Hỏi Đáp Công Giáo
Đời Sống Trong Đức Kitô · Mười điều răn · “Ngươi phải yêu thương người lân cận như chính mình”
MỤC 6

Điều răn thứ sáu

Số 2331–2400
2331

“Thiên Chúa là tình yêu và nơi Ngài, Ngài sống mầu nhiệm của sự hiệp thông ngôi vị trong tình yêu. Khi tạo dựng bản tính con người theo hình ảnh mình, có nam có nữ, Thiên Chúa khắc ghi vào bản tính ấy ơn gọi, cùng với khả năng và trách nhiệm sống trong tình yêu và sự hiệp thông.” “Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh mình... Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ” (St 1,27). “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều” (St 1,28). “Ngày Thiên Chúa tạo dựng con người, Thiên Chúa làm ra con người giống như Thiên Chúa. Chúa tạo dựng con người có nam có nữ, Chúa ban phúc lành cho họ và đặt tên cho họ là ‘người’, ngày họ được tạo dựng” (St 5,1-2).

"God is love and in himself he lives a mystery of personal loving communion. Creating the human race in his own image . . .. God inscribed in the humanity of man and woman the vocation, and thus the capacity and responsibility, of love and communion."

2332

Tính dục ảnh hưởng trên mọi phương diện của nhân vị, trong sự hợp nhất của linh hồn và thân xác của nó. Tính dục đặc biệt liên quan đến sức mạnh tình cảm, khả năng yêu thương và sinh sản, và một cách tổng quát hơn, khả năng kết nối các mối dây hiệp thông với người khác.

Sexuality affects all aspects of the human person in the unity of his body and soul. It especially concerns affectivity, the capacity to love and to procreate, and in a more general way the aptitude for forming bonds of communion with others.

2333

Mỗi người, nam cũng như nữ, phải nhận biết và chấp nhận căn tính tính dục của mình. Sự khác biệt và sự bổ sung về thể lý, luân lý và tinh thần hướng đến lợi ích của hôn nhân và sự phát triển đời sống gia đình. Sự hài hòa của đôi phối ngẫu và của xã hội tùy thuộc phần nào vào cách thực hiện trong đời sống: sự bổ sung giữa các phái tính, sự cần đến nhau và sự trợ giúp lẫn nhau.

Everyone, man and woman, should acknowledge and accept his sexual identity. Physical, moral, and spiritual difference and complementarity are oriented toward the goods of marriage and the flourishing of family life. the harmony of the couple and of society depends in part on the way in which the complementarity, needs, and mutual support between the sexes are lived out.

2334

“Khi tạo dựng con người ‘có nam có nữ’, Thiên Chúa đã ban cho người nam và người nữ sự bình đẳng về nhân phẩm.” “Con người là một nhân vị, người nam và người nữ bình đẳng với nhau: cả hai được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa hữu ngã (personalis).”

"In creating men 'male and female,' God gives man and woman an equal personal dignity." "Man is a person, man and woman equally so, since both were created in the image and likeness of the personal God."

2335

Mỗi một trong hai phái tính, bình đẳng về phẩm giá, dù theo cách thức khác nhau, đều là hình ảnh của quyền năng và lòng yêu thương của Thiên Chúa. Sự kết hợp giữa người nam và người nữ trong hôn nhân là một cách nào đó, nơi thân xác, mô phỏng lòng quảng đại và sự phong phú của Đấng Tạo Hóa: “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24). Chính từ sự kết hợp này xuất phát mọi thế hệ con người.

Each of the two sexes is an image of the power and tenderness of God, with equal dignity though in a different way. the union of man and woman in marriage is a way of imitating in the flesh the Creator's generosity and fecundity: "Therefore a man leaves his father and his mother and cleaves to his wife, and they become one flesh." All human generations proceed from this union.

2336

Chúa Giêsu đã đến phục hồi cho thụ tạo tình trạng tinh tuyền nguyên thủy của nó. Trong Bài giảng trên núi, Người đã giải thích cách chính xác ý định của Thiên Chúa: “Anh em đã nghe luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,27-28). “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân ly.” Truyền thống của Hội Thánh đã hiểu: điều răn thứ sáu đề cập đến mọi lãnh vực về tính dục của con người.

Jesus came to restore creation to the purity of its origins. In the Sermon on the Mount, he interprets God's plan strictly: "You have heard that it was said, 'You shall not commit adultery.' But I say to you that every one who looks at a woman lustfully has already committed adultery with her in his heart." What God has joined together, let not man put asunder. The tradition of the Church has understood the sixth commandment as encompassing the whole of human sexuality.

2337

Sự khiết tịnh là việc hòa nhập thành công tính dục trong nhân vị, và qua đó, là sự thống nhất nội tâm của con người là thực tại vừa thể xác, vừa tinh thần. Tính dục là nơi biểu lộ sự tùy thuộc của con người vào thế giới vật chất và sinh học; nó trở thành cá vị (personalis) và thật sự nhân bản (humana) khi gắn với tương quan giữa người với người, trong việc hiến thân cho nhau trọn vẹn và vĩnh viễn giữa người nam và người nữ. Như vậy, nhân đức khiết tịnh bao gồm toàn bộ nhân vị và sự trọn vẹn của việc hiến thân.

Chastity means the successful integration of sexuality within the person and thus the inner unity of man in his bodily and spiritual being. Sexuality, in which man's belonging to the bodily and biological world is expressed, becomes personal and truly human when it is integrated into the relationship of one person to another, in the complete and lifelong mutual gift of a man and a woman. The virtue of chastity therefore involves the integrity of the person and the integrality of the gift.

2338

Người khiết tịnh giữ được toàn bộ sức mạnh của sự sống và tình yêu, đã được đặt nơi con người mình. Sự toàn vẹn này bảo đảm sự thống nhất của nhân vị, chống lại mọi thái độ làm tổn thương đến sự thống nhất đó. Nó không chấp nhận cuộc sống hai mặt, lời nói hai ý.

The chaste person maintains the integrity of the powers of life and love placed in him. This integrity ensures the unity of the person; it is opposed to any behavior that would impair it. It tolerates neither a double life nor duplicity in speech.

2339

Đức khiết tịnh bao hàm việc tập luyện sự tự chủ, tức là một cách tập luyện để sống sự tự do của con người. Lựa chọn là điều rõ ràng: con người hoặc chế ngự các đam mê của mình và được bình an; hoặc để chúng bắt mình làm nô lệ và trở nên bất hạnh. “Phẩm giá con người đòi họ phải hành động theo một sự lựa chọn có ý thức và tự do, một cách cá vị, nghĩa là được thúc đẩy và được hướng dẫn từ bên trong, chứ không phải dưới sự thôi thúc mù quáng bên trong hoặc chỉ dưới sự cưỡng chế bên ngoài. Con người đạt đến phẩm giá đó khi, nhờ tự giải thoát khỏi mọi nô dịch cho các đam mê, nhờ tự do lựa chọn điều thiện, con người theo đuổi mục đích của mình và một cách hữu hiệu, tìm được cho mình sự trợ giúp thích hợp và sự chuyên cần thành thạo.”

Chastity includes an apprenticeship in self-mastery which is a training in human freedom. the alternative is clear: either man governs his passions and finds peace, or he lets himself be dominated by them and becomes unhappy. "Man's dignity therefore requires him to act out of conscious and free choice, as moved and drawn in a personal way from within, and not by blind impulses in himself or by mere external constraint. Man gains such dignity when, ridding himself of all slavery to the passions, he presses forward to his goal by freely choosing what is good and, by his diligence and skill, effectively secures for himself the means suited to this end."

2340

Ai muốn trung thành với những lời hứa khi lãnh Phép Rửa và chống lại các cơn cám dỗ, phải dùng những phương thế tương ứng: phải biết mình, thực tập việc khổ chế thích hợp với hoàn cảnh mình đang sống, tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa, thực hành các nhân đức luân lý và trung thành với việc cầu nguyện. “Nhờ sự tiết dục, chúng ta được quy tụ lại và tìm lại được sự thống nhất bản thân, mà từ đó chúng ta đã bị phân tán thành nhiều mảnh.”

Whoever wants to remain faithful to his baptismal promises and resist temptations will want to adopt the means for doing so: self-knowledge, practice of an ascesis adapted to the situations that confront him, obedience to God's commandments, exercise of the moral virtues, and fidelity to prayer. "Indeed it is through chastity that we are gathered together and led back to the unity from which we were fragmented into multiplicity."

2341

Đức khiết tịnh phụ thuộc nhân đức trụ là đức tiết độ, là nhân đức dùng lý trí để hướng dẫn các đam mê và các ước muốn của giác quan con người.

The virtue of chastity comes under the cardinal virtue of temperance, which seeks to permeate the passions and appetites of the senses with reason.

2342

Sự tự chủ là một công việc bền bỉ lâu dài, không bao giờ được coi như đã đạt tới một lần là xong. Sự tự chủ bao hàm sự cố gắng đi cố gắng lại trong mọi độ tuổi của cuộc đời. Có thể ở một số giai đoạn nào đó đòi phải cố gắng nhiều hơn, như khi nhân cách được hình thành, trong tuổi thiếu niên và thanh niên (x. Tt 2,1-6).

Self-mastery is a long and exacting work. One can never consider it acquired once and for all. It presupposes renewed effort at all stages of life. The effort required can be more intense in certain periods, such as when the personality is being formed during childhood and adolescence.

2343

Đức khiết tịnh cũng có những quy luật tăng trưởng, phải trải qua những bất toàn và rất thường là tội lỗi nữa. Con người khiết tịnh và say mê nhân đức “ngày qua ngày, như được hình thành bằng nhiều lựa chọn tự do: nhờ đó họ nhận biết, yêu mến và chu toàn điều thiện luân lý qua những giai đoạn tăng trưởng của họ.”

Chastity has laws of growth which progress through stages marked by imperfection and too often by sin. "Man . . . day by day builds himself up through his many free decisions; and so he knows, loves, and accomplishes moral good by stages of growth."

2344

Đức khiết tịnh là một công việc hết sức cá vị, nhưng cũng bao hàm một nỗ lực về văn hóa, bởi vì quả thật “sự thăng tiến của nhân vị và sự phát triển của chính xã hội lệ thuộc lẫn nhau.” Đức khiết tịnh giả thiết sự tôn trọng đối với các quyền con người, đặc biệt quyền được đón nhận thông tin và sự giáo dục, để biết tôn trọng các giá trị luân lý và tinh thần của đời sống con người.

Chastity represents an eminently personal task; it also involves a cultural effort, for there is "an interdependence between personal betterment and the improvement of society." Chastity presupposes respect for the rights of the person, in particular the right to receive information and an education that respect the moral and spiritual dimensions of human life.

2345

Khiết tịnh là một nhân đức luân lý. Nhưng đó cũng là hồng ân của Thiên Chúa, là ân sủng, là hoa trái của Thần Khí. Chúa Thánh Thần ban cho người đã được tái sinh nhờ nước Rửa Tội, có khả năng mô phỏng sự trong sạch của Đức Kitô.

Chastity is a moral virtue. It is also a gift from God, a grace, a fruit of spiritual effort. The Holy Spirit enables one whom the water of Baptism has regenerated to imitate the purity of Christ.

2346

Đức mến là mô thể của mọi nhân đức. Dưới ảnh hưởng của đức mến, đức khiết tịnh như là trường dạy việc hiến thân. Sự tự chủ được quy hướng tới sự tự hiến. Đức khiết tịnh hướng dẫn người thực thi nhân đức đó, để họ trở thành chứng nhân về lòng trung tín và yêu thương của Thiên Chúa trước mặt người lân cận.

Charity is the form of all the virtues. Under its influence, chastity appears as a school of the gift of the person. Self-mastery is ordered to the gift of self. Chastity leads him who practices it to become a witness to his neighbor of God's fidelity and loving kindness.

2347

Đức khiết tịnh nảy nở trong tình bằng hữu. Nhân đức này chỉ cho người môn đệ biết làm thế nào để bước theo và bắt chước Đấng đã chọn chúng ta như bạn hữu riêng của Người, đã tự hiến trọn vẹn cho chúng ta và cho chúng ta tham dự vào thần tính của Người. Đức khiết tịnh là lời hứa của sự bất tử. Đức khiết tịnh được biểu lộ cách đặc biệt trong tình bằng hữu đối với người lân cận. Tình bằng hữu, được triển nở giữa những người cùng phái hoặc khác phái, là điều thiện hảo lớn lao cho mọi người. Tình bằng hữu dẫn đến sự hiệp thông tinh thần.

The virtue of chastity blossoms in friendship. It shows the disciple how to follow and imitate him who has chosen us as his friends, who has given himself totally to us and allows us to participate in his divine estate. Chastity is a promise of immortality. Chastity is expressed notably in friendship with one's neighbor. Whether it develops between persons of the same or opposite sex, friendship represents a great good for all. It leads to spiritual communion.

2348

Mọi người đã được rửa tội đều được kêu gọi sống khiết tịnh. Kitô hữu đã mặc lấy Đức Kitô, khuôn mẫu của mọi đời sống khiết tịnh. Tất cả các Kitô hữu đều được kêu gọi sống đời khiết tịnh tùy theo bậc sống riêng của mình. Khi lãnh nhận Phép Rửa, Kitô hữu đã cam kết điều khiển sức mạnh tình cảm của mình trong đức khiết tịnh.

All the baptized are called to chastity. the Christian has "put on Christ," The model for all chastity. All Christ's faithful are called to lead a chaste life in keeping with their particular states of life. At the moment of his Baptism, the Christian is pledged to lead his affective life in chastity.

2349

“Người ta phải được tô điểm bằng đức khiết tịnh tùy theo bậc sống khác nhau: có người thì tuyên giữ trinh khiết hay độc thân thánh hiến cho Thiên Chúa, nhờ cách thức trổi vượt này, họ có thể kết hợp với Thiên Chúa cách dễ dàng hơn nhờ một trái tim không chia sẻ; có người lại sống theo hình thức đã được luật luân lý đặt ra cho mọi người, hoặc được kết hợp bằng hôn nhân hoặc sống độc thân.” Những người đã được liên kết bằng hôn nhân được kêu gọi sống đức khiết tịnh phu phụ; còn những người khác thì vun trồng đức khiết tịnh trong sự tiết dục. “Có ba hình thức sống đức khiết tịnh: một là của bậc phu phụ, thứ đến của người góa bụa và thứ ba là của kẻ đồng trinh. Chúng ta không ca tụng hình thức này mà loại bỏ hình thức khác... Chính ở điểm này, kỷ luật của Hội Thánh rất phong phú.”

"People should cultivate [chastity] in the way that is suited to their state of life. Some profess virginity or consecrated celibacy which enables them to give themselves to God alone with an undivided heart in a remarkable manner. Others live in the way prescribed for all by the moral law, whether they are married or single." Married people are called to live conjugal chastity; others practice chastity in continence:

2350

Những người đã đính hôn được kêu gọi vun trồng đức khiết tịnh trong sự tiết dục. Trong thời gian thử thách này, họ sẽ học biết tôn trọng lẫn nhau, tập chung thủy và hy vọng được đón nhận nhau từ Thiên Chúa. Họ phải dành những cách biểu lộ lòng âu yếm, là đặc trưng của tình yêu phu phụ, cho đến lúc đã thành hôn. Họ phải giúp nhau lớn lên trong sự khiết tịnh.

Those who are engaged to marry are called to live chastity in continence. They should see in this time of testing a discovery of mutual respect, an apprenticeship in fidelity, and the hope of receiving one another from God. They should reserve for marriage the expressions of affection that belong to married love. They will help each other grow in chastity.

2351

Mê dâm dục là sự ham muốn vô trật tự hay hưởng thụ vô độ khoái lạc tình dục. Khoái lạc tình dục là vô trật tự về mặt luân lý, khi chỉ tìm khoái lạc để hưởng thụ, chứ không nhằm mục đích sinh sản và kết hợp trong tình yêu.

Lust is disordered desire for or inordinate enjoyment of sexual pleasure. Sexual pleasure is morally disordered when sought for itself, isolated from its procreative and unitive purposes.

2352

Thủ dâm hiểu là việc chủ ý kích thích cơ quan sinh dục để đạt được khoái lạc tình dục. “Dựa theo truyền thống bền vững, cả Huấn quyền cả cảm thức luân lý của các Kitô hữu, không hoài nghi khẳng định rằng, thủ dâm là một hành vi tự bản chất là vô trật tự cách nghiêm trọng.” “Với bất cứ lý do nào, việc chủ ý sử dụng khả năng tình dục ngoài quan hệ phu phụ đúng đắn cũng là sai mục đích của nó.” Ở đây là tìm khoái lạc tình dục bên ngoài quan hệ tình dục, “theo luật luân lý đòi hỏi, là quan hệ thực hiện việc hiến thân trọn vẹn cho nhau và việc sinh sản con người trong khuôn khổ của tình yêu đích thực.” Để có phán đoán đúng đắn về trách nhiện luân lý của đương sự, cũng như đưa ra một đường hướng mục vụ, cần lưu ý đến tình trạng thiếu trưởng thành tình cảm, áp lực của các thói quen đã có, tâm trạng lo âu cũng như những yếu tố khác về tâm lý và xã hội. Các nhân tố trên có thể làm cho sự quy tội luân lý được giảm nhẹ, thậm chí đến mức tối thiểu.

By masturbation is to be understood the deliberate stimulation of the genital organs in order to derive sexual pleasure. "Both the Magisterium of the Church, in the course of a constant tradition, and the moral sense of the faithful have been in no doubt and have firmly maintained that masturbation is an intrinsically and gravely disordered action." "The deliberate use of the sexual faculty, for whatever reason, outside of marriage is essentially contrary to its purpose." For here sexual pleasure is sought outside of "the sexual relationship which is demanded by the moral order and in which the total meaning of mutual self-giving and human procreation in the context of true love is achieved." To form an equitable judgment about the subjects' moral responsibility and to guide pastoral action, one must take into account the affective immaturity, force of acquired habit, conditions of anxiety, or other psychological or social factors that lessen or even extenuate moral culpability.

2353

Gian dâm là quan hệ xác thịt ngoài hôn nhân giữa một người nam và một người nữ còn tự do. Tội này trái nghịch cách nghiêm trọng với nhân phẩm và tính dục của con người, vốn tự nhiên quy hướng tới lợi ích của đôi phối ngẫu cũng như tới việc sinh sản và giáo dục con cái. Ngoài ra, gian dâm còn là một gương xấu nghiêm trọng, khi làm băng hoại giới trẻ.

Fornication is carnal union between an unmarried man and an unmarried woman. It is gravely contrary to the dignity of persons and of human sexuality which is naturally ordered to the good of spouses and the generation and education of children. Moreover, it is a grave scandal when there is corruption of the young.

2354

Hình ảnh khiêu dâm cốt tại việc đem những hành vi tính dục, có thật hay giả vờ, ra khỏi vòng thân mật của những người trong cuộc, chủ ý phơi bày cho những người khác. Hình ảnh khiêu dâm xúc phạm đến đức khiết tịnh, bởi vì làm biến chất hành vi phu phụ, sự tự hiến thân mật cho nhau của đôi phối ngẫu. Chúng xúc phạm cách nghiêm trọng đến phẩm giá của những người tham gia vào đó (diễn viên, kẻ kinh doanh, khán giả), bởi vì người này trở thành đối tượng mua vui thô lỗ và là nguồn lợi nhuận bất chính cho người khác. Hình ảnh khiêu dâm dìm hết người này đến người khác vào sự ảo tưởng của thế giới giả trá. Đó là một trọng tội. Chính quyền phải ngăn cấm việc sản xuất và phổ biến những hình ảnh khiêu dâm này.

Pornography consists in removing real or simulated sexual acts from the intimacy of the partners, in order to display them deliberately to third parties. It offends against chastity because it perverts the conjugal act, the intimate giving of spouses to each other. It does grave injury to the dignity of its participants (actors, vendors, the public), since each one becomes an object of base pleasure and illicit profit for others. It immerses all who are involved in the illusion of a fantasy world. It is a grave offense. Civil authorities should prevent the production and distribution of pornographic materials.

2355

Mại dâm làm tổn thương phẩm giá của người làm nghề này, biến phẩm giá đó thành dụng cụ cho khoái lạc xác thịt. Người trả tiền [mua dâm] phạm tội cách nghiêm trọng nghịch với chính bản thân: họ phá hủy đức khiết tịnh mà bí tích Rửa Tội đòi buộc, và làm ô uế thân xác của mình là đền thờ Chúa Thánh Thần. Mại dâm là một tai họa cho xã hội. Thường thì liên quan đến người nữ, nhưng cũng có người nam, thiếu nhi hoặc thiếu niên (trong hai trường hợp sau, lại có thêm tội gây gương xấu). Mặc dù hành nghề mại dâm luôn là trọng tội, nhưng sự khốn cùng, những hăm dọa và sự thúc đẩy của xã hội có thể làm giảm thiểu tính quy tội của tội lỗi.

Prostitution does injury to the dignity of the person who engages in it, reducing the person to an instrument of sexual pleasure. the one who pays sins gravely against himself: he violates the chastity to which his Baptism pledged him and defiles his body, the temple of the Holy Spirit. Prostitution is a social scourge. It usually involves women, but also men, children, and adolescents (The latter two cases involve the added sin of scandal.). While it is always gravely sinful to engage in prostitution, the imputability of the offense can be attenuated by destitution, blackmail, or social pressure.

2356

Hiếp dâm là dùng sức mạnh, với bạo lực, bắt kẻ khác quan hệ tính dục với mình. Tội này làm tổn thương đức công bằng và đức mến. Hiếp dâm xúc phạm sâu xa đến quyền của mỗi người là quyền được tôn trọng, quyền tự do và quyền được toàn vẹn về thể lý và luân lý. Tội này gây thương tổn nghiêm trọng, có thể ảnh hưởng đến suốt cuộc đời của nạn nhân. Hành vi này luôn là một điều xấu từ bản chất. Hiếp dâm lại càng nghiêm trọng hơn, khi cha mẹ (x. tội loạn luân) hay những người giáo dục hiếp dâm các trẻ em được ủy thác cho họ.

Rape is the forcible violation of the sexual intimacy of another person. It does injury to justice and charity. Rape deeply wounds the respect, freedom, and physical and moral integrity to which every person has a right. It causes grave damage that can mark the victim for life. It is always an intrinsically evil act. Graver still is the rape of children committed by parents (incest) or those responsible for the education of the children entrusted to them.

2357

Đồng tính luyến ái là những liên hệ giữa những người nam hay những người nữ, cảm thấy sự hấp dẫn tính dục, độc chiếm (exclusive) hoặc vượt trội (praevalenter) đối với những người cùng phái tính. Đồng tính luyến ái mang những hình thức rất khác nhau qua các thế kỷ và các nền văn hóa. Nguồn gốc tâm thần của hiện tượng này phần lớn vẫn chưa giải thích được. Dựa trên Thánh Kinh, vốn xem chúng như những suy đồi nghiêm trọng, truyền thống Hội Thánh luôn tuyên bố: “Các hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là vô trật tự.” Chúng nghịch với luật tự nhiên. Chúng khép kín hành vi tính dục khỏi việc ban tặng sự sống. Chúng không phát xuất từ tính bổ sung thật sự về tình cảm và tính dục. Những hành vi này không thể chấp nhận được trong bất cứ trường hợp nào.

Homosexuality refers to relations between men or between women who experience an exclusive or predominant sexual attraction toward persons of the same sex. It has taken a great variety of forms through the centuries and in different cultures. Its psychological genesis remains largely unexplained. Basing itself on Sacred Scripture, which presents homosexual acts as acts of grave depravity, tradition has always declared that "homosexual acts are intrinsically disordered." They are contrary to the natural law. They close the sexual act to the gift of life. They do not proceed from a genuine affective and sexual complementarity. Under no circumstances can they be approved.

2358

Một số không nhỏ những người nam và người nữ có khuynh hướng đồng tính luyến ái thâm căn. Đối với đa số những người này, sự nghiêng chiều vô trật tự một cách khách quan đó, là một thử thách. Họ phải được đón nhận với sự tôn trọng, thông cảm và tế nhị. Phải tránh bất cứ dấu hiệu phân biệt đối xử bất công nào đối với họ. Những người này được kêu gọi thực hiện ý Thiên Chúa trong cuộc sống của mình, và, nếu là Kitô hữu, họ được kêu gọi kết hợp các khó khăn họ có thể gặp phải do hoàn cảnh của mình, với hy lễ thập giá của Chúa.

The number of men and women who have deep-seated homosexual tendencies is not negligible. This inclination, which is objectively disordered, constitutes for most of them a trial. They must be accepted with respect, compassion, and sensitivity. Every sign of unjust discrimination in their regard should be avoided. These persons are called to fulfill God's will in their lives and, if they are Christians, to unite to the sacrifice of the Lord's Cross the difficulties they may encounter from their condition.

2359

Những người đồng tính luyến ái được kêu gọi sống khiết tịnh. Nhờ các nhân đức giúp tự chủ dạy cho biết sự tự do nội tâm, và có khi nhờ sự nâng đỡ của tình bằng hữu vô vị lợi, nhờ việc cầu nguyện và ân sủng bí tích, chính họ có thể và phải dần dần và cương quyết tiến đến sự trọn hảo Kitô Giáo.

Homosexual persons are called to chastity. By the virtues of self-mastery that teach them inner freedom, at times by the support of disinterested friendship, by prayer and sacramental grace, they can and should gradually and resolutely approach Christian perfection.

2360

Tính dục quy hướng tới tình yêu phu phụ giữa người nam và người nữ. Trong hôn nhân, sự ái ân thể xác của đôi phối ngẫu trở thành dấu chỉ và bảo chứng của sự hiệp thông tinh thần. Giữa những người đã chịu Phép Rửa, dây liên kết hôn nhân được thánh hóa bằng một bí tích.

Sexuality is ordered to the conjugal love of man and woman. In marriage the physical intimacy of the spouses becomes a sign and pledge of spiritual communion. Marriage bonds between baptized persons are sanctified by the sacrament.

2361

“Tính dục..., qua đó người nam và người nữ hiến thân cho nhau bằng những hành vi riêng và đặc trưng của đôi phối ngẫu, không chỉ là một cái gì đó thuần túy sinh học, nhưng nó đụng chạm đến phần thâm sâu nhất của nhân vị. Tính dục chỉ được thực hiện một cách nhân bản đích thực, nếu nó là một phần để hoàn thành tình yêu, qua đó người nam và người nữ cam kết hiến thân trọn vẹn cho nhau cho đến chết”: “Tôbia ngồi dậy, ra khỏi giường và nói với Xara: ‘Đứng lên, em! Chúng ta hãy cầu nguyện nài xin Chúa để Ngài xót thương và ban ơn cứu độ cho chúng ta’. Cô đứng lên, rồi cả hai bắt đầu cầu nguyện và nài xin cho mình được cứu độ. Tôbia bắt đầu như sau: ‘Lạy Thiên Chúa của tổ tiên chúng con, xin chúc tụng Chúa... Chính Chúa đã dựng nên ông Ađam, dựng nên cho ông một người trợ giúp và nâng đỡ là bà Evà, vợ ông. Và dòng dõi loài người đã sinh ra từ hai ông bà. Chính Chúa đã nói: Con người ở một mình thì không tốt, Ta sẽ làm cho nó một người trợ giúp giống như nó. Giờ đây, không phải vì lòng dục mà con lấy em con đây, nhưng vì lòng chân thành. Xin Chúa đoái thương con và em con, cho chúng con được chung sống bên nhau đến tuổi già’. Rồi họ đồng thanh nói: ‘Amen, Amen!’. Sau đó, họ ngủ luôn cho đến sáng” (Tb 8,4-9).

"Sexuality, by means of which man and woman give themselves to one another through the acts which are proper and exclusive to spouses, is not something simply biological, but concerns the innermost being of the human person as such. It is realized in a truly human way only if it is an integral part of the love by which a man and woman commit themselves totally to one another until death."

2362

“Những hành vi..., qua đó đôi phối ngẫu kết hợp với nhau cách thân mật và khiết tịnh, đều ngay chính và xứng đáng, và khi được thực hiện cách thật sự nhân bản, những hành vi ấy biểu thị và khích lệ sự hiến thân cho nhau, nhờ đó hai người làm cho nhau thêm phong phú trong tâm tình vui mừng và biết ơn.” Tính dục là nguồn mạch của sự hoan lạc và thú vui. “Chính Đấng Tạo Hóa... cũng đã sắp đặt để, trong nhiệm vụ sinh sản, đôi phối ngẫu gặp được thú vui và hạnh phúc cả thân xác cả tinh thần. Vì vậy, đôi phối ngẫu chẳng làm điều gì xấu, khi tìm kiếm và tận hưởng thú vui đó. Họ đón nhận những gì Đấng Tạo hóa đã nhắm ban cho họ. Tuy nhiên, đôi phối ngẫu cũng phải biết giữ mình trong những giới hạn của sự tiết độ chính đáng.”

"The acts in marriage by which the intimate and chaste union of the spouses takes place are noble and honorable; the truly human performance of these acts fosters the self-giving they signify and enriches the spouses in joy and gratitude." Sexuality is a source of joy and pleasure:

2363

Nhờ sự kết hợp của đôi phối ngẫu, mục đích kép của hôn nhân được thể hiện: lợi ích của chính đôi phối ngẫu và sự lưu truyền sự sống. Không thể tách biệt hai ý nghĩa hoặc hai giá trị này của hôn nhân, mà không làm biến chất đời sống tinh thần của đôi phối ngẫu cũng như phương hại đến những lợi ích của hôn nhân và tương lai của gia đình. Như vậy, tình yêu phu phụ của người nam và người nữ được đặt dưới một đòi hỏi kép là sự chung thủy và sự sinh sản con cái.

The spouses' union achieves the twofold end of marriage: the good of the spouses themselves and the transmission of life. These two meanings or values of marriage cannot be separated without altering the couple's spiritual life and compromising the goods of marriage and the future of the family. The conjugal love of man and woman thus stands under the twofold obligation of fidelity and fecundity.

2364

Đôi phối ngẫu làm nên “cộng đồng thân mật của sự sống và tình yêu phu phụ, đã được Đấng Tạo hóa thiết lập và ban cho những luật lệ riêng. Cộng đồng đó được thiết lập bằng giao ước của đôi phối ngẫu, nghĩa là bằng sự ưng thuận cá vị không thể thu hồi.” Cả hai hiến thân cho nhau cách vĩnh viễn và trọn vẹn. Họ không còn là hai, nhưng đã trở thành một thân xác duy nhất. Giao ước đã được đôi phối ngẫu ký kết cách tự do, buộc họ có bổn phận phải bảo tồn sự duy nhất và bất khả phân ly của giao ước đó. “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,9).

The married couple forms "the intimate partnership of life and love established by the Creator and governed by his laws; it is rooted in the conjugal covenant, that is, in their irrevocable personal consent." Both give themselves definitively and totally to one another. They are no longer two; from now on they form one flesh. the covenant they freely contracted imposes on the spouses the obligation to preserve it as unique and indissoluble. "What therefore God has joined together, let not man put asunder."

2365

Lòng chung thủy diễn tả sự kiên trì tuân giữ lời đã cam kết. Thiên Chúa là Đấng trung tín. Bí tích Hôn Phối dẫn đưa người nam và người nữ vào sự trung tín của Đức Kitô đối với Hội Thánh Người. Nhờ sự khiết tịnh phu phụ, họ làm chứng về mầu nhiệm đó trước mặt trần gian. Thánh Gioan Kim Khẩu gợi ý cho các bạn trẻ lập gia đình nói những lời sau đây với vợ họ: “Anh ôm em và anh yêu em, anh quý em hơn cả linh hồn mình. Vì cuộc sống hiện tại chẳng là gì hết, nên anh cầu nguyện, anh nài xin, và anh làm mọi sự, sao cho chúng ta được coi là xứng đáng khi sống cuộc sống hiện tại, hầu chúng ta cũng có thể được như vậy trong cuộc sống đời sau, để được kết hợp với nhau trong sự an toàn trọn hảo... Anh đặt tình yêu của em lên trên tất cả; và sẽ chẳng có gì làm cho anh khổ tâm hơn là anh phải lìa xa em.”

Fidelity expresses constancy in keeping one's given word. God is faithful. the Sacrament of Matrimony enables man and woman to enter into Christ's fidelity for his Church. Through conjugal chastity, they bear witness to this mystery before the world.

2366

Sự sinh sản là một hồng ân, một mục đích của hôn nhân, bởi vì tình yêu phu phụ tự nhiên hướng về việc sinh sản. Đứa con không phải là cái gì từ bên ngoài được thêm vào tình yêu hỗ tương của đôi phối ngẫu; nó xuất hiện ngay ở trọng tâm của việc hai người hiến thân cho nhau; nó là hoa trái và là sự hoàn thành của việc hiến thân cho nhau đó. Như vậy, Hội Thánh, vốn “đứng về phe sự sống”, dạy rằng “bất cứ hành vi hôn nhân nào, tự nó, vẫn luôn được nhắm đến việc sinh sản sự sống con người.” “Đạo lý này, thường được Huấn quyền trình bày, dựa trên sự liên kết bất khả phân ly, do Thiên Chúa ấn định, điều mà con người không được phép tự ý cắt đứt, giữa ý nghĩa kết hợp và ý nghĩa sinh sản, cả hai đều thuộc về một hành vi phu phụ.”

Fecundity is a gift, an end of marriage, for conjugal love naturally tends to be fruitful. A child does not come from outside as something added on to the mutual love of the spouses, but springs from the very heart of that mutual giving, as its fruit and fulfillment. So the Church, which "is on the side of life" teaches that "each and every marriage act must remain open 'per se' to the transmission of life." "This particular doctrine, expounded on numerous occasions by the Magisterium, is based on the inseparable connection, established by God, which man on his own initiative may not break, between the unitive significance and the procreative significance which are both inherent to the marriage act."

2367

Là những người được kêu gọi trao tặng sự sống, đôi phối ngẫu tham dự vào quyền năng tạo dựng và tình phụ tử của Thiên Chúa. “Trong bổn phận lưu truyền sự sống con người và giáo dục, điều phải được coi như sứ vụ riêng của mình, đôi phối ngẫu biết rằng mình là những cộng tác viên của tình yêu Thiên Chúa và như những người diễn đạt tình yêu của Ngài. Vì vậy, họ sẽ chu toàn nhiệm vụ của mình bằng trách nhiệm của một con người và của một Kitô hữu.”

Called to give life, spouses share in the creative power and fatherhood of God. "Married couples should regard it as their proper mission to transmit human life and to educate their children; they should realize that they are thereby cooperating with the love of God the Creator and are, in a certain sense, its interpreters. They will fulfill this duty with a sense of human and Christian responsibility."

2368

Một khía cạnh đặc biệt của trách nhiệm liên quan đến việc điều hòa sinh sản. Khi có lý do chính đáng, đôi phối ngẫu có thể muốn tách rời khoảng cách các lần sinh con. Chính họ có bổn phận phải chứng thực rằng lựa chọn đó của họ không do sự ích kỷ mù quáng, nhưng là một lựa chọn phù hợp với lòng quảng đại chính đáng của tình phụ tử có trách nhiệm. Ngoài ra, họ phải hành động theo những tiêu chuẩn khách quan của luân lý: “Khi cần hòa hợp tình yêu phu phụ với việc sinh sản con cái có trách nhiệm, phải ý thức rằng giá trị luân lý của hành động không chỉ lệ thuộc vào ý muốn thành thực và việc cân nhắc các lý do, nhưng phải được thẩm định theo những tiêu chuẩn khách quan, rút ra từ bản tính của nhân vị và bản chất của các hành vi nơi nhân vị: những tiêu chuẩn đó tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự hiến thân cho nhau và của việc sinh sản con cái, trong bối cảnh tình yêu đích thực. Đó là điều không thể thực hiện được nếu không thực tâm vun trồng đức khiết tịnh phu phụ.”

A particular aspect of this responsibility concerns the regulation of procreation. For just reasons, spouses may wish to space the births of their children. It is their duty to make certain that their desire is not motivated by selfishness but is in conformity with the generosity appropriate to responsible parenthood. Moreover, they should conform their behavior to the objective criteria of morality:

2369

“Khi duy trì hai khía cạnh căn bản là kết hợp và sinh sản, hành vi phu phụ giữ được toàn vẹn ý nghĩa của tình yêu hỗ tương và chân thực, và sự quy hướng của tình yêu đó về nhiệm vụ hết sức cao cả là làm cha làm mẹ.”

"By safeguarding both these essential aspects, the unitive and the procreative, the conjugal act preserves in its fullness the sense of true mutual love and its orientation toward man's exalted vocation to parenthood."

2370

Sự tiết dục từng thời kỳ, những phương pháp điều hòa sinh sản dựa trên việc tự quan sát và chu kỳ những thời gian không thể thụ thai, là phù hợp với các tiêu chuẩn khách quan của luân lý. Những phương pháp này tôn trọng thân thể của đôi phối ngẫu, khuyến khích họ âu yếm nhau và cổ võ cho việc giáo dục về tự do đích thực. Trái lại, tự bản chất đều là xấu, “bất cứ hành vi nào trước, trong, hoặc sau cuộc trao đổi phu phụ, nhằm mục đích hay tạo phương thế ngăn cản sự sinh sản.” “Như thế, thay vì là một ngôn ngữ tự nhiên diễn tả sự hiến thân hỗ tương và trọn vẹn giữa đôi phối ngẫu, việc ngăn cản sự thụ thai đưa ra một ngôn ngữ biểu lộ sự mâu thuẫn khách quan, rõ ràng không còn phải là sự hiến thân cho nhau cách trọn vẹn nữa: từ đó, không những có sự khước từ tích cực không mở ngỏ cho sự sống, mà còn có sự giả tạo về chân lý nội tại của chính tình yêu phu phụ, một tình yêu hướng tới sự hiến thân cho nhau bằng toàn bộ nhân vị... Sự khác biệt về nhân học đồng thời về luân lý giữa việc ngăn cản sự thụ thai với việc tôn trọng những khoảng cách thời gian... bao hàm hai loại quan niệm về nhân vị và về tính dục, không thể kết hợp hai quan niệm đó với nhau.”

Periodic continence, that is, the methods of birth regulation based on self-observation and the use of infertile periods, is in conformity with the objective criteria of morality. These methods respect the bodies of the spouses, encourage tenderness between them, and favor the education of an authentic freedom. In contrast, "every action which, whether in anticipation of the conjugal act, or in its accomplishment, or in the development of its natural consequences, proposes, whether as an end or as a means, to render procreation impossible" is intrinsically evil:

2371

“Ngoài ra, mọi người đều phải ý thức rằng sự sống con người và nhiệm vụ lưu truyền sự sống không chỉ bị giới hạn ở đời này: việc đánh giá chân thật và ý nghĩa đầy đủ của chúng chỉ có thể hiểu được khi quy chiếu về vận mệnh vĩnh cửu của con người.”

"Let all be convinced that human life and the duty of transmitting it are not limited by the horizons of this life only: their true evaluation and full significance can be understood only in reference to man's eternal destiny."

2372

Nhà Nước có trách nhiệm về sự thịnh vượng của các công dân. Trên danh nghĩa này, Nhà Nước can thiệp để định hướng sự gia tăng dân số là điều hợp pháp. Nhà Nước có thể làm điều đó qua việc thông tin khách quan và tôn trọng tự do, nhưng không được dùng biện pháp độc tài và cưỡng bách. Nhà Nước không thể thay thế cách hợp pháp sáng kiến của đôi phối ngẫu, là những người đầu tiên có trách nhiệm về việc sinh sản và giáo dục con cái của họ. Trong lãnh vực này, quyền bính không được can thiệp bằng những phương thế trái với luật luân lý.

The state has a responsibility for its citizens' well-being. In this capacity it is legitimate for it to intervene to orient the demography of the population. This can be done by means of objective and respectful information, but certainly not by authoritarian, coercive measures. the state may not legitimately usurp the initiative of spouses, who have the primary responsibility for the procreation and education of their children. It is not authorized to intervene in this area with means contrary to the moral law.

2373

Sách Thánh và thực hành truyền thống của Hội Thánh thấy trong những gia đình đông con một dấu chỉ của sự chúc lành thần linh và lòng quảng đại của cha mẹ.

Sacred Scripture and the Church's traditional practice see in large families a sign of God's blessing and the parents' generosity.

2374

Nỗi đau khổ của những đôi phối ngẫu kết hôn mà không thể sinh con thật là to lớn. “Ông Ápraham thưa: Lạy Chúa là Chúa Thượng, Chúa sẽ ban cho con cái gì? Con ra đi mà không con cái’” (St 15,2). Bà Rakhel nói với chồng mình là Giacóp: “Cho tôi có con đi, không thì tôi chết mất!” (St 30,1).

Couples who discover that they are sterile suffer greatly. "What will you give me," asks Abraham of God, "for I continue childless?" and Rachel cries to her husband Jacob, "Give me children, or I shall die!"

2375

Những nghiên cứu nhằm giảm thiểu các trường hợp vô sinh của con người phải được khuyến khích, nếu chúng phục vụ “con người, các quyền bất khả nhượng cũng như lợi ích đích thực và toàn vẹn của con người, đúng theo kế hoạch và ý muốn của Thiên Chúa.”

Research aimed at reducing human sterility is to be encouraged, on condition that it is placed "at the service of the human person, of his inalienable rights, and his true and integral good according to the design and will of God."

2376

Những kỹ thuật phá vỡ liên hệ phụ mẫu qua sự can thiệp của một người ngoài cuộc hôn nhân (cho tinh dịch hoặc noãn bào, cho mượn tử cung) là những hành vi đáng hổ thẹn cách nghiêm trọng. Những kỹ thuật này (thụ tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo khác nguồn) vi phạm quyền của đứa con, là phải được sinh ra do cha và mẹ được biết là đã chính thức kết hôn. Những kỹ thuật này phản lại “quyền độc hữu [của đôi phối ngẫu], là chỉ nhờ nhau mà cả hai mới được làm cha, làm mẹ.”

Techniques that entail the dissociation of husband and wife, by the intrusion of a person other than the couple (donation of sperm or ovum, surrogate uterus), are gravely immoral. These techniques (heterologous artificial insemination and fertilization) infringe the child's right to be born of a father and mother known to him and bound to each other by marriage. They betray the spouses' "right to become a father and a mother only through each other."

2377

Nếu được thực hiện bên trong hôn nhân (thụ tinh nhân tạo và thụ thai nhân tạo cùng nguồn), những kỹ thuật này có lẽ sẽ ít tổn hại hơn; nhưng về mặt luân lý, chúng vẫn không thể được chấp nhận. Chúng tách rời hành vi tính dục khỏi hành vi sinh sản. Hành vi đặt nền cho sự hiện hữu của đứa con không còn là hành vi hiến thân cho nhau của hai nhân vị nữa, nhưng lại là hành vi “trao sự sống và căn tính của phôi thai con người cho quyền lực của các bác sĩ và các nhà sinh học, và như vậy, thiết lập một sự thống trị nào đó của kỹ thuật trên nguồn gốc và số phận của nhân vị. Sự thống trị như vậy, tự bản chất, đi ngược với phẩm giá và sự bình đẳng, những điều đó phải là chung cho cả cha mẹ lẫn con cái.” “Về phương diện luân lý, việc sinh sản này mất đi sự hoàn hảo riêng của nó, khi nó không được nhắm tới như là kết quả của hành vi phu phụ, hoặc hành vi kết hợp riêng của đôi phối ngẫu... Ngoài ra, chỉ có sự tôn trọng mối dây liên kết giữa những ý nghĩa của hành vi phu phụ và sự tôn trọng tính thống nhất của hữu thể nhân linh mới làm cho sự sinh sản xứng hợp với phẩm giá con người.”

Techniques involving only the married couple (homologous artificial insemination and fertilization) are perhaps less reprehensible, yet remain morally unacceptable. They dissociate the sexual act from the procreative act. the act which brings the child into existence is no longer an act by which two persons give themselves to one another, but one that "entrusts the life and identity of the embryo into the power of doctors and biologists and establishes the domination of technology over the origin and destiny of the human person. Such a relationship of domination is in itself contrary to the dignity and equality that must be common to parents and children." "Under the moral aspect procreation is deprived of its proper perfection when it is not willed as the fruit of the conjugal act, that is to say, of the specific act of the spouses' union .... Only respect for the link between the meanings of the conjugal act and respect for the unity of the human being make possible procreation in conformity with the dignity of the person."

2378

Đứa con không phải là một của nợ (debitum), nhưng là một tặng phẩm (donum). “Tặng phẩm tuyệt hảo của hôn nhân” là một nhân vị. Đứa con không thể được coi như một vật sở hữu, như người ta thường nghĩ là mình có “quyền có con.” Trong lãnh vực nầy, chỉ đứa con mới thật sự có những quyền: “quyền được hiện hữu với tư cách là hoa trái phát xuất từ hành vi riêng của tình yêu phu phụ của cha mẹ nó, chính nó có quyền được tôn trọng như một nhân vị ngay từ lúc mới tượng thai.”

A child is not something owed to one, but is a gift. the "supreme gift of marriage" is a human person. A child may not be considered a piece of property, an idea to which an alleged "right to a child" would lead. In this area, only the child possesses genuine rights: the right "to be the fruit of the specific act of the conjugal love of his parents," and "the right to be respected as a person from the moment of his conception."

2379

Tin Mừng cho thấy sự vô sinh thể lý không phải là một điều xấu tuyệt đối. Đôi phối ngẫu nào, sau khi đã tận dụng mọi trợ giúp chính đáng của y khoa, vẫn phải chịu nỗi đau khổ vô sinh, hãy kết hợp với thập giá của Chúa, là nguồn mạch mọi sự sinh sôi nảy nở thiêng liêng. Họ có thể nói lên lòng quảng đại của mình, bằng cách nhận làm nghĩa tử những đứa trẻ bị bỏ rơi và bằng cách tham gia việc phục vụ tha nhân.

The Gospel shows that physical sterility is not an absolute evil. Spouses who still suffer from infertility after exhausting legitimate medical procedures should unite themselves with the Lord's Cross, the source of all spiritual fecundity. They can give expression to their generosity by adopting abandoned children or performing demanding services for others.

2380

Ngoại tình. Từ này chỉ sự không chung thủy phu phụ. Khi hai người, mà ít là một trong hai đã có dây hôn phối, có quan hệ tính dục với nhau, kể cả nhất thời, thì phạm tội ngoại tình. Đức Kitô lên án tội ngoại tình, ngay cả khi chỉ là ngoại tình trong ước muốn đơn giản. Điều răn thứ sáu và Tân Ước tuyệt đối cấm ngoại tình. Các Tiên tri tố giác tính nghiêm trọng của tội ngoại tình. Các ngài thấy tội ngoại tình là hình ảnh của tội thờ ngẫu tượng.

Adultery refers to marital infidelity. When two partners, of whom at least one is married to another party, have sexual relations - even transient ones - they commit adultery. Christ condemns even adultery of mere desire. The sixth commandment and the New Testament forbid adultery absolutely. The prophets denounce the gravity of adultery; they see it as an image of the sin of idolatry.

2381

Ngoại tình là một sự bất công. Người phạm tội đó bỏ không thực hiện những cam kết của mình. Người đó làm tổn thương dấu chỉ của giao ước là dây liên kết hôn nhân, vi phạm quyền của người phối ngẫu kia, và xâm phạm thể chế hôn nhân khi vi phạm hôn ước, là nền tảng của thể chế đó. Người đó làm phương hại đến điều thiện hảo của việc sinh sản và của con cái, vốn cần đến sự kết hợp bền vững của cha mẹ.

Adultery is an injustice. He who commits adultery fails in his commitment. He does injury to the sign of the covenant which the marriage bond is, transgresses the rights of the other spouse, and undermines the institution of marriage by breaking the contract on which it is based. He compromises the good of human generation and the welfare of children who need their parents' stable union.

2382

Chúa Giêsu nhấn mạnh đến ý định nguyên thủy của Đấng Tạo Hóa, Ngài đã muốn rằng hôn nhân là bất khả phân ly. Người bãi bỏ những nhân nhượng đã được xen vào trong Luật cũ. Giữa những người đã chịu Phép Rửa, “hôn nhân thành nhận và hoàn hợp (ratum et consummatum) không thể được tháo gỡ do bất cứ quyền bính nhân loại nào, và vì bất cứ lý do nào, trừ lý do tử vong.”

The Lord Jesus insisted on the original intention of the Creator who willed that marriage be indissoluble. He abrogates the accommodations that had slipped into the old Law. Between the baptized, "a ratified and consummated marriage cannot be dissolved by any human power or for any reason other than death."

2383

Việc ly thân (separatio) của đôi phối ngẫu, nhưng vẫn duy trì dây liên kết hôn nhân, có thể là hợp pháp trong một số trường hợp đã được Giáo Luật dự liệu. Nếu việc ly dị dân sự vẫn còn là phương cách duy nhất để bảo đảm một số quyền lợi hợp pháp, như việc chăm sóc con cái hoặc bảo vệ gia sản, thì có thể chịu đựng mà không lỗi phạm về luân lý.

The separation of spouses while maintaining the marriage bond can be legitimate in certain cases provided for by canon law. If civil divorce remains the only possible way of ensuring certain legal rights, the care of the children, or the protection of inheritance, it can be tolerated and does not constitute a moral offense.

2384

Ly dị là một xúc phạm nghiêm trọng đối với luật tự nhiên. Ly dị cố ý phá vỡ khế ước đã được đôi phối ngẫu tự do ưng thuận, để sống với nhau cho đến chết. Ly dị làm tổn thương Giao ước cứu độ mà bí tích Hôn Phối là dấu chỉ. Sự tái hôn, mặc dầu được luật dân sự công nhận, càng làm cho tình trạng đổ vỡ thêm nghiêm trọng: người tái hôn, sau khi ly dị, sống trong tình trạng ngoại tình công khai và thường xuyên: “Người nam, sau khi bỏ vợ, không được lấy người khác. Người nữ bị chồng bỏ, cũng không được làm vợ người khác.”

Divorce is a grave offense against the natural law. It claims to break the contract, to which the spouses freely consented, to live with each other till death. Divorce does injury to the covenant of salvation, of which sacramental marriage is the sign. Contracting a new union, even if it is recognized by civil law, adds to the gravity of the rupture: the remarried spouse is then in a situation of public and permanent adultery:

2385

Ly dị cũng mang tính vô luân do sự xáo trộn nó đưa vào tế bào gia đình và vào xã hội. Sự xáo trộn này kéo theo những tổn hại nghiêm trọng: cho người phối ngẫu bị ruồng bỏ; cho con cái, bị tổn thương sâu xa bởi sự phân ly của cha mẹ, và thường bị dằng co giữa cha và mẹ; vì hậu quả lây lan của nó, ly dị thật sự là một tai ương cho xã hội.

Divorce is immoral also because it introduces disorder into the family and into society. This disorder brings grave harm to the deserted spouse, to children traumatized by the separation of their parents and often torn between them, and because of its contagious effect which makes it truly a plague on society.

2386

Có thể xảy ra là một người trong đôi phối ngẫu là nạn nhân vô tội của việc ly dị do tòa án dân sự công bố; lúc đó người này không vi phạm mệnh lệnh luân lý. Có sự khác biệt đáng lưu ý giữa người phối ngẫu thành thật cố gắng trung thành với bí tích Hôn Phối và bị ruồng bỏ cách bất công, với người phối ngẫu, do trọng tội về phía mình, phá hủy hôn nhân đã thành sự theo Giáo Luật.

It can happen that one of the spouses is the innocent victim of a divorce decreed by civil law; this spouse therefore has not contravened the moral law. There is a considerable difference between a spouse who has sincerely tried to be faithful to the sacrament of marriage and is unjustly abandoned, and one who through his own grave fault destroys a canonically valid marriage.

2387

Chúng ta hiểu được bi kịch của một người, vì muốn hối cải để theo Tin Mừng, bắt buộc phải từ bỏ một hoặc nhiều người vợ đã chung sống nhiều năm. Tuy nhiên, tục đa thê không phù hợp với luật luân lý. “Tục đa thê tuyệt đối nghịch lại với sự hiệp thông phu phụ: quả vậy, tục đa thê trực tiếp khước từ ý định của Thiên Chúa, như đã được mặc khải ngay từ những buổi đầu, bởi vì nó không phù hợp với phẩm giá bình đẳng và cá vị của người nam và người nữ, những người tự hiến cho nhau bằng một tình yêu trọn vẹn, và vì vậy, tự bản chất là một tình yêu duy nhất và độc hữu.” Kitô hữu nào, trước kia là người đa thê, bị buộc nặng theo đức công bằng, phải tôn trọng những bổn phận đã ký kết liên quan đến các bà vợ ngày trước và con cái của mình.

The predicament of a man who, desiring to convert to the Gospel, is obliged to repudiate one or more wives with whom he has shared years of conjugal life, is understandable. However polygamy is not in accord with the moral law." [Conjugal] communion is radically contradicted by polygamy; this, in fact, directly negates the plan of God which was revealed from the beginning, because it is contrary to the equal personal dignity of men and women who in matrimony give themselves with a love that is total and therefore unique and exclusive." The Christian who has previously lived in polygamy has a grave duty in justice to honor the obligations contracted in regard to his former wives and his children.

2388

Loạn luân chỉ những quan hệ tính dục giữa những người họ hàng cùng huyết tộc hoặc họ hàng gần, ở một cấp bậc cấm kết hôn với nhau. Thánh Phaolô lên án tội lỗi đặc biệt nghiêm trọng này: “Đi đâu cũng chỉ nghe nói đến chuyện dâm ô xảy ra giữa anh em... có kẻ ăn ở với vợ kế của cha mình!... Nhân danh Chúa Giêsu Kitô... chúng ta phải nộp con người đó cho Xatan để phần xác nó bị hủy diệt” (1 Cr 5,1.4-5)... Loạn luân phá vỡ những tương quan gia đình và cho thấy một sự thoái hóa trở về thú tính.

Incest designates intimate relations between relatives or in-laws within a degree that prohibits marriage between them. St. Paul stigmatizes this especially grave offense: "It is actually reported that there is immorality among you . . . for a man is living with his father's wife.... In the name of the Lord Jesus ... you are to deliver this man to Satan for the destruction of the flesh...." Incest corrupts family relationships and marks a regression toward animality.

2389

Có thể kể là loạn luân, những lạm dụng tính dục do những người trưởng thành thực hiện đối với trẻ con hoặc thiếu niên đã được ủy thác cho họ trông coi. Lỗi phạm này tăng gấp đôi: một mặt vì gây gương xấu xâm phạm đến sự toàn vẹn thể lý và luân lý của các người trẻ, và còn để lại dấu ấn suốt cuộc đời chúng, mặt khác vì họ xâm phạm trách nhiệm giáo dục của mình.

Connected to incest is any sexual abuse perpetrated by adults on children or adolescents entrusted to their care. the offense is compounded by the scandalous harm done to the physical and moral integrity of the young, who will remain scarred by it all their lives; and the violation of responsibility for their upbringing.

2390

Tự do sống chung (libera iunctio) là khi một người nam và một người nữ từ chối thực hiện một hình thức pháp lý và công khai cho mối liên hệ bao hàm sự thân mật về tính dục. Kiểu nói “tự do sống chung” là dối trá, vì có nghĩa gì một sự sống chung không hôn nhân, trong đó những nhân vị không bị ràng buộc với nhau và như vậy, chứng tỏ rằng họ không tin tưởng vào người kia, vào chính mình, hoặc vào tương lai? Kiểu nói này chỉ nhiều trường hợp khác nhau: ăn ở với nhau không cưới xin, từ chối kết hôn theo đúng tính chất của hôn nhân, không thể ràng buộc nhau bằng những cam kết dài lâu. Tất cả những trường hợp này đều xúc phạm đến phẩm giá của hôn nhân; chúng phá hủy chính ý niệm về gia đình; chúng làm suy giảm ý nghĩa của lòng chung thủy. Chúng nghịch với luật luân lý: hành vi tính dục chỉ được chấp nhận trong hôn nhân; ngoài hôn nhân, hành vi này luôn luôn là một tội trọng và người vi phạm bị loại ra khỏi sự hiệp thông bí tích.

In a so-called free union, a man and a woman refuse to give juridical and public form to a liaison involving sexual intimacy.

2391

Ngày nay, nhiều người đòi hỏi “quyền thử nghiệm”, khi có ý định kết hôn. Nhưng dù quyết tâm của những người có quan hệ tính dục tiền hôn nhân có chắc chắn đến đâu đi nữa, thì “những quan hệ đó cũng không cho phép bảo đảm cách an toàn nhu cầu hỗ tương giữa các nhân vị, là người nam và người nữ, là sự chân thành và sự chung thủy, nhất là chẳng giúp nhu cầu đó được bảo vệ khỏi sự thay đổi những ham muốn và lựa chọn.” Về phương diện luân lý, sự kết hợp thể xác chỉ hợp pháp khi một cộng đồng sống vĩnh viễn giữa người nam và người nữ đã được thiết lập. Tình yêu của con người không chấp nhận “thử nghiệm.” Tình yêu đó đòi hỏi sự hiến thân cho nhau trọn vẹn và vĩnh viễn của cả hai người.

Some today claim a "right to a trial marriage" where there is an intention of getting married later. However firm the purpose of those who engage in premature sexual relations may be, "the fact is that such liaisons can scarcely ensure mutual sincerity and fidelity in a relationship between a man and a woman, nor, especially, can they protect it from inconstancy of desires or whim." Carnal union is morally legitimate only when a definitive community of life between a man and woman has been established. Human love does not tolerate "trial marriages." It demands a total and definitive gift of persons to one another.

2392

“Tình yêu là ơn gọi căn bản và thuộc bản tính của mỗi con người.”

"Love is the fundamental and innate vocation of every human being" (FC 11).

2393

Khi tạo dựng con người có nam có nữ, Thiên Chúa đã ban cho người nam và người nữ sự bình đẳng về nhân phẩm. Mỗi người, nam cũng như nữ, phải nhận biết và chấp nhận căn tính tính dục của mình.

By creating the human being man and woman, God gives personal dignity equally to the one and the other. Each of them, man and woman, should acknowledge and accept his sexual identity.

2394

Đức Kitô là khuôn mẫu của đức khiết tịnh. Mọi người đã chịu Phép Rửa đều được kêu gọi sống đời khiết tịnh tùy theo bậc sống riêng của mình.

Christ is the model of chastity. Every baptized person is called to lead a chaste life, each according to his particular state of life.

2395

Sự khiết tịnh là việc hòa nhập thành công tính dục trong nhân vị. Nó đòi hỏi việc tập luyện sự tự chủ cá vị.

Chastity means the integration of sexuality within the person. It includes an apprenticeship in self-mastery.

2396

Trong số các tội nghịch với đức khiết tịnh cách nghiêm trọng, phải kể: thủ dâm, gian dâm, hình ảnh khiêu dâm, và các hành động đồng tính luyến ái.

Among the sins gravely contrary to chastity are masturbation, fornication, pornography, and homosexual practices.

2397

Giao ước, đã được đôi phối ngẫu ký kết cách tự do, bao hàm tình yêu chung thủy. Giao ước đó đòi buộc đôi phối ngẫu gìn giữ hôn nhân của mình bất khả phân ly.

The covenant which spouses have freely entered into entails faithful love. It imposes on them the obligation to keep their marriage indissoluble.

2398

Sự sinh sản là một điều thiện hảo, một hồng ân, một mục đích của hôn nhân. Khi ban tặng sự sống, đôi phối ngẫu tham dự vào quyền phụ tử của Thiên Chúa.

Fecundity is a good, a gift and an end of marriage. By giving life, spouses participate in God's fatherhood.

2399

Việc điều hòa sinh sản là một trong những phương diện thể hiện tư cách làm cha làm mẹ có trách nhiệm. Nhưng ý hướng hợp pháp của đôi phối ngẫu không biện minh cho việc sử dụng các phương thế không thể chấp nhận về mặt luân lý (thí dụ trực tiếp triệt sản hoặc chống thụ thai).

The regulation of births represents one of the aspects of responsible fatherhood and motherhood. Legitimate intentions on the part of the spouses do not justify recourse to morally unacceptable means (for example, direct sterilization or contraception).

2400

Ngoại tình và ly dị, đa thê và tự do sống chung, là những xúc phạm nghiêm trọng đến phẩm giá của hôn nhân.

Adultery, divorce, polygamy, and free union are grave offenses against the dignity of marriage.