Hỏi Đáp Công Giáo
Tuyên Xưng Đức Tin · Tuyên xưng đức tin Kitô Giáo · “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là cha” · “Tôi tin kính Đức Chúa Trời, là Cha phép tắc vô cùng, dựng nên trời đất”
TIẾT 4

Đấng Tạo Hóa

Số 279–324
279

“Lúc khởi đầu, Thiên Chúa đã tạo thành trời đất” (St 1,1). Những lời long trọng này đã mở đầu bộ Thánh Kinh. Tín biểu lấy lại những lời đó khi tuyên xưng Thiên Chúa là Cha toàn năng, “Đấng tạo thành trời đất”, “muôn vật hữu hình và vô hình.” Vì vậy, trước hết, chúng ta nói về Đấng Tạo Hóa, kế đến về công trình tạo dựng của Ngài, sau hết về việc con người sa ngã phạm tội, rồi được Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, đến giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi.

"In the beginning God created the heavens and the earth." Holy Scripture begins with these solemn words. the profession of faith takes them up when it confesses that God the Father almighty is "Creator of heaven and earth" (Apostles' Creed), "of all that is, seen and unseen" (Nicene Creed). We shall speak first of the Creator, then of creation and finally of the fall into sin from which Jesus Christ, the Son of God, came to raise us up again.

280

Công trình tạo dựng là nền tảng liên quan đến “mọi sáng kiến cứu độ của Thiên Chúa”, “khởi đầu của lịch sử cứu độ” mà Đức Kitô là tột đỉnh. Ngược lại, mầu nhiệm Đức Kitô là ánh sáng quyết định soi tỏ mầu nhiệm tạo dựng; mầu nhiệm Đức Kitô mặc khải cùng đích của việc “lúc khởi đầu, Thiên Chúa đã sáng tạo trời đất” (St 1,1): ngay từ đầu, Thiên Chúa đã nhắm tới vinh quang của công trình tạo dựng mới trong Đức Kitô.

Creation is the foundation of "all God's saving plans," the "beginning of the history of salvation" that culminates in Christ. Conversely, the mystery of Christ casts conclusive light on the mystery of creation and reveals the end for which "in the beginning God created the heavens and the earth": from the beginning, God envisaged the glory of the new creation in Christ.

281

Vì vậy, các bài Sách Thánh trong đêm Canh thức Vượt Qua, đêm mừng công trình tạo dựng mới trong Đức Kitô, bắt đầu bằng bài tường thuật công trình tạo dựng. Trong phụng vụ Byzantin, bài tường thuật này luôn là bài đọc thứ nhất trong lễ vọng các đại lễ kính Chúa. Theo một chứng từ cổ xưa, việc dạy các dự tòng để chịu phép Rửa Tội cũng theo cùng một đường lối đó.

And so the readings of the Easter Vigil, the celebration of the new creation in Christ, begin with the creation account; likewise in the Byzantine liturgy, the account of creation always constitutes the first reading at the vigils of the great feasts of the Lord. According to ancient witnesses the instruction of catechumens for Baptism followed the same itinerary.

282

Việc dạy giáo lý về công trình tạo dựng là hết sức quan trọng. Nó liên quan đến chính nền tảng của cuộc sống làm người và làm Kitô hữu: vì nó đem lại câu trả lời của đức tin Kitô Giáo cho câu hỏi căn bản mà con người của mọi thời đại thường đặt ra cho mình: “Chúng ta từ đâu tới?” “Chúng ta đi về đâu?” “Nguồn gốc của chúng ta là gì?” “Cùng đích của chúng ta là gì?” “Mọi vật hiện hữu từ đâu tới và đi về đâu?” Hai câu hỏi này, về nguồn gốc và cùng đích, không thể tách rời nhau. Chúng có tính cách quyết định đối với ý nghĩa và định hướng cho cuộc đời chúng ta và cho cách thức hành động của chúng ta.

Catechesis on creation is of major importance. It concerns the very foundations of human and Christian life: for it makes explicit the response of the Christian faith to the basic question that men of all times have asked themselves: "Where do we come from?" "Where are we going?" "What is our origin?" "What is our end?" "Where does everything that exists come from and where is it going?" the two questions, the first about the origin and the second about the end, are inseparable. They are decisive for the meaning and orientation of our life and actions.

283

Câu hỏi về nguồn gốc trần gian và con người là đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu khoa học, giúp mở rộng tầm hiểu biết của chúng ta về độ tuổi và các chiều kích của trần gian, về sự hình thành các dạng sinh vật, về sự xuất hiện đầu tiên của loài người. Những khám phá này mời gọi chúng ta thêm lòng cảm phục sự cao cả của Đấng Tạo Hóa, tạ ơn Ngài vì các công trình của Ngài, vì sự thông minh và tài năng Ngài đã ban cho các nhà bác học và các nhà nghiên cứu. Cùng với vua Salômôn, những vị này có thể nói: “Chính Ngài đã khấng ban cho tôi tri thức xác thực về những gì đang hiện hữu, để tôi thấu hiểu cơ cấu của vũ trụ và năng lực của các nguyên tố tạo thành... Vì chính người thợ làm ra muôn vật muôn loài đã chỉ dạy cho tôi. Người thợ ấy chính là Đức Khôn Ngoan” (Kn 7,17-21).

The question about the origins of the world and of man has been the object of many scientific studies which have splendidly enriched our knowledge of the age and dimensions of the cosmos, the development of life-forms and the appearance of man. These discoveries invite us to even greater admiration for the greatness of the Creator, prompting us to give him thanks for all his works and for the understanding and wisdom he gives to scholars and researchers. With Solomon they can say: "It is he who gave me unerring knowledge of what exists, to know the structure of the world and the activity of the elements. . . for wisdom, the fashioner of all things, taught me."

284

Sự quan tâm lớn lao dành cho các công cuộc nghiên cứu này còn được thúc đẩy mạnh mẽ bởi một câu hỏi thuộc một lãnh vực khác, vượt quá phạm vi của các khoa học tự nhiên. Vấn đề không phải chỉ là tìm hiểu trần gian vật chất phát sinh khi nào và cách nào, và con người đã xuất hiện lúc nào, nhưng quan trọng hơn, chính là khám phá ra ý nghĩa của nguồn gốc đó: Phải chăng trần gian bị điều khiển bởi một sự ngẫu nhiên, một định mệnh mù quáng, một tất yếu vô danh, hay được điều khiển bởi một Hữu Thể siêu việt, thông minh và tốt lành, được gọi là Thiên Chúa? Và nếu trần gian xuất phát từ sự khôn ngoan và tốt lành của Thiên Chúa, thì tại sao lại có sự dữ? Nó từ đâu ra? Ai chịu trách nhiệm về nó? Có cách nào thoát khỏi sự dữ không?

The great interest accorded to these studies is strongly stimulated by a question of another order, which goes beyond the proper domain of the natural sciences. It is not only a question of knowing when and how the universe arose physically, or when man appeared, but rather of discovering the meaning of such an origin: is the universe governed by chance, blind fate, anonymous necessity, or by a transcendent, intelligent and good Being called "God"? and if the world does come from God's wisdom and goodness, why is there evil? Where does it come from? Who is responsible for it? Is there any liberation from it?

285

Từ buổi đầu, đức tin Kitô Giáo đã đối mặt với những giải đáp khác với giải đáp của mình về vấn đề nguồn gốc. Người ta gặp trong các tôn giáo và các văn hóa cổ xưa nhiều huyền thoại về vấn đề nguồn gốc. Một số triết gia đã cho rằng mọi sự đều là Thần Linh, trần gian là Thần Linh, hoặc quá trình tiến hóa của trần gian là quá trình tiến hóa của Thần Linh (thuyết phiếm thần); một số khác cho rằng trần gian là một xuất phát tất yếu của Thần Linh, từ Thần Linh phát ra và trở về với Ngài; một số khác nữa khẳng định sự hiện hữu của hai nguyên lý vĩnh cửu, Thiện và Ác, Ánh Sáng và Bóng Tối, luôn giao tranh với nhau (thuyết nhị nguyên, thuyết của Manikê); một số người theo các thuyết ấy cho rằng thế giới (ít nhất là thế giới vật chất) là xấu, là sản phẩm của một sự sa ngã, vì vậy cần phải loại bỏ đi hoặc phải vượt khỏi (thuyết ngộ đạo); những người khác lại cho rằng trần gian do Thiên Chúa tạo nên, theo kiểu một người thợ làm ra cái đồng hồ, làm ra rồi để nó tự vận hành (tự nhiên thần giáo); cuối cùng, có những người không chấp nhận một nguồn gốc siêu việt nào của trần gian, chỉ coi trần gian thuần túy là sự tương tác của vật chất vẫn luôn hiện hữu (thuyết duy vật). Tất cả những cố gắng đó cho thấy rằng câu hỏi về vấn đề nguồn gốc là một thắc mắc muôn thuở và phổ quát. Việc tìm kiếm này là một nét đặc trưng của con người.

Since the beginning the Christian faith has been challenged by responses to the question of origins that differ from its own. Ancient religions and cultures produced many myths concerning origins. Some philosophers have said that everything is God, that the world is God, or that the development of the world is the development of God (Pantheism). Others have said that the world is a necessary emanation arising from God and returning to him. Still others have affirmed the existence of two eternal principles, Good and Evil, Light and Darkness, locked, in permanent conflict (Dualism, Manichaeism). According to some of these conceptions, the world (at least the physical world) is evil, the product of a fall, and is thus to be rejected or left behind (Gnosticism). Some admit that the world was made by God, but as by a watch-maker who, once he has made a watch, abandons it to itself (Deism). Finally, others reject any transcendent origin for the world, but see it as merely the interplay of matter that has always existed (Materialism). All these attempts bear witness to the permanence and universality of the question of origins. This inquiry is distinctively human.

286

Chính trí thông minh của loài người có khả năng tìm ra câu trả lời cho câu hỏi về nguồn gốc. Thật vậy, sự hiện hữu của Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, có thể được nhận biết một cách chắc chắn bằng ánh sáng của lý trí con người, nhờ các công trình của Ngài, mặc dù sự nhận biết đó thường bị mờ tối và lệch lạc vì sai lầm. Chính vì vậy, cần có đức tin củng cố và soi sáng lý trí để hiểu biết chân lý này cách chính xác. “Nhờ đức tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi lời của Thiên Chúa; vì thế, những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có” (Hr 11,3).

Human intelligence is surely already capable of finding a response to the question of origins. the existence of God the Creator can be known with certainty through his works, by the light of human reason, even if this knowledge is often obscured and disfigured by error. This is why faith comes to confirm and enlighten reason in the correct understanding of this truth: "By faith we understand that the world was created by the word of God, so that what is seen was made out of things which do not appear."

287

Chân lý về công trình tạo dựng rất quan trọng đối với toàn bộ cuộc sống con người, nên Thiên Chúa, do lòng nhân hậu của Ngài, đã muốn mặc khải cho Dân Ngài nhận biết những điều hữu ích về vấn đề này. Vượt trên sự hiểu biết tự nhiên mà bất cứ người nào cũng có thể có được về Đấng Tạo Hóa, Thiên Chúa đã dần dần 280 mặc khải cho Ítraen mầu nhiệm tạo dựng. Thiên Chúa, Đấng đã chọn các tổ phụ, Đấng đã đưa Ítraen ra khỏi Ai Cập, Đấng đã tạo dựng và huấn luyện Ítraen khi tuyển chọn dân này làm dân riêng của Ngài, chính Ngài đã tự mặc khải mình là Đấng làm chủ mọi dân tộc trên mặt đất, và cả toàn cõi đất, mình là Đấng duy nhất “đã dựng nên trời đất” (Tv 115,15; 124,8; 134,3).

The truth about creation is so important for all of human life that God in his tenderness wanted to reveal to his People everything that is salutary to know on the subject. Beyond the natural knowledge that every man can have of the Creator, God progressively revealed to Israel the mystery of creation. He who chose the patriarchs, who brought Israel out of Egypt, and who by choosing Israel created and formed it, this same God reveals himself as the One to whom belong all the peoples of the earth, and the whole earth itself; he is the One who alone "made heaven and earth".

288

Việc mặc khải về công trình tạo dựng như vậy không thể tách rời khỏi việc mặc khải và thực hiện Giao Ước của Thiên Chúa duy nhất với dân Ngài. Công trình tạo dựng được mặc khải như bước đầu hướng tới Giao Ước này, như chứng từ đầu tiên và phổ quát của tình yêu toàn năng của Thiên Chúa. Vì thế, chân lý về công trình tạo dựng cũng được diễn tả ngày càng mạnh mẽ trong sứ điệp của các Tiên tri, trong lời cầu nguyện của các Thánh vịnh và của phụng vụ, trong suy tư về sự khôn ngoan của dân Chúa chọn.

Thus the revelation of creation is inseparable from the revelation and forging of the covenant of the one God with his People. Creation is revealed as the first step towards this covenant, the first and universal witness to God's all-powerful love. and so, the truth of creation is also expressed with growing vigour in the message of the prophets, the prayer of the psalms and the liturgy, and in the wisdom sayings of the Chosen People.

289

Trong tất cả những lời Thánh Kinh nói về công trình tạo dựng, ba chương đầu của sách Sáng Thế có một chỗ đứng độc đáo. Về phương diện văn chương, những bản văn đó có thể do nhiều nguồn khác nhau. Các tác giả được linh hứng đã đặt các bản văn này ở đầu Sách Thánh để long trọng diễn tả những chân lý về công trình tạo dựng, về nguồn gốc và cùng đích của công trình đó trong Thiên Chúa, về trật tự và sự tốt lành của nó, về ơn gọi của con người, và cuối cùng về thảm kịch tội lỗi và niềm hy vọng vào ơn cứu độ. Những lời này, được đọc dưới ánh sáng của Chúa Kitô, trong sự thống nhất của Thánh Kinh, và trong Truyền thống sống động của Hội Thánh, vẫn là nguồn chính yếu cho việc dạy giáo lý về những mầu nhiệm của “lúc khởi đầu”: việc tạo dựng, sự sa ngã, lời hứa ban ơn cứu độ.

Among all the Scriptural texts about creation, the first three chapters of Genesis occupy a unique place. From a literary standpoint these texts may have had diverse sources. the inspired authors have placed them at the beginning of Scripture to express in their solemn language the truths of creation - its origin and its end in God, its order and goodness, the vocation of man, and finally the drama of sin and the hope of salvation. Read in the light of Christ, within the unity of Sacred Scripture and in the living Tradition of the Church, these texts remain the principal source for catechesis on the mysteries of the "beginning": creation, fall, and promise of salvation.

290

“Lúc khởi đầu Thiên Chúa đã tạo dựng trời đất” (St 1,1): những lời đầu tiên này của Thánh Kinh xác quyết ba điều: Thiên Chúa vĩnh cửu đã ban một khởi điểm cho tất cả những gì hiện hữu bên ngoài Ngài. Duy chỉ mình Ngài là Đấng Tạo hóa (động từ “tạo dựng”- tiếng hipri là bara - luôn có chủ từ là Thiên Chúa). Tất cả những gì hiện hữu (được diễn tả bằng thuật ngữ “trời đất”) đều tùy thuộc vào Đấng đã cho chúng hiện hữu.

"In the beginning God created the heavens and the earth": three things are affirmed in these first words of Scripture: the eternal God gave a beginning to all that exists outside of himself; he alone is Creator (the verb "create" - Hebrew bara - always has God for its subject). the totality of what exists (expressed by the formula "the heavens and the earth") depends on the One who gives it being.

291

“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời... và Ngôi Lời là Thiên Chúa... Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,1-3). Tân Ước mặc khải rằng: Thiên Chúa đã tạo dựng tất cả nhờ Ngôi Lời vĩnh cửu là Con yêu dấu của Ngài. “Trong Người, muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất... Tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người. Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người” (Cl 1,16-17). Đức tin của Hội Thánh cũng xác quyết một cách tương tự về hoạt động tạo dựng của Chúa Thánh Thần: Ngài, Đấng chúng ta tuyên xưng là “Đấng ban sự sống”, là “Thần Khí Sáng Tạo” (“Veni, Creator Spiritus”: “Lạy Thần Khí Sáng Tạo, xin ngự đến”), là “Nguồn mạch của sự thiện hảo.”

"In the beginning was the Word. . . and the Word was God. . . all things were made through him, and without him was not anything made that was made." The New Testament reveals that God created everything by the eternal Word, his beloved Son. In him "all things were created, in heaven and on earth.. . all things were created through him and for him. He is before all things, and in him all things hold together." The Church's faith likewise confesses the creative action of the Holy Spirit, the "giver of life", "the Creator Spirit" (Veni, Creator Spiritus), the "source of every good".

292

Hành động tạo dựng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, là một, một cách không thể tách biệt, với hành động tạo dựng của Chúa Cha, là điều đã được thoáng thấy trong Cựu Ước, đã được mặc khải trong Tân Ước, nay được quy luật đức tin của Hội Thánh xác định rõ ràng: “Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất [...]: Ngài là Cha, là Thiên Chúa, là Đấng Tạo Hóa, là Tác Giả, là Đấng làm nên mọi sự, Đấng tự mình tác tạo mọi sự, nghĩa là nhờ Lời và đức Khôn Ngoan của Ngài”; “Chúa Con và Chúa Thánh Thần” là như “những bàn tay” của Ngài. Tạo dựng là công trình chung của Ba Ngôi Chí Thánh.

The Old Testament suggests and the New Covenant reveals the creative action of the Son and the Spirit, inseparably one with that of the Father. This creative co-operation is clearly affirmed in the Church's rule of faith: "There exists but one God. . . he is the Father, God, the Creator, the author, the giver of order. He made all things by himself, that is, by his Word and by his Wisdom", "by the Son and the Spirit" who, so to speak, are "his hands". Creation is the common work of the Holy Trinity.

293

Chân lý căn bản, mà Thánh Kinh và Truyền Thống không ngừng giảng dạy và cử hành, là: “Trần gian được tạo dựng để làm vinh danh Thiên Chúa.” Thánh Bônaventura giải thích: Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự “không phải để gia tăng vinh quang, nhưng để biểu lộ và truyền thông vinh quang của Ngài.” Quả thật, Thiên Chúa không thể có lý do nào khác để tạo dựng, ngoài tình yêu và sự tốt lành của Ngài: “Khi tay Ngài được mở ra bằng chìa khóa của tình yêu, thì các thụ tạo xuất hiện.” Công đồng Vaticanô I giải thích: “Thiên Chúa, do sự tốt lành và uy quyền toàn năng của Ngài, không phải để gia tăng hoặc đạt được vinh phúc của Ngài, nhưng để biểu lộ sự trọn hảo của Ngài qua những điều thiện hảo Ngài ban cho các thụ tạo, do ý định hoàn toàn tự do của Ngài, lúc khởi đầu thời gian, đã tạo dựng mọi loài từ hư vô, cả loài thiêng liêng lẫn loài có thể xác.”

Scripture and Tradition never cease to teach and celebrate this fundamental truth: "The world was made for the glory of God." St. Bonaventure explains that God created all things "not to increase his glory, but to show it forth and to communicate it", for God has no other reason for creating than his love and goodness: "Creatures came into existence when the key of love opened his hand." The First Vatican Council explains:

294

Vinh quang của Thiên Chúa cốt tại việc biểu lộ và truyền thông sự tốt lành của Ngài, vì đó mà trần gian đã được tạo dựng. “Theo ý muốn nhân hậu của Ngài, Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Chúa Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Ngài ban tặng cho ta” (Ep 1,5-6). “Thật vậy, vinh quang của Thiên Chúa là con người sống, và sự sống của con người là được nhìn thấy Thiên Chúa. Nếu sự mặc khải của Thiên Chúa qua công trình tạo dựng đã đem đến sự sống cho mọi loài trên trái đất, thì việc Ngôi Lời biểu lộ Chúa Cha lại càng đem lại sự sống gấp bội cho những ai thấy Thiên Chúa.” Mục đích tối hậu của công trình tạo dựng là Thiên Chúa, “Đấng dựng nên mọi loài, cuối cùng sẽ ‘có toàn quyền trên muôn loài’ (1 Cr 15,28), đem lại vinh quang cho Ngài và đồng thời đem lại vinh phúc cho chúng ta.”

The glory of God consists in the realization of this manifestation and communication of his goodness, for which the world was created. God made us "to be his sons through Jesus Christ, according to the purpose of his will, to the praise of his glorious grace", for "the glory of God is man fully alive; moreover man's life is the vision of God: if God's revelation through creation has already obtained life for all the beings that dwell on earth, how much more will the Word's manifestation of the Father obtain life for those who see God." The ultimate purpose of creation is that God "who is the creator of all things may at last become "all in all", thus simultaneously assuring his own glory and our beatitude."

295

Chúng ta tin Thiên Chúa đã tạo dựng trần gian theo sự khôn ngoan của Ngài. Trần gian không phải là sản phẩm của bất cứ một luật tất yếu, một định mệnh mù quáng hoặc một sự ngẫu nhiên nào. Chúng ta tin trần gian xuất phát từ ý muốn tự do của Thiên Chúa, Đấng đã muốn cho các thụ tạo được tham dự vào hữu thể, sự khôn ngoan và sự tốt lành của Ngài. “Ngài đã dựng nên muôn vật, và do ý Ngài muốn, mọi loài liền có và được dựng nên” (Kh 4,11). “Công trình Ngài, lạy Chúa, quả thiên hình vạn trạng! Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan” (Tv 104,24). “Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên” (Tv 145,9).

We believe that God created the world according to his wisdom. It is not the product of any necessity whatever, nor of blind fate or chance. We believe that it proceeds from God's free will; he wanted to make his creatures share in his being, wisdom and goodness: "For you created all things, and by your will they existed and were created." Therefore the Psalmist exclaims: "O LORD, how manifold are your works! In wisdom you have made them all"; and "The LORD is good to all, and his compassion is over all that he has made." God creates "out of nothing"

296

Chúng ta tin Thiên Chúa tạo dựng mà không cần một thứ gì đã hiện hữu trước, cũng không cần một sự trợ giúp nào. Công trình tạo dựng cũng không phải là một sự xuất phát tất yếu từ bản thể Thiên Chúa. Thiên Chúa tạo dựng một cách tự do “từ hư vô” (“ex nihilo”): “Nếu Thiên Chúa làm nên trần gian từ một chất liệu có trước, thì có gì là cao cả? Một người thợ giữa chúng ta, khi nhận được vật liệu từ ai đó, cũng làm ra được những gì anh ta muốn. Nhưng quyền năng của Thiên Chúa được chứng tỏ trong điều này, là từ hư vô, Ngài làm nên bất cứ những gì Ngài muốn.”

We believe that God needs no pre-existent thing or any help in order to create, nor is creation any sort of necessary emanation from the divine substance. God creates freely "out of nothing":

297

Thánh Kinh làm chứng đức tin về việc tạo dựng “từ hư vô” như một chân lý đầy hứa hẹn và hy vọng. Một bà mẹ đã khuyến khích bảy người con mình chịu tử đạo như sau: “Mẹ không rõ các con đã thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con thần khí và sự sống. Cũng không phải mẹ sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người trong các con. Chính Đấng Tạo hóa càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gồc muôn loài. Chính Ngài do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con thần khí và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Ngài hơn bản thân mình... Mẹ xin con hãy nhìn xem trời đất và muôn loài trong đó, mà nhận biết rằng Thiên Chúa đã làm nên tất cả từ hư vô, và loài người cũng được tạo thành như vậy” (2 Mcb 7,22-23.28).

Scripture bears witness to faith in creation "out of nothing" as a truth full of promise and hope. Thus the mother of seven sons encourages them for martyrdom:

298

Bởi vì Thiên Chúa có thể tạo dựng từ hư vô, nên Ngài, “Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không có hóa có” (Rm 4,17), cũng có thể, nhờ Chúa Thánh Thần, ban sự sống phần hồn cho các tội nhân bằng cách tạo cho họ một quả tim tinh tuyền, và ban sự sống phần xác cho người đã chết qua việc phục sinh. Và bởi vì Ngài đã có thể lấy Lời của Ngài mà làm cho ánh sáng bừng lên từ bóng tối, nên Ngài cũng có thể ban ánh sáng đức tin cho những kẻ chưa biết Ngài.

Since God could create everything out of nothing, he can also, through the Holy Spirit, give spiritual life to sinners by creating a pure heart in them, and bodily life to the dead through the Resurrection. God "gives life to the dead and calls into existence the things that do not exist." and since God was able to make light shine in darkness by his Word, he can also give the light of faith to those who do not yet know him.

299

Nếu Thiên Chúa tạo dựng một cách khôn ngoan, thì công trình tạo dựng là có trật tự: “Chúa đã sắp xếp có chừng có mực, đã tính toán và cân nhắc cả rồi” (Kn 11,20). Trần gian được tạo dựng trong Ngôi Lời vĩnh cửu và nhờ Ngôi Lời vĩnh cửu, Đấng là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), trần gian đó là dành cho con người và hướng tới con người, là hình ảnh của Thiên Chúa, và được kêu gọi để sống trong tương quan cá vị với Thiên Chúa. Trí khôn của chúng ta, được tham dự vào ánh sáng của Đấng Thượng trí thần linh, có thể hiểu được những điều Thiên Chúa nói với chúng ta qua công trình tạo dựng, tuy phải cố gắng nhiều, và trong tinh thần khiêm tốn và kính trọng trước Đấng Tạo Hóa và công trình của Ngài. Công trình tạo dựng, được phát sinh do sự tốt lành của Thiên Chúa, nên nó được dự phần vào sự tốt lành này (“Và Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp,... là rất tốt đẹp”: St 1,4.10.12.18.21.31). Quả thật, Thiên Chúa đã muốn công trình tạo dựng là như một quà tặng dành cho con người, như một gia sản được gởi gắm và ủy thác cho con người. Nhiều lần Hội Thánh đã phải biện hộ cho sự tốt lành của công trình tạo dựng, bao gồm cả sự tốt lành của thế giới vật chất.

Because God creates through wisdom, his creation is ordered: "You have arranged all things by measure and number and weight." The universe, created in and by the eternal Word, the "image of the invisible God", is destined for and addressed to man, himself created in the "image of God" and called to a personal relationship with God. Our human understanding, which shares in the light of the divine intellect, can understand what God tells us by means of his creation, though not without great effort and only in a spirit of humility and respect before the Creator and his work. Because creation comes forth from God's goodness, it shares in that goodness - "and God saw that it was good. . . very good"- for God willed creation as a gift addressed to man, an inheritance destined for and entrusted to him. On many occasions the Church has had to defend the goodness of creation, including that of the physical world.

300

Thiên Chúa vô cùng cao cả hơn các công trình của Ngài: “Uy phong Ngài vượt quá trời cao” (Tv 8,2). “Ngài cao cả khôn dò khôn thấu” (Tv 145,3). Nhưng bởi vì Ngài là Đấng Tạo Hóa tối cao và tự do, là căn nguyên đệ nhất của tất cả những gì hiện hữu, nên Ngài hiện diện nơi thâm sâu nhất của các thụ tạo của Ngài: “Chính ở nơi Ngài mà chúng ta sống, cử động và hiện hữu” (Cv 17,28). Theo lời thánh Augustinô: Ngài “thâm sâu hơn sự thâm sâu nhất của tôi và cao vời hơn tột đỉnh của tôi.”

God is infinitely greater than all his works: "You have set your glory above the heavens." Indeed, God's "greatness is unsearchable". But because he is the free and sovereign Creator, the first cause of all that exists, God is present to his creatures' inmost being: "In him we live and move and have our being." In the words of St. Augustine, God is "higher than my highest and more inward than my innermost self".

301

Sau khi tạo dựng, Thiên Chúa không bỏ mặc thụ tạo của Ngài. Không những Thiên Chúa cho chúng hữu thể và hiện hữu, nhưng Ngài còn luôn luôn giữ gìn chúng “hiện hữu”, cho chúng có thể hoạt động và dẫn đưa chúng đến cùng đích của chúng. Nhận biết sự lệ thuộc tuyệt đối như vậy vào Đấng Tạo hóa là nguồn mạch của sự khôn ngoan và tự do, của niềm vui và sự tin tưởng: “Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên. Nếu như Ngài không muốn, làm sao một vật tồn tại nổi? Nếu như Ngài không cho hiện hữu, làm sao nó có thể được duy trì? Lạy Chúa Tể là Đấng yêu sự sống, Chúa xử khoan dung với mọi loài, vì mọi loài đều là của Chúa” (Kn 11,24-26).

With creation, God does not abandon his creatures to themselves. He not only gives them being and existence, but also, and at every moment, upholds and sustains them in being, enables them to act and brings them to their final end. Recognizing this utter dependence with respect to the Creator is a source of wisdom and freedom, of joy and confidence:

302

Công trình tạo dựng có sự tốt lành và hoàn hảo riêng, nhưng chưa tuyệt đối trọn vẹn khi xuất phát từ bàn tay Đấng Tạo Hóa. Trần gian được tạo dựng “trong tình trạng lên đường” (“in statu viae”) hướng đến sự hoàn hảo cuối cùng mà Thiên Chúa đã định cho chúng. Những sắp xếp nhờ đó Thiên Chúa dẫn đưa công trình tạo dựng của Ngài tới sự hoàn hảo đó, chúng ta gọi là sự quan phòng của Thiên Chúa. “Quả thật, nhờ sự quan phòng của Ngài, Thiên Chúa gìn giữ và điều khiển tất cả những gì Ngài đã tạo dựng, ‘từ chân trời này vươn mạnh tới chân trời kia, Ngài cai quản mọi loài thật tốt đẹp’ (Kn 8,1). ‘Nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mắt Ngài’ (Hr 4,13), kể cả những điều trong tương lai do hành động tự do của các thụ tạo.”

Creation has its own goodness and proper perfection, but it did not spring forth complete from the hands of the Creator. the universe was created "in a state of journeying" (in statu viae) toward an ultimate perfection yet to be attained, to which God has destined it. We call "divine providence" the dispositions by which God guides his creation toward this perfection:

303

Chứng từ của Thánh Kinh đều đồng nhất: Thiên Chúa quan phòng chăm sóc mọi sự cách cụ thể và trực tiếp, Ngài quan tâm đến tất cả mọi sự, từ những điều nhỏ nhất đến những biến cố trọng đại của trần gian và của lịch sử. Sách Thánh xác quyết mạnh mẽ quyền chủ tể tuyệt đối của Thiên Chúa trong dòng chảy của các biến cố: “Thiên Chúa chúng ta ở trên trời, muốn làm gì là Chúa làm nên” (Tv 115,3); và Sách Thánh nói về Đức Kitô: “Người mở ra thì không ai đóng lại được, Người đóng lại thì không ai mở ra được” (Kh 3,7). “Lòng con người ấp ủ bao dự tính, duy kế hoạch của Chúa mới trường tồn” (Cn 19,21).

The witness of Scripture is unanimous that the solicitude of divine providence is concrete and immediate; God cares for all, from the least things to the great events of the world and its history. the sacred books powerfully affirm God's absolute sovereignty over the course of events: "Our God is in the heavens; he does whatever he pleases." and so it is with Christ, "who opens and no one shall shut, who shuts and no one opens". As the book of Proverbs states: "Many are the plans in the mind of a man, but it is the purpose of the LORD that will be established."

304

Chúng ta nhận thấy điều này là, Chúa Thánh Thần, tác giả chính của Thánh Kinh, thường quy các hành động về Thiên Chúa, mà không nhắc đến các nguyên nhân đệ nhị. Đó không phải là “cách nói” sơ khai, nhưng là cách sâu sắc để nhắc nhớ đến quyền tối thượng của Thiên Chúa và quyền chủ tể tuyệt đối của Ngài trên lịch sử và trần gian, và như vậy, để dạy người ta phải tín thác vào Ngài. Cách cầu nguyện của các Thánh vịnh là trường huấn luyện quan trọng về niềm tín thác này.

And so we see the Holy Spirit, the principal author of Sacred Scripture, often attributing actions to God without mentioning any secondary causes. This is not a "primitive mode of speech", but a profound way of recalling God's primacy and absolute Lordship over history and the world, and so of educating his people to trust in him. the prayer of the Psalms is the great school of this trust.

305

Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phó thác với tình con thảo cho sự quan phòng của Cha trên trời, Đấng chăm sóc đến những nhu cầu nhỏ bé nhất của con cái Ngài: “Anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì? uống gì?... Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài, còn tất cả những thứ kia, Ngài sẽ thêm cho” (Mt 6,31-33).

Jesus asks for childlike abandonment to the providence of our heavenly Father who takes care of his children's smallest needs: "Therefore do not be anxious, saying, "What shall we eat?" or "What shall we drink?". . . Your heavenly Father knows that you need them all. But seek first his kingdom and his righteousness, and all these things shall be yours as well."

306

Thiên Chúa là Chúa tể của kế hoạch của Ngài. Nhưng để thực hiện kế hoạch ấy, Ngài cũng dùng đến sự cộng tác của các thụ tạo. Đây không phải là dấu hiệu của sự yếu kém, nhưng là dấu chỉ của sự cao cả và lòng nhân hậu của Thiên Chúa toàn năng. Quả vậy, Thiên Chúa không những ban cho các thụ tạo được hiện hữu, nhưng còn ban cho chúng phẩm giá để chúng hoạt động, để chúng nên nguyên nhân và nguyên lý cho nhau, và như vậy, để chúng cộng tác vào việc hoàn thành kế hoạch của Ngài.

God is the sovereign master of his plan. But to carry it out he also makes use of his creatures' co-operation. This use is not a sign of weakness, but rather a token of almighty God's greatness and goodness. For God grants his creatures not only their existence, but also the dignity of acting on their own, of being causes and principles for each other, and thus of co-operating in the accomplishment of his plan.

307

Đối với con người, Thiên Chúa còn ban cho dư đầy khả năng để tham dự một cách tự do vào sự quan phòng của Ngài, khi trao cho họ trách nhiệm làm chủ trái đất và thống trị nó. Như vậy, Thiên Chúa cho con người trở nên những nguyên nhân thông minh và tự do để hoàn thành công trình tạo dựng, và thực hiện sự hài hòa của công trình ấy hầu mưu ích cho chính mình và cho tha nhân. Con người, những cộng tác viên thường là vô ý thức, của thánh ý Thiên Chúa, có thể tham gia một cách ý thức vào kế hoạch của Thiên Chúa bằng hành động, bằng kinh nguyện, và cả bằng các đau khổ của mình. Như vậy, họ trở thành “những cộng sự viên của Thiên Chúa” (1 Cr 3,9) và của Nước Ngài cách trọn vẹn.

To human beings God even gives the power of freely sharing in his providence by entrusting them with the responsibility of "subduing" the earth and having dominion over it. God thus enables men to be intelligent and free causes in order to complete the work of creation, to perfect its harmony for their own good and that of their neighbours. Though often unconscious collaborators with God's will, they can also enter deliberately into the divine plan by their actions, their prayers and their sufferings. They then fully become "God's fellow workers" and co-workers for his kingdom.

308

Chân lý sau đây là không thể tách rời khỏi đức tin vào Thiên Chúa Tạo Hóa: Thiên Chúa hành động trong mọi hoạt động của các thụ tạo của Ngài. Ngài là nguyên nhân đệ nhất, hành động trong và qua các nguyên nhân đệ nhị: “Vì chính Thiên Chúa tác động đến ý chí cũng như hành động của anh em do lòng yêu thương của Ngài” (Pl 2,13). Chân lý này không những không làm giảm bớt phẩm giá của thụ tạo, nhưng còn nâng nó lên. Thụ tạo, được tạo dựng từ hư vô bởi quyền năng, sự khôn ngoan và lòng nhân hậu của Thiên Chúa, không thể làm gì được nếu bị cắt khỏi nguồn gốc của mình; “vì không có Đấng Tạo Hóa, thụ tạo sẽ tan biến”; thụ tạo lại càng không thể đạt tới cùng đích tối hậu của mình nếu không có sự trợ giúp của ân sủng.

The truth that God is at work in all the actions of his creatures is inseparable from faith in God the Creator. God is the first cause who operates in and through secondary causes: "For God is at work in you, both to will and to work for his good pleasure." Far from diminishing the creature's dignity, this truth enhances it. Drawn from nothingness by God's power, wisdom and goodness, it can do nothing if it is cut off from its origin, for "without a Creator the creature vanishes." Still less can a creature attain its ultimate end without the help of God's grace.

309

Nếu Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo dựng nên trần gian có trật tự và tốt đẹp, chăm sóc tất cả các thụ tạo của Ngài, thì tại sao lại có sự dữ? Trước câu hỏi vừa khẩn thiết vừa không thể tránh được, vừa bi thảm vừa bí nhiệm này, không câu trả lời vội vàng nào là đầy đủ được. Chỉ có toàn bộ đức tin Kitô Giáo mới là câu trả lời cho câu hỏi này: sự tốt đẹp của công trình tạo dựng, thảm kịch tội lỗi, tình yêu kiên nhẫn của Thiên Chúa, Đấng đã đi bước trước đến với con người qua các Giao Ước của Ngài, qua việc Con Ngài Nhập Thể đem lại ơn cứu chuộc, qua việc ban Chúa Thánh Thần, qua việc quy tụ Hội Thánh, qua sức mạnh của các bí tích, qua việc kêu gọi tới cuộc sống vĩnh phúc, mà ngay từ đầu các thụ tạo có tự do được mời gọi đón nhận, nhưng cũng ngay từ đầu, do một huyền nhiệm khủng khiếp, họ có thể từ chối! Không có khía cạnh nào của sứ điệp Kitô Giáo mà lại không phải là một phần câu trả lời cho câu hỏi về sự dữ.

If God the Father almighty, the Creator of the ordered and good world, cares for all his creatures, why does evil exist? To this question, as pressing as it is unavoidable and as painful as it is mysterious, no quick answer will suffice. Only Christian faith as a whole constitutes the answer to this question: the goodness of creation, the drama of sin and the patient love of God who comes to meet man by his covenants, the redemptive Incarnation of his Son, his gift of the Spirit, his gathering of the Church, the power of the sacraments and his call to a blessed life to which free creatures are invited to consent in advance, but from which, by a terrible mystery, they can also turn away in advance. There is not a single aspect of the Christian message that is not in part an answer to the question of evil.

310

Nhưng tại sao Thiên Chúa lại không tạo dựng một trần gian thật hoàn hảo đến nỗi không thể có một sự dữ nào trong đó? Theo quyền năng vô biên của Ngài, Thiên Chúa luôn có thể tạo dựng được một thế giới tốt hơn. Nhưng trong sự khôn ngoan và lòng nhân hậu vô biên của Ngài, Thiên Chúa đã tự ý muốn dựng nên một trần gian “trong tình trạng lên đường” hướng về sự hoàn hảo cuối cùng của nó. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, quá trình này gồm có việc những vật này xuất hiện và những vật khác biến đi, có cái hoàn hảo hơn và có cái kém hơn, có xây đắp và cũng có tàn phá trong thiên nhiên. Như vậy, cùng với sự tốt lành thể lý, cũng có sự dữ thể lý, bao lâu công trình tạo dựng chưa đạt tới mức hoàn hảo của nó .

But why did God not create a world so perfect that no evil could exist in it? With infinite power God could always create something better. But with infinite wisdom and goodness God freely willed to create a world "in a state of journeying" towards its ultimate perfection. In God's plan this process of becoming involves the appearance of certain beings and the disappearance of others, the existence of the more perfect alongside the less perfect, both constructive and destructive forces of nature. With physical good there exists also physical evil as long as creation has not reached perfection.

311

Các Thiên thần và các con người, là những thụ tạo thông minh và tự do, phải tiến về mục đích tối hậu của mình, nhờ sự lựa chọn tự do và yêu mến điều gì là ưu tiên. Vì vậy, họ có thể đi sai đường. Trong thực tế, họ đã phạm tội. Như vậy, sự dữ luân lý, vô cùng nghiêm trọng hơn so với sự dữ thể lý, đã xâm nhập vào trần gian. Thiên Chúa không bao giờ, bằng bất cứ cách nào, một cách trực tiếp hay gián tiếp, là nguyên nhân của sự dữ luân lý. Tuy nhiên, Ngài cho phép điều đó, vì tôn trọng sự tự do của thụ tạo của Ngài, và một cách bí nhiệm, Ngài biết từ sự dữ dẫn đưa tới điều thiện hảo: “Quả thật, Thiên Chúa toàn năng tốt lành vô cùng, nên không bao giờ cho phép một sự dữ nào xảy ra trong các công trình của Ngài, nếu Ngài không toàn năng và tốt lành đến độ Ngài có thể hành động cách tốt đẹp từ sự dữ.”

Angels and men, as intelligent and free creatures, have to journey toward their ultimate destinies by their free choice and preferential love. They can therefore go astray. Indeed, they have sinned. Thus has moral evil, incommensurably more harmful than physical evil, entered the world. God is in no way, directly or indirectly, the cause of moral evil. He permits it, however, because he respects the freedom of his creatures and, mysteriously, knows how to derive good from it:

312

Như vậy, với thời gian, chúng ta có thể nhận ra rằng: Thiên Chúa, trong sự quan phòng toàn năng của Ngài, có thể dẫn đưa tới điều thiện hảo từ những hậu quả của sự dữ, cho dù là sự dữ luân lý, do các thụ tạo của Ngài gây nên: “Không phải các anh đã gửi tôi đến đây, nhưng là Thiên Chúa... Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt để... cứu sống một dân đông đảo” (St 45,8; 50,20). Từ sự dữ luân lý lớn lao nhất người ta từng phạm, là việc khước từ và giết chết Con Thiên Chúa, sự dữ đó là do tội lỗi của tất cả mọi người gây nên, Thiên Chúa đã dẫn đưa tới điều thiện hảo cao trọng nhất, nhờ ân sủng chan chứa gấp bội của Ngài: Đức Kitô được tôn vinh và chúng ta được cứu chuộc. Tuy nhiên, không vì vậy mà sự dữ trở thành điều thiện hảo.

In time we can discover that God in his almighty providence can bring a good from the consequences of an evil, even a moral evil, caused by his creatures: "It was not you", said Joseph to his brothers, "who sent me here, but God. . . You meant evil against me; but God meant it for good, to bring it about that many people should be kept alive." From the greatest moral evil ever committed - the rejection and murder of God's only Son, caused by the sins of all men - God, by his grace that "abounded all the more", brought the greatest of goods: the glorification of Christ and our redemption. But for all that, evil never becomes a good.

313

“Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài” (Rm 8,28). Chứng từ của các Thánh không ngừng củng cố chân lý này. Thánh Catarina Siêna nói với “những người bất bình và nổi dậy chống lại những gì xảy đến cho họ”: “Mọi sự được ban tặng bởi tình yêu và được quan phòng cho phần rỗi của con người, chứ không vì bất cứ mục đích nào khác.” Ngay trước khi chịu tử đạo, thánh Tôma More an ủi con gái mình: “Không gì có thể xảy ra mà không do Thiên Chúa muốn. Mà bất cứ điều gì Ngài muốn, thì dù đối với chúng ta có vẻ là sự dữ, nhưng thật ra đó là điều thiện hảo nhất.” Và bà Giuliana Norwich viết: “Nhờ ơn Chúa, tôi đã được dạy phải vững vàng gắn bó với đức tin... và tin một cách mạnh mẽ rằng mọi sự sẽ tốt đẹp... Chính bạn sẽ thấy là mọi sự sẽ tốt đẹp.”

"We know that in everything God works for good for those who love him." The constant witness of the saints confirms this truth:

314

Chúng ta tin vững vàng rằng Thiên Chúa là Chúa của trần gian và của lịch sử. Nhưng thường chúng ta không biết được các đường lối của sự quan phòng của Ngài. Chỉ khi nào tới chung cuộc, lúc mà sự hiểu biết phiến diện của chúng ta kết thúc, khi chúng ta thấy Thiên Chúa “mặt giáp mặt” (1 Cr 13,12), chúng ta sẽ hiểu biết một cách trọn vẹn các đường lối này, mà qua đó, kể cả nhờ những thảm kịch của sự dữ và tội lỗi, Thiên Chúa dẫn đưa công trình tạo dựng của Ngài tới sự nghỉ ngơi của ngày Sabat chung cuộc, vì ngày đó mà Thiên Chúa đã tạo dựng trời đất.

We firmly believe that God is master of the world and of its history. But the ways of his providence are often unknown to us. Only at the end, when our partial knowledge ceases, when we see God "face to face", will we fully know the ways by which - even through the dramas of evil and sin - God has guided his creation to that definitive sabbath rest for which he created heaven and earth.

315

Thiên Chúa, trong công trình tạo dựng trần gian và con người, đã cho thấy chứng từ đầu tiên và phổ quát về tình yêu toàn năng và sự khôn ngoan của Ngài, đây là lời loan báo đầu tiên về “kế hoạch nhân hậu” của Ngài, một kế hoạch có mục đích là công trình tạo dựng mới trong Đức Kitô.

In the creation of the world and of man, God gave the first and universal witness to his almighty love and his wisdom, the first proclamation of the "plan of his loving goodness", which finds its goal in the new creation in Christ.

316

Tuy công trình tạo dựng được đặc biệt coi là của Chúa Cha, nhưng chân lý đức tin cũng dạy: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là nguyên lý duy nhất và không thể phân chia của công trình tạo dựng.

Though the work of creation is attributed to the Father in particular, it is equally a truth of faith that the Father, Son and Holy Spirit together are the one, indivisible principle of creation.

317

Một mình Thiên Chúa đã tạo dựng trần gian một cách tự do, trực tiếp, không hề có một sự trợ giúp nào.

God alone created the universe, freely, directly and without any help.

318

Không một thụ tạo nào có quyền năng vô biên cần thiết để “tạo dựng” theo đúng nghĩa của từ này, nghĩa là, làm ra và cho hiện hữu điều gì trước đó không hề có (kêu gọi nó hiện hữu “từ hư vô”).

No creature has the infinite power necessary to "create" in the proper sense of the word, that is, to produce and give being to that which had in no way possessed it to call into existence "out of nothing") (cf DS 3624).

319

Thiên Chúa đã tạo dựng trần gian để biểu lộ và truyền thông vinh quang của Ngài. Sự vinh quang mà vì đó Thiên Chúa đã tạo dựng các thụ tạo của Ngài, là để chúng được dự phần vào sự chân thiện mỹ của Ngài.

God created the world to show forth and communicate his glory. That his creatures should share in his truth, goodness and beauty - this is the glory for which God created them.

320

Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng trần gian, gìn giữ nó hiện hữu nhờ Ngôi Lời, là Con của Ngài, Đấng “dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật” (Hr 1,3), và nhờ Thần Khí Sáng Tạo của Ngài, Đấng ban sự sống.

God created the universe and keeps it in existence by his Word, the Son "upholding the universe by his word of power" (Heb 1:3), and by his Creator Spirit, the giver of life.

321

Sự quan phòng của Thiên Chúa là những sắp xếp nhờ đó Thiên Chúa, với sự khôn ngoan và tình yêu, dẫn đưa mọi thụ tạo của Ngài tới mục đích tối hậu của chúng.

Divine providence consists of the dispositions by which God guides all his creatures with wisdom and love to their ultimate end.

322

Đức Kitô mời gọi chúng ta phó thác với tình con thảo vào sự quan phòng của Cha trên trời, và thánh Tông Đồ Phêrô nhắc lại: “Mọi âu lo, hãy trút cả cho Ngài, vì Ngài chăm sóc anh em” (1 Pr 5,7).

Christ invites us to filial trust in the providence of our heavenly Father (cf Mt 6:26-34), and St. Peter the apostle repeats: "Cast all your anxieties on him, for he cares about you" (I Pt 5:7; cf. Ps 55:23).

323

Thiên Chúa quan phòng cũng hành động qua hành động của các thụ tạo. Thiên Chúa cho con người được cộng tác một cách tự do vào các kế hoạch của Ngài.

Divine providence works also through the actions of creatures. To human beings God grants the ability to co-operate freely with his plans.

324

Việc Thiên Chúa cho phép có sự dữ thể lý và sự dữ luân lý là một mầu nhiệm mà Thiên Chúa làm sáng tỏ nhờ Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, đã chết và đã sống lại để chiến thắng sự dữ. Đức tin giúp chúng ta xác tín rằng, Thiên Chúa đã không cho phép sự dữ xuất hiện, nếu Ngài không làm phát sinh điều thiện hảo từ chính sự dữ đó, bằng những đường lối mà chúng ta chỉ biết được trọn vẹn trong đời sống vĩnh cửu.

The fact that God permits physical and even moral evil is a mystery that God illuminates by his Son Jesus Christ who died and rose to vanquish evil. Faith gives us the certainty that God would not permit an evil if he did not cause a good to come from that very evil, by ways that we shall fully know only in eternal life.