; for Christians, it is the Passover fulfilled in the death and Resurrection of Christ, though always in expectation of its definitive consummation.
Trong phụng vụ của Giao Ước Mới, mọi hoạt động phụng vụ, đặc biệt việc cử hành thánh lễ và các bí tích, đều là cuộc gặp gỡ giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Cộng đoàn phụng vụ được hợp nhất “nhờ ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần”, Đấng quy tụ các con cái Thiên Chúa trong Thân Thể duy nhất của Đức Kitô. Cộng đoàn này vượt trên các mối liên hệ phàm nhân, chủng tộc, văn hóa và xã hội.
In the liturgy of the New Covenant every liturgical action, especially the celebration of the Eucharist and the sacraments, is an encounter between Christ and the Church. the liturgical assembly derives its unity from the "communion of the Holy Spirit" who gathers the children of God into the one Body of Christ. This assembly transcends racial, cultural, social - indeed, all human affinities.
Cộng đoàn phải chuẩn bị để gặp gỡ Chúa mình, sao cho là một dân đã hoàn toàn sẵn sàng. Việc chuẩn bị các tâm hồn như vậy là công việc chung của Chúa Thánh Thần và của cộng đoàn, đặc biệt là của các thừa tác viên của cộng đoàn. Ân sủng của Chúa Thánh Thần tìm cách khơi dậy đức tin, sự hối cải tâm hồn và sự đồng thuận theo thánh ý Chúa Cha. Phải có những chuẩn bị này để có thể đón nhận những ân sủng khác được truyền thông trong chính việc cử hành, và các hoa trái của cuộc sống mới mà việc cử hành nhắm sản sinh ra sau đó.
The assembly should prepare itself to encounter its Lord and to become "a people well disposed." the preparation of hearts is the joint work of the Holy Spirit and the assembly, especially of its ministers. the grace of the Holy Spirit seeks to awaken faith, conversion of heart, and adherence to the Father's will. These dispositions are the precondition both for the reception of other graces conferred in the celebration itself and the fruits of new life which the celebration is intended to produce afterward.
Chúa Thánh Thần và Hội Thánh cùng cộng tác để Đức Kitô và công trình cứu độ của Người được biểu lộ trong phụng vụ. Đặc biệt trong bí tích Thánh Thể, và một cách tương tự trong các bí tích khác, phụng vụ là Sự Tưởng niệm mầu nhiệm cứu độ. Chúa Thánh Thần là ký ức sống động của Hội Thánh.
The Spirit and the Church cooperate to manifest Christ and his work of salvation in the liturgy. Primarily in the Eucharist, and by analogy in the other sacraments, the liturgy is the memorial of the mystery of salvation. the Holy Spirit is the Church's living memory.
Lời Chúa. Trước hết, Chúa Thánh Thần gợi cho cộng đoàn phụng vụ nhớ lại ý nghĩa của biến cố cứu độ khi Ngài ban sức sống cho Lời Chúa đang được loan báo, để chúng ta có thể đón nhận và sống Lời Chúa: “Trong cử hành phụng vụ, Thánh Kinh là hết sức quan trọng. Thật vậy, những bài trích từ Thánh Kinh được đọc lên, rồi được giải thích trong bài giảng, những Thánh vịnh trong Thánh Kinh được hát lên; và do sự gợi hứng và thúc đẩy của Thánh Kinh mà những lời kinh, lời nguyện và các bài phụng ca tuôn trào; và cũng từ Thánh Kinh mà các hành động cũng như các dấu chỉ có được ý nghĩa của chúng.”
The Word of God. the Holy Spirit first recalls the meaning of the salvation event to the liturgical assembly by giving life to the Word of God, which is proclaimed so that it may be received and lived:
Chúa Thánh Thần ban cho người đọc cũng như người nghe, tùy theo việc họ chuẩn bị tâm hồn, sự hiểu biết thiêng liêng về Lời Chúa. Qua các lời, các hành động và các biểu tượng, dệt thành việc cử hành, Chúa Thánh Thần đưa các tín hữu và các thừa tác viên vào trong tương quan sống động với Đức Kitô, là Lời và Hình Ảnh của Chúa Cha, để họ có thể làm sao cho ý nghĩa của các điều họ nghe, họ chiêm ngắm và họ hành động trong cuộc cử hành, được đưa vào trong đời sống của họ.
The Holy Spirit gives a spiritual understanding of the Word of God to those who read or hear it, according to the dispositions of their hearts. By means of the words, actions, and symbols that form the structure of a celebration, the Spirit puts both the faithful and the ministers into a living relationship with Christ, the Word and Image of the Father, so that they can live out the meaning of what they hear, contemplate, and do in the celebration.
“Chính Lời của ơn cứu độ nuôi dưỡng đức tin trong tâm hồn các tín hữu; nhờ đức tin đó mà cộng đoàn các tín hữu khởi đầu và lớn lên.” Việc loan báo Lời Chúa không dừng lại nơi một lời giảng dạy nào đó: nó đòi hỏi sự đáp lại của đức tin, xét như một ưng thuận và dấn thân, để có một Giao ước giữa Thiên Chúa với dân Ngài. Chúa Thánh Thần còn ban ơn đức tin, củng cố và làm tăng trưởng đức tin trong cộng đoàn. Cộng đoàn phụng vụ trước hết là sự hiệp thông trong đức tin.
"By the saving word of God, faith . . . is nourished in the hearts of believers. By this faith then the congregation of the faithful begins and grows." The proclamation does not stop with a teaching; it elicits the response of faith as consent and commitment, directed at the covenant between God and his people. Once again it is the Holy Spirit who gives the grace of faith, strengthens it and makes it grow in the community. the liturgical assembly is first of all a communion in faith.
Kinh Tưởng niệm (Anamnesis). Việc cử hành phụng vụ luôn quy chiếu về những lần can thiệp cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử. “Nhiệm cục mặc khải này được thực hiện bằng các việc làm và lời nói có liên hệ mật thiết với nhau, theo nghĩa là... các lời... công bố các việc làm và làm sáng tỏ mầu nhiệm được chứa đựng trong đó.” Trong phụng vụ Lời Chúa, Chúa Thánh Thần “nhắc” cho cộng đoàn “nhớ” tất cả những gì Đức Kitô đã làm cho chúng ta. Theo bản chất của các hành động phụng vụ và theo các truyền thống nghi lễ của các Giáo hội, việc cử hành “nhắc nhớ lại” kỳ công của Thiên Chúa trong phần Tưởng niệm (Anamnesis) được triển khai dài hay ngắn. Chúa Thánh Thần, Đấng nhắc cho Hội Thánh nhớ lại như vậy, cũng thúc giục Hội Thánh tạ ơn và ca ngợi (Doxologia).
Anamnesis. the liturgical celebration always refers to God's saving interventions in history. "The economy of Revelation is realized by deeds and words which are intrinsically bound up with each other.... (The) words for their part proclaim the works and bring to light the mystery they contain." In the Liturgy of the Word the Holy Spirit "recalls" to the assembly all that Christ has done for us. In keeping with the nature of liturgical actions and the ritual traditions of the churches, the celebration "makes a remembrance" of the marvelous works of God in an anamnesis which may be more or less developed. the Holy Spirit who thus awakens the memory of the Church then inspires thanksgiving and praise (doxology).
Phụng vụ Kitô Giáo không những gợi nhớ các biến cố đã giải thoát chúng ta, mà còn làm cho các biến cố đó hiện diện và tác động trong hiện tại. Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô được cử hành, chứ không phải được tái diễn; chỉ có các cuộc cử hành là được tái diễn; trong mỗi lần cử hành đều có sự tuôn đổ Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho mầu nhiệm duy nhất được hiện tại hóa.
Christian liturgy not only recalls the events that saved us but actualizes them, makes them present. the Paschal mystery of Christ is celebrated, not repeated. It is the celebrations that are repeated, and in each celebration there is an outpouring of the Holy Spirit that makes the unique mystery present.
Kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis - “khẩn cầu trên”) là lời khẩn cầu của vị tư tế nài xin Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần, Đấng Thánh Hóa đến, để các lễ vật trở thành Mình và Máu Đức Kitô, và khi lãnh nhận Mình Máu Thánh Chúa, chính các tín hữu cũng trở thành lễ vật sống động dâng lên Thiên Chúa.
The Epiclesis ("invocation upon") is the intercession in which the priest begs the Father to send the Holy Spirit, the Sanctifier, so that the offerings may become the body and blood of Christ and that the faithful by receiving them, may themselves become a living offering to God.
Cùng với kinh Tưởng Niệm (Anamnesis), kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis) nằm ở trung tâm mỗi cuộc cử hành bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể: “Bạn hỏi: làm thế nào Bánh trở nên Mình Đức Kitô và Rượu trở nên Máu Đức Kitô? Tôi xin thưa với bạn: Chúa Thánh Thần ngự đến và thực hiện những điều đó, những điều vượt trên mọi lời nói và mọi tư tưởng... Bạn chỉ cần nghe biết đó là bởi Chúa Thánh Thần; cũng như do Mẹ Thiên Chúa và bởi Chúa Thánh Thần, Chúa đã nhận lấy xác phàm cho Người và nơi chính mình Người.”
Together with the anamnesis, the epiclesis is at the heart of each sacramental celebration, most especially of the Eucharist:
Quyền năng biến đổi của Chúa Thánh Thần trong phụng vụ làm cho Nước Chúa mau đến và mầu nhiệm cứu độ chóng hoàn tất. Trong việc chờ đợi và trong niềm hy vọng, Ngài thật sự làm cho chúng ta được tham dự trước vào sự hiệp thông sung mãn của Thiên Chúa Ba Ngôi. Được Chúa Cha, Đấng nhận lời khẩn cầu của Hội Thánh, sai đến, Chúa Thánh Thần ban sự sống cho những ai đón nhận Ngài và ngay từ bây giờ, đối với những kẻ ấy, Ngài là “bảo chứng” phần gia nghiệp của họ.
The Holy Spirit's transforming power in the liturgy hastens the coming of the kingdom and the consummation of the mystery of salvation. While we wait in hope he causes us really to anticipate the fullness of communion with the Holy Trinity. Sent by the Father who hears the epiclesis of the Church, the Spirit gives life to those who accept him and is, even now, the "guarantee" of their inheritance.
Mục đích của sứ vụ Chúa Thánh Thần trong mọi hoạt động phụng vụ là để chúng ta được hiệp thông với Đức Kitô để làm nên Thân Thể Người. Chúa Thánh Thần như nhựa sống trong cây nho của Chúa Cha, mang lại hoa trái nơi các ngành nho. Trong phụng vụ, sự cộng tác mật thiết giữa Chúa Thánh Thần và Hội Thánh được thực hiện. Chính Ngài, Thần Khí của sự hiệp thông, luôn hiện diện trong Hội Thánh, và do đó, Hội Thánh là bí tích lớn của sự hiệp thông của Thiên Chúa, một bí tích quy tụ các con cái Thiên Chúa còn đang tản mác. Hoa trái của Chúa Thánh Thần trong phụng vụ là, một cách không thể tách rời, sự hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh và sự hiệp thông huynh đệ.
In every liturgical action the Holy Spirit is sent in order to bring us into communion with Christ and so to form his Body. the Holy Spirit is like the sap of the Father's vine which bears fruit on its branches. The most intimate cooperation of the Holy Spirit and the Church is achieved in the liturgy. the Spirit who is the Spirit of communion, abides indefectibly in the Church. For this reason the Church is the great sacrament of divine communion which gathers God's scattered children together. Communion with the Holy Trinity and fraternal communion are inseparably the fruit of the Spirit in the liturgy.
Kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis) cũng là lời nguyện xin cho cộng đoàn được hiệp thông trọn vẹn trong mầu nhiệm Đức Kitô. “Ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần” (2 Cr 13,13) phải luôn ở với chúng ta và đem lại hiệu quả vượt ra ngoài lúc cử hành thánh lễ. Vì vậy, Hội Thánh cầu xin Chúa Cha sai Chúa Thánh Thần đến để Ngài làm cho đời sống các tín hữu trở thành của lễ sống động dâng lên Thiên Chúa, nhờ sự biến đổi thiêng liêng theo hình ảnh Đức Kitô, nhờ chăm lo cho sự hợp nhất của Hội Thánh và nhờ tham dự vào sứ vụ của Hội Thánh bằng việc làm chứng và phục vụ bác ái.
The epiclesis is also a prayer for the full effect of the assembly's communion with the mystery of Christ. "The grace of the Lord Jesus Christ and the love of God and the fellowship of the Holy Spirit" have to remain with us always and bear fruit beyond the Eucharistic celebration. the Church therefore asks the Father to send the Holy Spirit to make the lives of the faithful a living sacrifice to God by their spiritual transformation into the image of Christ, by concern for the Church's unity, and by taking part in her mission through the witness and service of charity.
Trong phụng vụ của Hội Thánh, Chúa Cha được chúc tụng và tôn thờ với tư cách là nguồn mạch mọi chúc lành trong công trình tạo dựng và cứu độ; qua đó Ngài đã chúc lành cho chúng ta trong Con của Ngài để ban Thần Khí nghĩa tử cho chúng ta.
In the liturgy of the Church, God the Father is blessed and adored as the source of all the blessings of creation and salvation with which he has blessed us in his Son, in order to give us the Spirit of filial adoption.
Công trình của Đức Kitô trong phụng vụ mang tính bí tích bởi vì mầu nhiệm cứu độ của Người được quyền năng Chúa Thánh Thần làm cho hiện diện; bởi vì Thân Thể của Người là Hội Thánh cũng là bí tích (dấu chỉ và dụng cụ) nhờ đó Chúa Thánh Thần ban phát mầu nhiệm cứu độ; và bởi vì Hội Thánh lữ hành, qua các hành động phụng vụ của mình, được tham dự như nếm trước Phụng vụ thiên quốc.
Christ's work in the liturgy is sacramental: because his mystery of salvation is made present there by the power of his Holy Spirit; because his Body, which is the Church, is like a sacrament (sign and instrument) in which the Holy Spirit dispenses the mystery of salvation; and because through her liturgical actions the pilgrim Church already participates, as by a foretaste, in the heavenly liturgy.
Sứ vụ của Chúa Thánh Thần trong phụng vụ của Hội Thánh là chuẩn bị cho cộng đoàn gặp gỡ Đức Kitô; là nhắc nhớ và làm tỏ hiện Đức Kitô cho đức tin của cộng đoàn; là, nhờ quyền năng biến đổi của Ngài, làm cho công trình cứu độ của Đức Kitô hiện diện và tác động trong hiện tại, và làm cho hồng ân hiệp thông được sinh hoa kết quả trong Hội Thánh.
The mission of the Holy Spirit in the liturgy of the Church is to prepare the assembly to encounter Christ; to recall and manifest Christ to the faith of the assembly; to make the saving work of Christ present and active by his transforming power; and to make the gift of communion bear fruit in the Church.