Hỏi Đáp Công Giáo
Tuyên Xưng Đức Tin · “Tôi tin” · “chúng tôi tin” · Thiên Chúa đến gặp con người
MỤC 3

Thánh Kinh

Số 101–141
101

Thiên Chúa, trong sự hạ cố do lòng nhân hậu của Ngài, để tự mặc khải cho loài người, đã dùng ngôn ngữ phàm nhân mà nói với họ: “Các lời của Thiên Chúa, được diễn tả bằng ngôn ngữ loài người, đã trở nên tương tự với lời nói loài người, cũng như khi xưa Lời của Chúa Cha vĩnh cửu đã mặc lấy xác thịt yếu đuối của loài người, đã trở nên giống như loài người.”

In order to reveal himself to men, in the condescension of his goodness God speaks to them in human words: "Indeed the words of God, expressed in the words of men, are in every way like human language, just as the Word of the eternal Father, when he took on himself the flesh of human weakness, became like men."

102

Qua tất cả các lời ở trong Thánh Kinh, Thiên Chúa chỉ nói một Lời, là (Ngôi) Lời duy nhất của Ngài. Trong Ngôi Lời, Thiên Chúa bày tỏ tất cả về chính mình Ngài: “Anh em hãy nhớ rằng một Lời duy nhất của Thiên Chúa được trải ra trong toàn bộ Thánh Kinh, một Lời duy nhất vang trên môi miệng của các Thánh. Lời này lúc khởi đầu là Thiên Chúa hướng về Thiên Chúa, lúc ấy Lời không có các âm vận, bởi vì Ngài không lệ thuộc thời gian.”

Through all the words of Sacred Scripture, God speaks only one single Word, his one Utterance in whom he expresses himself completely:

103

Vì lý do đó, Hội Thánh đã luôn tôn kính Thánh Kinh như đã tôn kính chính Thân Thể [Mình Thánh] Chúa. Hội Thánh không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như bàn tiệc Thân Thể [Mình Thánh] Chúa Kitô mà trao ban cho các tín hữu.

For this reason, the Church has always venerated the Scriptures as she venerates the Lord's Body. She never ceases to present to the faithful the bread of life, taken from the one table of God's Word and Christ's Body.

104

Hội Thánh không ngừng tìm thấy lương thực và sức mạnh cho mình trong Thánh Kinh, vì nơi đó, Hội Thánh không chỉ tiếp nhận một lời phàm nhân, nhưng thực sự là Lời của Thiên Chúa. “Quả thật, trong các sách thánh, Cha trên trời âu yếm đến gặp con cái và trò chuyện với họ.”

In Sacred Scripture, the Church constantly finds her nourishment and her strength, for she welcomes it not as a human word, "but as what it really is, the word of God". "In the sacred books, the Father who is in heaven comes lovingly to meet his children, and talks with them."

105

Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh. “Những gì Thiên Chúa mặc khải mà Thánh Kinh chứa đựng và trình bày, đều được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần.” “Thật vậy, Hội Thánh, Mẹ thánh chúng ta, nhờ đức tin tông truyền, xác nhận rằng toàn bộ các sách Cựu Ước cũng như Tân Ước với tất cả các phần đoạn đều là sách thánh và được ghi vào bản thư quy Thánh Kinh: bởi lẽ được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, các sách ấy có tác giả là chính Thiên Chúa và được truyền lại cho chính Hội Thánh với tư cách đó.”

God is the author of Sacred Scripture. "The divinely revealed realities, which are contained and presented in the text of Sacred Scripture, have been written down under the inspiration of the Holy Spirit."

106

Thiên Chúa đã linh hứng cho các tác giả phàm nhân viết ra các sách thánh. “Để viết ra các sách thánh, Thiên Chúa đã chọn những con người và dùng họ trong tài năng và sức lực của họ, để khi chính Ngài hành động trong họ và qua họ, họ viết ra như những tác giả đích thật tất cả những gì Chúa muốn, và chỉ những điều đó thôi.”

God inspired the human authors of the sacred books. "To compose the sacred books, God chose certain men who, all the while he employed them in this task, made full use of their own faculties and powers so that, though he acted in them and by them, it was as true authors that they consigned to writing whatever he wanted written, and no more."

107

Các sách được linh hứng giảng dạy sự thật. “Vì phải xem mọi lời tác giả được linh hứng, tức các thánh sử, viết ra, là những điều Chúa Thánh Thần xác quyết, nên phải tuyên xưng rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại nhằm cứu độ chúng ta.”

The inspired books teach the truth. "Since therefore all that the inspired authors or sacred writers affirm should be regarded as affirmed by the Holy Spirit, we must acknowledge that the books of Scripture firmly, faithfully, and without error teach that truth which God, for the sake of our salvation, wished to see confided to the Sacred Scriptures."

108

Tuy nhiên, đức tin Kitô Giáo không phải là một “tôn giáo của Sách vở.” Kitô Giáo là tôn giáo của “Lời” Thiên Chúa: Lời đó “không phải là lời được viết ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể và sống động.” Cần thiết là phải có Đức Kitô, Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa hằng sống, nhờ Chúa Thánh Thần, mở trí cho chúng ta, thì chúng ta mới hiểu được Thánh Kinh, nếu không thì các sách đó chỉ là văn tự chết.

Still, the Christian faith is not a "religion of the book". Christianity is the religion of the "Word" of God, "not a written and mute word, but incarnate and living". If the Scriptures are not to remain a dead letter, Christ, the eternal Word of the living God, must, through the Holy Spirit, "open (our) minds to understand the Scriptures."

109

Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa nói với con người theo cách thức loài người. Vì vậy, để giải thích Thánh Kinh cho đúng, phải cẩn thận tìm hiểu điều các tác giả phàm nhân thật sự có ý khẳng định và điều Thiên Chúa muốn tỏ bày cho chúng ta qua lời lẽ của các ngài.

In Sacred Scripture, God speaks to man in a human way. To interpret Scripture correctly, the reader must be attentive to what the human authors truly wanted to affirm, and to what God wanted to reveal to us by their words.

110

Để thấy được ý của các vị thánh sử, cần lưu ý đến các điều kiện về thời đại và văn hóa của các ngài, đến các “văn thể” được dùng trong thời đó, đến cách cảm nghĩ, nói năng và tường thuật, thường được dùng vào thời đại của thánh sử. “Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau, như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi phú hoặc những thể văn diễn tả khác.”

In order to discover the sacred authors' intention, the reader must take into account the conditions of their time and culture, the literary genres in use at that time, and the modes of feeling, speaking and narrating then current. "For the fact is that truth is differently presented and expressed in the various types of historical writing, in prophetical and poetical texts, and in other forms of literary expression."

111

Nhưng bởi vì Thánh Kinh được linh hứng, nên có một nguyên tắc khác để giải thích cho đúng. Nguyên tắc này không kém quan trọng so với nguyên tắc trên và nếu không có nguyên tắc này thì Thánh Kinh chỉ là văn tự chết: “Bởi vì Thánh Kinh đã được viết ra bởi Chúa Thánh Thần, thì cũng phải được đọc và giải thích nhờ chính Thánh Thần.” Công đồng Vaticanô II đưa ra ba tiêu chuẩn để giải thích Thánh Kinh theo Chúa Thánh Thần, Đấng đã linh hứng Thánh Kinh:

But since Sacred Scripture is inspired, there is another and no less important principle of correct interpretation, without which Scripture would remain a dead letter. "Sacred Scripture must be read and interpreted in the light of the same Spirit by whom it was written."

112

1. Phải hết sức chú ý đến “nội dung và sự duy nhất của toàn bộ Thánh Kinh”. Mặc dầu các sách hợp thành bộ Thánh Kinh có khác biệt nhau mấy đi nữa, Thánh Kinh vẫn là một, bởi kế hoạch của Thiên Chúa chỉ có một và Đức Kitô Giêsu là trung tâm và trái tim của kế hoạch ấy, một trái tim đã rộng mở sau cuộc Vượt Qua của Người. “Hình ảnh ‘Trái tim Đức Kitô’ được hiểu về Thánh Kinh, vì Thánh Kinh bộc lộ trái tim của Người. Trước cuộc khổ nạn, trái tim này còn đóng kín, bởi vì Thánh Kinh còn tối nghĩa. Nhưng sau cuộc khổ nạn, Thánh Kinh đã được mở ra, bởi vì từ lúc đó những ai hiểu Thánh Kinh sẽ biết suy xét và phân định các sấm ngôn phải được giải thích như thế nào.”

Be especially attentive "to the content and unity of the whole Scripture". Different as the books which compose it may be, Scripture is a unity by reason of the unity of God's plan, of which Christ Jesus is the center and heart, open since his Passover.

113

2. Phải đọc Thánh Kinh trong “Thánh Truyền sống động của Hội Thánh”. Theo châm ngôn của các Giáo phụ, Thánh Kinh được viết chủ yếu trên trái tim của Hội Thánh hơn là trên những vật liệu thể chất. Thật vậy, Hội Thánh lưu giữ ký ức sống động về Lời Thiên Chúa trong Thánh Truyền của mình, và Chúa Thánh Thần ban cho Hội Thánh khả năng giải thích Thánh Kinh theo cách thiêng liêng (“theo nghĩa thiêng liêng mà Chúa Thánh Thần ban cho Hội Thánh” ).

2. Read the Scripture within "the living Tradition of the whole Church". According to a saying of the Fathers, Sacred Scripture is written principally in the Church's heart rather than in documents and records, for the Church carries in her Tradition the living memorial of God's Word, and it is the Holy Spirit who gives her the spiritual interpretation of the Scripture (". . . according to the spiritual meaning which the Spirit grants to the Church").

114

3. Phải chú ý đến “tính tương hợp của đức tin” . Thuật ngữ “tính tương hợp của đức tin” có nghĩa là sự liên hệ hài hòa giữa các chân lý đức tin với nhau và trong toàn bộ chương trình mặc khải.

3. Be attentive to the analogy of faith. By "analogy of faith" we mean the coherence of the truths of faith among themselves and within the whole plan of Revelation.

115

Theo một truyền thống cổ xưa, có thể phân biệt hai nghĩa của Thánh Kinh: nghĩa văn tự và nghĩa thiêng liêng. Nghĩa thiêng liêng lại được chia thành nghĩa ẩn dụ, nghĩa luân lý và nghĩa dẫn đường. Sự hòa hợp sâu xa của bốn nghĩa này đem lại cho việc đọc Thánh Kinh cách sống động trong Hội Thánh tất cả sự phong phú của nó.

According to an ancient tradition, one can distinguish between two senses of Scripture: the literal and the spiritual, the latter being subdivided into the allegorical, moral and anagogical senses. the profound concordance of the four senses guarantees all its richness to the living reading of Scripture in the Church.

116

Nghĩa văn tự: Đây là nghĩa được các lời của Thánh Kinh nói lên và được khoa chú giải nhận ra dựa trên những quy tắc giải thích đúng đắn. “Tất cả các nghĩa của Thánh Kinh đều đặt nền tảng trên nghĩa văn tự.”

The literal sense is the meaning conveyed by the words of Scripture and discovered by exegesis, following the rules of sound interpretation: "All other senses of Sacred Scripture are based on the literal."

117

Nghĩa thiêng liêng: Vì tính thống nhất của kế hoạch của Thiên Chúa, không những bản văn Thánh Kinh, mà cả những sự việc và biến cố được bản văn nói tới, đều có thể là những dấu chỉ. 1. Nghĩa ẩn dụ: Chúng ta có thể hiểu biết các biến cố một cách sâu xa hơn khi nhận ra ý nghĩa của chúng trong Đức Kitô. Thí dụ cuộc vượt qua Biển Đỏ là dấu chỉ cuộc chiến thắng của Đức Kitô, và do đó cũng là dấu chỉ của bí tích Rửa Tội. 2. Nghĩa luân lý: Các biến cố được Thánh Kinh thuật lại phải dẫn đưa chúng ta đến hành động chính trực. Các biến cố đó được viết ra “để răn dạy chúng ta” (1 Cr 10,11). 3. Nghĩa dẫn đường: Chúng ta cũng có thể nhìn các sự việc và các biến cố trong ý nghĩa vĩnh cửu của chúng, theo nghĩa chúng dẫn đường (tiếng Hy Lạp: anagoge, nghĩa là dẫn đường) cho chúng ta về Quê trời. Thí dụ Hội Thánh nơi trần thế là dấu chỉ Giêrusalem thiên quốc.

The spiritual sense. Thanks to the unity of God's plan, not only the text of Scripture but also the realities and events about which it speaks can be signs. 1. the allegorical sense. We can acquire a more profound understanding of events by recognizing their significance in Christ; thus the crossing of the Red Sea is a sign or type of Christ's victory and also of Christian Baptism. 2. the moral sense. the events reported in Scripture ought to lead us to act justly. As St. Paul says, they were written "for our instruction". 3. the anagogical sense (Greek: anagoge, "leading"). We can view realities and events in terms of their eternal significance, leading us toward our true homeland: thus the Church on earth is a sign of the heavenly Jerusalem.

118

Có một câu thơ thời Trung Cổ tóm tắt bốn nghĩa ấy như sau: “Nghĩa văn tự dạy về biến cố, nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin, nghĩa luân lý dạy điều phải làm, nghĩa dẫn đường dạy điều phải vươn tới.”

A medieval couplet summarizes the significance of the four senses:

119

“Các nhà chú giải có nhiệm vụ dựa theo những quy tắc đó mà cố gắng hiểu thấu và trình bày ý nghĩa Thánh Kinh cách sâu sắc hơn, ngõ hầu nhờ sự học hỏi có thể gọi là chuẩn bị đó, phán quyết của Hội Thánh được chín chắn. Quả vậy, mọi điều liên hệ đến việc giải thích Thánh Kinh cuối cùng đều phải lệ thuộc vào phán quyết của Hội Thánh, vì Hội Thánh đã nhận từ Thiên Chúa mệnh lệnh và nhiệm vụ gìn giữ và giải thích Lời Thiên Chúa.” “Tôi sẽ không tin Tin Mừng, nếu không có quyền bính của Hội Thánh Công Giáo thúc đẩy tôi.”

"It is the task of exegetes to work, according to these rules, towards a better understanding and explanation of the meaning of Sacred Scripture in order that their research may help the Church to form a firmer judgement. For, of course, all that has been said about the manner of interpreting Scripture is ultimately subject to the judgement of the Church which exercises the divinely conferred commission and ministry of watching over and interpreting the Word of God."

120

Truyền Thống các Tông Đồ giúp Hội Thánh phân định những văn bản nào phải được kể vào danh mục các Sách Thánh. Danh mục đầy đủ này được gọi là “Thư quy” Thánh Kinh. Thánh Kinh gồm 46 bản văn Cựu Ước (hoặc 45, nếu gom Giêrêmia và Ai Ca thành một) và 27 bản văn Tân Ước. Đó là: Phần Cựu Ước gồm các sách: Sáng Thế, Xuất Hành, Lêvi, Dân Số, Đệ Nhị Luật, Giôsuê, Thủ Lãnh, Rút, Samuen 1 và 2, Các Vua 1 và 2, Sử Biên Niên 1 và 2, Étra và Nơkhemia, Tôbia, Giuđitha, Étte, Macabê 1 và 2, Gióp, Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan, Huấn Ca, Isaia, Giêrêmia, Ai Ca, Barúc, Êdêkien, Đanien, Hôsê, Giôen, Amốt, Ôvađia, Giôna, Mikha, Nakhum, Khabacúc, Xôphônia, Khácgai, Dacaria, Malakhi. Phần Tân Ước gồm các sách: Tin Mừng theo Thánh Mátthêu, Tin Mừng theo Thánh Máccô, Tin Mừng theo Thánh Luca, Tin Mừng theo Thánh Gioan, Sách Công vụ Tông Đồ, Thư gửi tín hữu Rôma, Thư 1 và 2 gửi tín hữu Côrintô, Thư gửi tín hữu Galát, Thư gửi tín hữu Êphêxô, Thư gửi tín hữu Philípphê, Thư gửi tín hữu Côlôxê, Thư 1 và 2 gửi tín hữu Thêxalônica, Thư 1 và 2 gửi ông Timôthê, Thư gửi ông Titô, Thư gửi ông Philêmôn, Thư gửi tín hữu Do Thái, Thư của Thánh Giacôbê, Thư 1 và 2 của Thánh Phêrô, Thư 1, 2 và 3 của Thánh Gioan, Thư của Thánh Giuđa, Sách Khải Huyền.

It was by the apostolic Tradition that the Church discerned which writings are to be included in the list of the sacred books.

121

Cựu Ước là một phần không thể thiếu được của Thánh Kinh. Tất cả các tác phẩm của Cựu Ước được Thiên Chúa linh hứng nên có một giá trị trường tồn, bởi vì Giao Ước cũ không hề bị thu hồi.

The Old Testament is an indispensable part of Sacred Scripture. Its books are divinely inspired and retain a permanent value, for the Old Covenant has never been revoked.

122

Thật vậy, “Nhiệm cục Cựu Ước được bố trí với mục đích chính yếu là để chuẩn bị cho ngày quang lâm của Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ muôn loài.” Các sách Cựu Ước, “tuy có nhiều bất toàn và tạm bợ”, vẫn làm chứng về phương pháp giáo dục của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa: các sách ấy “diễn tả một cảm thức sâu sắc về Thiên Chúa, tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Ngài, một khoa khôn ngoan hữu ích về đời sống con người, và những kho tàng kinh nguyện tuyệt diệu; sau cùng, trong đó ẩn chứa mầu nhiệm ơn cứu độ chúng ta.”

Indeed, "the economy of the Old Testament was deliberately SO oriented that it should prepare for and declare in prophecy the coming of Christ, redeemer of all men." "Even though they contain matters imperfect and provisional, The books of the OldTestament bear witness to the whole divine pedagogy of God's saving love: these writings "are a storehouse of sublime teaching on God and of sound wisdom on human life, as well as a wonderful treasury of prayers; in them, too, the mystery of our salvation is present in a hidden way."

123

Các Kitô hữu tôn kính Cựu Ước với tính cách Lời đích thực của Thiên Chúa. Hội Thánh luôn cực lực chống lại ý kiến đòi gạt bỏ Cựu Ước, viện cớ là Tân Ước đã làm cho Cựu Ước ra lỗi thời (chủ thuyết Marcion).

Christians venerate the Old Testament as true Word of God. the Church has always vigorously opposed the idea of rejecting the Old Testament under the pretext that the New has rendered it void (Marcionism).

124

“Trong các sách Tân Ước, Lời Thiên Chúa là quyền năng của Thiên Chúa để cứu rỗi mọi tín hữu, được trình bày và biểu dương sức mạnh cách trổi vượt.” Các sách ấy trao cho chúng ta chân lý tối hậu được Thiên Chúa mặc khải. Đối tượng trung tâm của Tân Ước là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa nhập thể, các việc làm và giáo huấn của Người, cuộc khổ nạn và việc tôn vinh Người, cũng như những bước đầu của Hội Thánh Người dưới tác động của Chúa Thánh Thần.

"The Word of God, which is the power of God for salvation to everyone who has faith, is set forth and displays its power in a most wonderful way in the writings of the New Testament" which hand on the ultimate truth of God's Revelation. Their central object is Jesus Christ, God's incarnate Son: his acts, teachings, Passion and glorification, and his Church's beginnings under the Spirit's guidance.

125

Các sách Tin Mừng là tâm điểm của tất cả các sách Thánh Kinh “vì là chứng tích chính yếu về đời sống và giáo huấn của Ngôi Lời nhập thể, Đấng Cứu Chuộc chúng ta.”

The Gospels are the heart of all the Scriptures "because they are our principal source for the life and teaching of the Incarnate Word, our Saviour".

126

Trong việc hình thành các sách Tin Mừng, người ta có thể phân biệt ba giai đoạn: 1. Cuộc đời và giáo huấn của Chúa Giêsu. Hội Thánh quả quyết cách mạnh mẽ rằng bốn sách Tin Mừng “mà Hội Thánh không ngần ngại khẳng định lịch sử tính, trung thành lưu truyền những gì Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, khi sống giữa loài người, thật sự đã làm và đã dạy nhằm phần rỗi đời đời của họ, cho tới ngày Người được đưa lên trời.” 2. Giáo huấn truyền khẩu. “Thật vậy, sau khi Chúa lên trời, các Tông Đồ đã truyền lại cho những người nghe những điều Người đã nói và đã làm với sự thông hiểu đầy đủ hơn mà chính các ngài có nhờ học được từ các biến cố vinh hiển của Chúa Kitô và nhờ ánh sáng Thần chân lý dạy dỗ.” 3. Các sách Tin Mừng. “Vậy các thánh sử đã viết bốn sách Tin Mừng: các ngài chọn một số trong nhiều điều đã được truyền lại bằng miệng hay đã được chép ra rồi, tóm tắt hoặc giải thích một số điều tùy theo tình trạng của các Giáo hội, sau cùng các ngài vẫn giữ hình thức lời giảng, mà bao giờ cũng nhằm truyền đạt cho chúng ta những điều xác thực và chân thành về Chúa Giêsu.”

We can distinguish three stages in the formation of the Gospels: 1. the life and teaching of Jesus. the Church holds firmly that the four Gospels, "whose historicity she unhesitatingly affirms, faithfully hand on what Jesus, the Son of God, while he lived among men, really did and taught for their eternal salvation, until the day when he was taken up." 2. the oral tradition. "For, after the ascension of the Lord, the apostles handed on to their hearers what he had said and done, but with that fuller understanding which they, instructed by the glorious events of Christ and enlightened by the Spirit of truth, now enjoyed." 3. the written Gospels. "The sacred authors, in writing the four Gospels, selected certain of the many elements which had been handed on, either orally or already in written form; others they synthesized or explained with an eye to the situation of the churches, the while sustaining the form of preaching, but always in such a fashion that they have told us the honest truth about Jesus."

127

Bốn sách Tin Mừng giữ một địa vị độc nhất trong Hội Thánh, như có thể thấy được qua lòng tôn kính mà phụng vụ dành cho Tin Mừng và qua sức thu hút không gì sánh bằng của Tin Mừng đối với các Thánh trong mọi thời đại. “Không có giáo lý nào cao trọng hơn, tốt hơn, quý hơn và sáng chói hơn bản văn Tin Mừng. Anh chị em hãy xem và hãy ghi nhớ những gì Chúa và Thầy của chúng ta là Đức Kitô đã giảng dạy bằng lời nói và thực hiện bằng gương sáng của Người.” “Trên hết mọi sự, chính Tin Mừng nuôi dưỡng tôi trong các kinh nguyện của tôi; nơi Tin Mừng tôi gặp được tất cả những gì cần thiết cho linh hồn hèn mọn của tôi. Trong đó tôi luôn khám phá ra những ánh sáng mới, những ý nghĩa còn ẩn giấu và huyền nhiệm.”

The fourfold Gospel holds a unique place in the Church, as is evident both in the veneration which the liturgy accords it and in the surpassing attraction it has exercised on the saints at all times:

128

Ngay từ thời các Tông Đồ rồi sau đó trong suốt Truyền Thống của mình, Hội Thánh luôn làm sáng tỏ tính thống nhất của kế hoạch của Thiên Chúa trong hai Giao Ước nhờ cách đọc tiên trưng (per typologiam). Cách đọc này nhận ra trong các công trình của Thiên Chúa dưới thời Cựu Ước những “hình ảnh báo trước” điều Thiên Chúa sẽ thực hiện lúc thời gian đến hồi viên mãn, nơi Người Con nhập thể của Ngài.

The Church, as early as apostolic times, and then constantly in her Tradition, has illuminated the unity of the divine plan in the two Testaments through typology, which discerns in God's works of the Old Covenant prefigurations of what he accomplished in the fullness of time in the person of his incarnate Son.

129

Do đó, các Kitô hữu đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại. Cách đọc tiên trưng này làm tỏ hiện nội dung vô tận của Cựu Ước. Tuy nhiên, không được quên rằng Cựu Ước vẫn có giá trị riêng của nó trong mặc khải, mà chính Chúa chúng ta đã xác nhận. Đàng khác, Tân Ước cũng cần phải được đọc dưới ánh sáng Cựu Ước. Việc dạy giáo lý Kitô Giáo thời sơ khai đã luôn trở về với Cựu Ước. Theo một châm ngôn cổ, Tân Ước được ẩn tàng trong Cựu Ước, còn Cựu Ước được tỏ bày trong Tân Ước: “cái Mới tiềm ẩn trong cái Cũ, còn cái Cũ xuất hiện trong cái Mới.”

Christians therefore read the Old Testament in the light of Christ crucified and risen. Such typological reading discloses the inexhaustible content of the Old Testament; but it must not make us forget that the Old Testament retains its own intrinsic value as Revelation reaffirmed by our Lord himself. Besides, the New Testament has to be read in the light of the Old. Early Christian catechesis made constant use of the Old Testament. As an old saying put it, the New Testament lies hidden in the Old and the Old Testament is unveiled in the New.

130

Cách đọc tiên trưng cho thấy tính năng động hướng tới việc hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa, lúc “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28). Như vậy, thí dụ, việc kêu gọi các tổ phụ và cuộc Xuất Hành khỏi Ai Cập vẫn không mất đi giá trị riêng của chúng trong kế hoạch của Thiên Chúa, mặc dầu đồng thời, chúng là những giai đoạn trung gian trong kế hoạch ấy.

Typology indicates the dynamic movement toward the fulfilment of the divine plan when "God [will] be everything to everyone." Nor do the calling of the patriarchs and the exodus from Egypt, for example, lose their own value in God's plan, from the mere fact that they were intermediate stages.

131

“Trong Lời Thiên Chúa, có năng lực lớn lao có thể nâng đỡ và ban sinh lực cho Hội Thánh, còn đối với con cái Hội Thánh thì thành sức mạnh cho đức tin, lương thực cho linh hồn, nguồn sống tinh tuyền và trường tồn cho đời sống thiêng liêng.” Vì vậy, “lối vào Thánh Kinh cần phải được rộng mở cho các Kitô hữu.”

"and such is the force and power of the Word of God that it can serve the Church as her support and vigour, and the children of the Church as strength for their faith, food for the soul, and a pure and lasting fount of spiritual life." Hence "access to Sacred Scripture ought to be open wide to the Christian faithful."

132

“Việc nghiên cứu Thánh Kinh phải là như linh hồn của khoa Thần học. Nhờ chính lời Thánh Kinh này, thừa tác vụ Lời Chúa, gồm có việc giảng thuyết của các vị chủ chăn, việc dạy giáo lý và toàn thể giáo huấn Kitô Giáo, trong đó bài diễn giảng trong phụng vụ phải chiếm ưu thế, được nuôi dưỡng lành mạnh và tăng cường sinh lực thánh thiện.”

"Therefore, the study of the sacred page should be the very soul of sacred theology. the ministry of the Word, too - pastoral preaching, catechetics and all forms of Christian instruction, among which the liturgical homily should hold pride of place - is healthily nourished and thrives in holiness through the Word of Scripture."

133

Hội Thánh “nhiệt liệt và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu... học được ‘mối lợi tuyệt vời, là được biết Chúa Giêsu Kitô’ (Pl 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh. ‘Thật vậy, không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô’.”

The Church "forcefully and specifically exhorts all the Christian faithful... to learn the surpassing knowledge of Jesus Christ, by frequent reading of the divine Scriptures. Ignorance of the Scriptures is ignorance of Christ.

134

Toàn bộ Thánh Kinh là một cuốn sách duy nhất, và cuốn sách duy nhất ấy chính là Chúa Kitô, “bởi vì toàn bộ Thánh Kinh nói về Chúa Kitô và toàn bộ Thánh Kinh được hoàn tất trong Chúa Kitô.”

"All Sacred Scripture is but one book, and that one book is Christ, because all divine Scripture speaks of Christ, and all divine Scripture is fulfilled in Christ" (Hugh of St. Victor, De arca Noe 2, 8: PL 176, 642).

135

“Thánh Kinh chứa đựng Lời Thiên Chúa và vì được linh hứng nên thật sự là Lời Thiên Chúa.”

"The Sacred Scriptures contain the Word of God and, because they are inspired, they are truly the Word of God" (DV 24).

136

Thiên Chúa là Tác giả của Thánh Kinh vì Ngài linh hứng các tác giả phàm nhân; chính Ngài hành động trong họ và nhờ họ. Như vậy, Ngài bảo đảm rằng các tác phẩm của họ giảng dạy chân lý cứu độ một cách không sai lầm.

God is the author of Sacred Scripture because he inspired its human authors; he acts in them and by means of them. He thus gives assurance that their writings teach without error his saving truth (cf DV 11).

137

Việc giải thích các Sách Thánh đã được linh hứng trước hết phải đạt đến điều Thiên Chúa muốn mặc khải qua các thánh sử, để cứu độ chúng ta. Điều gì đến từ Chúa Thánh Thần, chỉ được hiểu cách đầy đủ nhờ tác động của Chúa Thánh Thần.

Interpretation of the inspired Scripture must be attentive above all to what God wants to reveal through the sacred authors for our salvation. What comes from the Spirit is not fully "understood except by the Spirit's action' (cf. Origen, Hom. in Ex. 4, 5: PG 12, 320).

138

Hội Thánh lãnh nhận và tôn kính 46 sách của Cựu Ước và 27 sách của Tân Ước, với tính cách là những sách được linh hứng.

The Church accepts and venerates as inspired the 46 books of the Old Testament and the 27 books of the New.

139

Bốn sách Tin Mừng giữ một vị trí trung tâm, vì Chúa Kitô Giêsu là tâm điểm của các sách đó.

The four Gospels occupy a central place because Christ Jesus is their centre.

140

Tính thống nhất của hai Giao Ước bắt nguồn từ sự duy nhất của kế hoạch và mặc khải của Thiên Chúa. Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước, còn Tân Ước làm hoàn thành Cựu Ước; cả hai soi sáng cho nhau, cả hai đều thật sự là Lời Thiên Chúa.

The unity of the two Testaments proceeds from the unity of God's plan and his Revelation. the Old Testament prepares for the New and the New Testament fulfils the Old; the two shed light on each other; both are true Word of God.

141

“Hội Thánh đã luôn tôn kính Thánh Kinh như đã tôn kính chính Thân Thể [Mình Thánh] Chúa”: cả hai nuôi dưỡng và chi phối toàn bộ đời sống Kitô hữu. “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119,105).

"The Church has always venerated the divine Scriptures as she venerated the Body of the Lord" (DV 21): both nourish and govern the whole Christian life. "Your word is a lamp to my feet and a light to my path" (Ps 119:105; cf. Is 50:4).