Hỏi Đáp Công Giáo
Tuyên Xưng Đức Tin · “Tôi tin” · “chúng tôi tin” · Con người đáp lời Thiên Chúa
MỤC 1

Tôi tin

Số 142–165
142

Qua mặc khải, “Thiên Chúa vô hình, do tình thương chan hòa của Ngài, đã ngỏ lời với loài người như với bạn hữu và liên lạc với họ để mời gọi họ và chấp nhận cho họ đi vào cuộc sống của chính Ngài.” Đức tin là sự đáp lại thích đáng đối với lời mời gọi ấy.

By his Revelation, "the invisible God, from the fullness of his love, addresses men as his friends, and moves among them, in order to invite and receive them into his own company." The adequate response to this invitation is faith.

143

Bằng đức tin, con người đem trí khôn và ý chí của mình quy phục Thiên Chúa cách trọn vẹn. Con người đặt trọn bản thân quy thuận Thiên Chúa, Đấng mặc khải. Thánh Kinh gọi việc đáp lại này của con người đối với Thiên Chúa, Đấng mặc khải, là “sự vâng phục của đức tin.”

By faith, man completely submits his intellect and his will to God. With his whole being man gives his assent to God the revealer. Sacred Scripture calls this human response to God, the author of revelation, "the obedience of faith".

144

Vâng phục (ob-audire: nghe, lắng nghe) bằng đức tin là tự nguyện quy thuận lời đã nghe, bởi vì chân lý của lời đó được Thiên Chúa là chính Chân Lý, bảo đảm. Thánh Kinh trưng dẫn tổ phụ Ápraham như gương mẫu của sự vâng phục đó. Còn Đức Trinh Nữ Maria là người thể hiện sự vâng phục đó cách hoàn hảo.

To obey (from the Latin ob-audire, to "hear or listen to") in faith is to submit freely to the word that has been heard, because its truth is guaranteed by God, who is Truth itself. Abraham is the model of such obedience offered us by Sacred Scripture. the Virgin Mary is its most perfect embodiment.

145

Thư gửi tín hữu Do Thái, trong bài tán dương đức tin của các bậc tổ tiên, đã đặc biệt nhấn mạnh đến đức tin của ông Ápraham: “Nhờ đức tin, ông Ápraham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu” (Hr 11,8). Nhờ đức tin, ông đã sống như kẻ mới nhập cư và người lữ hành trong Đất hứa. Nhờ đức tin, bà Xara đã thụ thai người con của lời hứa. Cuối cùng, nhờ đức tin, ông Ápraham đã dâng hiến con một mình làm hy lễ.

The Letter to the Hebrews, in its great eulogy of the faith of Israel's ancestors, lays special emphasis on Abraham's faith: "By faith, Abraham obeyed when he was called to go out to a place which he was to receive as an inheritance; and he went out, not knowing where he was to go." By faith, he lived as a stranger and pilgrim in the promised land. By faith, Sarah was given to conceive the son of the promise. and by faith Abraham offered his only son in sacrifice.

146

Như vậy, ông Ápraham đã thực hiện điều Thư gửi tín hữu Do Thái định nghĩa về đức tin: “Đức tin là bảo đảm cho những điều hy vọng, là bằng chứng của những điều ta không thấy” (Hr 11,1). “Ông Ápraham đã tin Thiên Chúa, và vì thế, được kể là người công chính” (Rm 4,3). “Nhờ niềm tin, ông đã nên vững mạnh” (Rm 4,20), ông Ápraham trở thành “tổ phụ của tất cả những người tin” (Rm 4,11.18).

Abraham thus fulfils the definition of faith in Hebrews 11:1: "Faith is the assurance of things hoped for, the conviction of things not seen": "Abraham believed God, and it was reckoned to him as righteousness." Because he was "strong in his faith", Abraham became the "father of all who believe".

147

Cựu Ước rất phong phú về các chứng từ của đức tin ấy. Thư gửi tín hữu Do Thái tán tụng đức tin gương mẫu, “nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám” (Hr 11,2.39). Tuy nhiên, “Thiên Chúa đã trù liệu cho chúng ta một phần phúc tốt hơn”: đó là ơn được tin vào Con của Ngài, là “Chúa Giêsu, Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (Hr 11,40; 12,2).

The Old Testament is rich in witnesses to this faith. the Letter to the Hebrews proclaims its eulogy of the exemplary faith of the ancestors who "received divine approval". Yet "God had foreseen something better for us": the grace of believing in his Son Jesus, "the pioneer and perfecter of our faith".

148

Đức Trinh Nữ Maria thể hiện cách trọn hảo sự vâng phục của đức tin. Trong đức tin, Đức Maria đón nhận lời sứ thần Gáprien loan báo và đoan hứa, vì ngài tin rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37), và ngài bày tỏ lòng quy phục: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Bà Êlisabét chào Đức Maria bằng những lời này: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Ngài đã nói với em” (Lc 1,45). Chính vì đức tin này mà Đức Maria sẽ được mọi đời khen là diễm phúc.

The Virgin Mary most perfectly embodies the obedience of faith. By faith Mary welcomes the tidings and promise brought by the angel Gabriel, believing that "with God nothing will be impossible" and so giving her assent: "Behold I am the handmaid of the Lord; let it be [done] to me according to your word." Elizabeth greeted her: "Blessed is she who believed that there would be a fulfilment of what was spoken to her from the Lord." It is for this faith that all generations have called Mary blessed.

149

Trong suốt cuộc đời của Đức Maria, và cho đến cuộc thử thách tột bậc, khi Chúa Giêsu Con ngài chết trên thập giá, đức tin của ngài đã không hề lay chuyển. Đức Maria không ngừng tin rằng lời Chúa sẽ “được thực hiện.” Vì vậy, Hội Thánh tôn kính Đức Maria là người đã thể hiện đức tin một cách tinh tuyền nhất.

Throughout her life and until her last ordeal when Jesus her son died on the cross, Mary's faith never wavered. She never ceased to believe in the fulfilment of God's word. and so the Church venerates in Mary the purest realization of faith.

150

Tin trước hết là gắn bó bản thân con người với Thiên Chúa, đồng thời và không thể tách biệt, là tự nguyện chấp nhận tất cả chân lý được Thiên Chúa mặc khải. Bởi vừa là gắn bó bản thân với Thiên Chúa, vừa là chấp nhận chân lý do Thiên Chúa mặc khải, nên đức tin Kitô Giáo khác với việc tin một người phàm. Thật là tốt đẹp và phải đạo khi hoàn toàn tin tưởng ở Thiên Chúa và tuyệt đối tin điều Ngài đã nói. Thật vô ích và lầm lạc khi đặt một niềm tin như vậy vào một thụ tạo.

Faith is first of all a personal adherence of man to God. At the same time, and inseparably, it is a free assent to the whole truth that God has revealed. As personal adherence to God and assent to his truth, Christian faith differs from our faith in any human person. It is right and just to entrust oneself wholly to God and to believe absolutely what he says. It would be futile and false to place such faith in a creature.

151

Đối với Kitô hữu, tin vào Thiên Chúa không thể tách rời khỏi việc tin vào Đấng Ngài đã sai đến, tức là Con chí ái của Ngài, đẹp lòng Ngài mọi đàng. Thiên Chúa đã dạy chúng ta phải nghe lời Con của Ngài. Chính Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ Người: “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,l). Chúng ta có thể tin vào Chúa Giêsu Kitô, vì chính Người là Thiên Chúa, là Ngôi Lời nhập thể: “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18). Bởi vì Người “đã thấy Chúa Cha” (Ga 6,46), nên chỉ một mình Người biết Chúa Cha và có thẩm quyền mặc khải Chúa Cha cho chúng ta.

For a Christian, believing in God cannot be separated from believing in the One he sent, his "beloved Son", in whom the Father is "well pleased"; God tells us to listen to him. The Lord himself said to his disciples: "Believe in God, believe also in me." We can believe in Jesus Christ because he is himself God, the Word made flesh: "No one has ever seen God; the only Son, who is in the bosom of the Father, he has made him known." Because he "has seen the Father", Jesus Christ is the only one who knows him and can reveal him.

152

Không thể tin vào Chúa Giêsu Kitô mà không thông phần vào Thần Khí của Người. Chính Chúa Thánh Thần mặc khải cho loài người biết Chúa Giêsu là ai. “Không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3). “Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa... Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa” (1 Cr 2,10-11). Chỉ mình Thiên Chúa mới biết một cách trọn vẹn về Thiên Chúa. Chúng ta tin vào Chúa Thánh Thần, vì Ngài là Thiên Chúa. Hội Thánh không ngừng tuyên xưng đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

One cannot believe in Jesus Christ without sharing in his Spirit. It is the Holy Spirit who reveals to men who Jesus is. For "no one can say "Jesus is Lord", except by the Holy Spirit", who "searches everything, even the depths of God. . No one comprehends the thoughts of God, except the Spirit of God." Only God knows God completely: we believe in the Holy Spirit because he is God.

153

Khi thánh Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, Chúa Giêsu nói với ông rằng không phải huyết nhục mặc khải cho ông điều ấy, nhưng là Cha của Người, “Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17). Đức tin là một hồng ân của Thiên Chúa, là một nhân đức siêu nhiên do Thiên Chúa tuôn ban. “Để có được đức tin này, cần có ân sủng Thiên Chúa đến trước giúp đỡ và sự trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần: Ngài đánh động và quy hướng con tim về cùng Thiên Chúa, Ngài mở mắt lý trí và cho ‘mọi người cảm thấy dịu ngọt khi ưng thuận và tin vào chân lý’.”

When St. Peter confessed that Jesus is the Christ, the Son of the living God, Jesus declared to him that this revelation did not come "from flesh and blood", but from "my Father who is in heaven". Faith is a gift of God, a supernatural virtue infused by him. "Before this faith can be exercised, man must have the grace of God to move and assist him; he must have the interior helps of the Holy Spirit, who moves the heart and converts it to God, who opens the eyes of the mind and 'makes it easy for all to accept and believe the truth.'"

154

Chỉ có thể tin nhờ ân sủng và những trợ giúp nội tâm của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, tin vẫn thật sự là một hành vi nhân linh. Tin vào Thiên Chúa và gắn bó với những chân lý do Ngài mặc khải không đi ngược với tự do và trí khôn con người. Ngay trong các giao tiếp giữa người với người, không có gì đi ngược với phẩm giá của chúng ta khi chúng ta tin những gì người khác nói về bản thân họ hoặc ý định của họ, và khi tin vào những lời hứa của họ (chẳng hạn những cam kết hôn nhân), và như vậy, con người có thể hiệp thông với nhau. Do đó, càng không có gì đi ngược với phẩm giá của chúng ta, khi chúng ta “bằng đức tin, dâng lên Thiên Chúa, Đấng mặc khải, sự quy phục trọn vẹn của lý trí và ý chí”, và như vậy, chúng ta được hiệp thông thân mật với Ngài.

Believing is possible only by grace and the interior helps of the Holy Spirit. But it is no less true that believing is an authentically human act. Trusting in God and cleaving to the truths he has revealed is contrary neither to human freedom nor to human reason. Even in human relations it is not contrary to our dignity to believe what other persons tell us about themselves and their intentions, or to trust their promises (for example, when a man and a woman marry) to share a communion of life with one another. If this is so, still less is it contrary to our dignity to "yield by faith the full submission of... intellect and will to God who reveals", and to share in an interior communion with him.

155

Trong đức tin, lý trí và ý chí con người cộng tác với ân sủng của Thiên Chúa: “Tin là một hành vi của lý trí chấp nhận chân lý của Thiên Chúa theo lệnh của ý chí được Thiên Chúa tác động nhờ ân sủng.”

In faith, the human intellect and will co-operate with divine grace: "Believing is an act of the intellect assenting to the divine truth by command of the will moved by God through grace."

156

Động lực khiến chúng ta tin không phải là vì các chân lý được mặc khải tỏ hiện là xác thật và có thể hiểu được đối với ánh sáng của lý trí tự nhiên của chúng ta. Chúng ta tin “vì uy quyền của chính Thiên Chúa, Đấng mặc khải, Đấng không thể sai lầm cũng như không thể lừa dối chúng ta.” “Tuy nhiên, để đức tin của chúng ta ‘quy phục phù hợp với lý trí’, Thiên Chúa đã muốn có những bằng chứng bên ngoài về mặc khải của Ngài kèm theo sự trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần.” Chẳng hạn, các phép lạ của Đức Kitô và của các Thánh, các lời tiên tri, sự phát triển và thánh thiện cũng như sự phong phú và vững bền của Hội Thánh, đó “là những dấu chỉ chắc chắn nhất của mặc khải của Thiên Chúa, những dấu chỉ đó phù hợp với lý trí của mọi người”, đó là những động lực khiến chúng ta tin, những động lực đó cho thấy “sự ưng thuận của đức tin hoàn toàn không phải là một hành vi mù quáng của tâm trí.”

What moves us to believe is not the fact that revealed truths appear as true and intelligible in the light of our natural reason: we believe "because of the authority of God himself who reveals them, who can neither deceive nor be deceived". So "that the submission of our faith might nevertheless be in accordance with reason, God willed that external proofs of his Revelation should be joined to the internal helps of the Holy Spirit." Thus the miracles of Christ and the saints, prophecies, the Church's growth and holiness, and her fruitfulness and stability "are the most certain signs of divine Revelation, adapted to the intelligence of all"; they are "motives of credibility" (motiva credibilitatis), which show that the assent of faith is "by no means a blind impulse of the mind".

157

Đức tin thì chắc chắn, chắc chắn hơn mọi hiểu biết phàm nhân, bởi vì đức tin dựa trên chính Lời của Thiên Chúa, Đấng không thể nói dối. Các chân lý được mặc khải có thể bị coi là tối tăm đối với cả lý trí lẫn kinh nghiệm phàm nhân, nhưng “sự chắc chắn nhờ ánh sáng của Thiên Chúa thì lớn hơn sự chắc chắn nhờ ánh sáng của lý trí tự nhiên.” “Mười ngàn nỗi khó khăn không làm thành một sự hồ nghi.”

Faith is certain. It is more certain than all human knowledge because it is founded on the very word of God who cannot lie. To be sure, revealed truths can seem obscure to human reason and experience, but "the certainty that the divine light gives is greater than that which the light of natural reason gives." "Ten thousand difficulties do not make one doubt."

158

“Đức tin tìm hiểu biết”: gắn liền với đức tin là việc người tin muốn biết rõ hơn về Đấng mình đã tin và hiểu rõ hơn về điều Ngài đã mặc khải; về phần mình, một hiểu biết sâu xa hơn sẽ dẫn đến một đức tin lớn lao hơn, luôn thấm đượm tình yêu hơn. Ơn đức tin mở “con mắt của trái tim” (Ep 1,18) để có một hiểu biết sống động về các nội dung của mặc khải, nghĩa là về toàn bộ kế hoạch của Thiên Chúa và các mầu nhiệm đức tin, tương quan giữa các mầu nhiệm với nhau và với Đức Kitô, tâm điểm của các mầu nhiệm được mặc khải. “Và để người ta hiểu biết mặc khải sâu xa thêm mãi..., Chúa Thánh Thần không ngừng ban các hồng ân mà kiện toàn đức tin.” Đúng như câu châm ngôn của thánh Augustinô: “Bạn hãy hiểu để tin; bạn hãy tin để hiểu.”

"Faith seeks understanding": it is intrinsic to faith that a believer desires to know better the One in whom he has put his faith, and to understand better what He has revealed; a more penetrating knowledge will in turn call forth a greater faith, increasingly set afire by love. the grace of faith opens "the eyes of your hearts" to a lively understanding of the contents of Revelation: that is, of the totality of God's plan and the mysteries of faith, of their connection with each other and with Christ, the centre of the revealed mystery. "The same Holy Spirit constantly perfects faith by his gifts, so that Revelation may be more and more profoundly understood." In the words of St. Augustine, "I believe, in order to understand; and I understand, the better to believe."

159

Đức tin và khoa học. “Mặc dù đức tin vượt trên lý trí, nhưng không bao giờ có thể có mâu thuẫn thật sự giữa đức tin và lý trí: vì cùng một Thiên Chúa, Đấng mặc khải các mầu nhiệm và tuôn đổ đức tin, cũng là Đấng ban ánh sáng lý trí cho tâm hồn con người, mà Thiên Chúa không thể tự phủ nhận chính mình Ngài, cũng như điều chân thật không bao giờ nghịch lại điều chân thật.” “Bởi vậy, việc nghiên cứu có phương pháp trong mọi ngành, nếu được tiến hành một cách thật sự khoa học và theo đúng các chuẩn mực luân lý, sẽ không bao giờ thật sự đối nghịch với đức tin, bởi vì các thực tại trần thế và các thực tại đức tin đều có nguồn gốc là bởi cùng một Thiên Chúa. Hơn nữa, ai khiêm tốn và kiên nhẫn cố gắng nghiên cứu những bí ẩn của các sự vật, thì mặc dù họ không ý thức, họ vẫn như được dẫn đưa bởi bàn tay của Thiên Chúa, Đấng đang nâng đỡ vạn vật, Ngài làm cho hiện hữu những gì đang hiện hữu.”

Faith and science: "Though faith is above reason, there can never be any real discrepancy between faith and reason. Since the same God who reveals mysteries and infuses faith has bestowed the light of reason on the human mind, God cannot deny himself, nor can truth ever contradict truth." "Consequently, methodical research in all branches of knowledge, provided it is carried out in a truly scientific manner and does not override moral laws, can never conflict with the faith, because the things of the world and the things of faith derive from the same God. the humble and persevering investigator of the secrets of nature is being led, as it were, by the hand of God in spite of himself, for it is God, the conserver of all things, who made them what they are."

160

Để việc đáp lại của đức tin là một hành vi nhân linh, “con người phải đáp lại Thiên Chúa bằng việc tin một cách tự nguyện. Do đó, không được cưỡng ép ai phải chấp nhận đức tin trái với ý muốn của họ. Thật vậy, tự bản chất của nó, đức tin là một hành vi tự nguyện.” “Thiên Chúa mời gọi con người phục vụ Ngài trong tinh thần và chân lý; con người phải theo lương tâm đáp lại lời mời gọi ấy, nhưng không bị ép buộc... Điều này ta thấy rõ ràng nhất nơi Đức Kitô.” Thật vậy, Đức Kitô mời gọi người ta tin và hối cải, nhưng Người không hề cưỡng ép ai. “Người đã làm chứng cho chân lý, nhưng không muốn dùng sức mạnh để áp đặt chân lý đối với những kẻ chống đối. Nước Người... tăng triển bằng tình yêu, tình yêu đó là Đức Kitô đã chịu giương cao trên thập giá để lôi kéo người ta đến với mình.”

To be human, "man's response to God by faith must be free, and... therefore nobody is to be forced to embrace the faith against his will. the act of faith is of its very nature a free act." "God calls men to serve him in spirit and in truth. Consequently they are bound to him in conscience, but not coerced. . . This fact received its fullest manifestation in Christ Jesus." Indeed, Christ invited people to faith and conversion, but never coerced them. "For he bore witness to the truth but refused to use force to impose it on those who spoke against it. His kingdom... grows by the love with which Christ, lifted up on the cross, draws men to himself."

161

Tin vào Chúa Giêsu Kitô và Đấng đã sai Người đến cứu độ chúng ta, là điều cần thiết để đạt được ơn cứu độ đó. “Mà ‘không có đức tin, thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa’ (Hr 11,6) và cũng không thể đạt tới chức vị làm con cái Thiên Chúa, nên không ai được công chính hóa nếu không có đức tin, và không ai đạt tới cuộc sống muôn đời nếu không ‘bền chí đến cùng’ (Mt 10,22; 24,13) trong đức tin.”

Believing in Jesus Christ and in the One who sent him for our salvation is necessary for obtaining that salvation. "Since "without faith it is impossible to please (God) " and to attain to the fellowship of his sons, therefore without faith no one has ever attained justification, nor will anyone obtain eternal life 'But he who endures to the end.'"]

162

Đức tin là một hồng ân nhưng không, Thiên Chúa ban tặng cho con người. Chúng ta có thể đánh mất hồng ân vô giá đó. Thánh Phaolô cảnh giác ông Timôthê về nguy cơ này: “Đây là chỉ thị tôi trao cho anh... để anh dựa vào đó mà chiến đấu trong cuộc chiến cao đẹp này, với đức tin và lương tâm ngay thẳng. Một số người đã vứt bỏ lương tâm ngay thẳng đó, nên đức tin của họ đã bị chết chìm” (1 Tm 1,18-19). Để sống, lớn lên và kiên trì đến cùng trong đức tin, chúng ta phải nuôi dưỡng đức tin bằng Lời Thiên Chúa; chúng ta phải cầu xin Chúa gia tăng đức tin cho chúng ta; đức tin ấy phải hành động “nhờ đức mến” (Gl 5,6), phải được nâng đỡ bằng đức cậy và phải đâm rễ trong đức tin của Hội Thánh.

Faith is an entirely free gift that God makes to man. We can lose this priceless gift, as St. Paul indicated to St. Timothy: "Wage the good warfare, holding faith and a good conscience. By rejecting conscience, certain persons have made shipwreck of their faith." To live, grow and persevere in the faith until the end we must nourish it with the word of God; we must beg the Lord to increase our faith; it must be "working through charity," abounding in hope, and rooted in the faith of the Church.

163

Đức tin làm cho chúng ta như được nếm trước niềm hoan lạc và ánh sáng của ơn hưởng kiến hồng phúc (visio beatifica), ơn đó là mục đích của cuộc lữ hành trần gian này của chúng ta. Lúc đó chúng ta sẽ nhìn thấy Thiên Chúa “mặt giáp mặt” (1 Cr 13,12), và “Ngài thế nào chúng ta sẽ thấy Ngài như vậy” (1 Ga 3,2). Vì vậy, đức tin đã là khởi đầu của sự sống muôn đời: “Khi chúng ta chiêm ngưỡng, như nhìn trong gương, ân sủng là những điều thiện hảo còn xa vời được hứa ban cho chúng ta, mà nhờ đức tin chúng ta mong chờ được hưởng, thì y như những điều đó đã có đây rồi.”

Faith makes us taste in advance the light of the beatific vision, the goal of our journey here below. Then we shall see God "face to face", "as he is". So faith is already the beginning of eternal life: When we contemplate the blessings of faith even now, as if gazing at a reflection in a mirror, it is as if we already possessed the wonderful things which our faith assures us we shall one day enjoy.

164

Tuy nhiên, hiện giờ chúng ta “tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa” (2 Cr 5,7), và chúng ta nhận biết Thiên Chúa “lờ mờ như trong một tấm gương, có ngần, có hạn” (1 Cr 13,12). Mặc dù đức tin sáng tỏ nhờ Đấng chúng ta tin, nhưng đời sống đức tin lại thường tối tăm. Đức tin có thể bị thử thách. Trần gian mà chúng ta đang sống thường được coi như xa vời với những gì đức tin tuyên xưng; những kinh nghiệm về sự dữ và đau khổ, về những bất công và cái chết, dường như mâu thuẫn với Tin Mừng; những điều đó có thể làm cho đức tin bị nao núng và trở thành một cám dỗ đối với đức tin.

Now, however, "we walk by faith, not by sight"; we perceive God as "in a mirror, dimly" and only "in part". Even though enlightened by him in whom it believes, faith is often lived in darkness and can be put to the test. the world we live in often seems very far from the one promised us by faith. Our experiences of evil and suffering, injustice and death, seem to contradict the Good News; they can shake our faith and become a temptation against it.

165

Chính lúc đó chúng ta phải hướng về các nhân chứng đức tin: về ông Ápraham, là người “mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin” (Rm 4,18); về Đức Trinh Nữ Maria, là người, “trong cuộc lữ hành đức tin”, đã tiến đến tận “đêm tối của đức tin” khi tham dự vào đêm tối là cuộc khổ hình thập giá của Con ngài, và đêm tối là phần mộ của Người; và chúng ta phải hướng về biết bao nhiêu nhân chứng đức tin khác nữa: “Được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt hướng về Chúa Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (Hr 12,1-2).

It is then we must turn to the witnesses of faith: to Abraham, who "in hope... believed against hope"; to the Virgin Mary, who, in "her pilgrimage of faith", walked into the "night of faith" in sharing the darkness of her son's suffering and death; and to so many others: "Therefore, since we are surrounded by so great a cloud of witnesses, let us also lay aside every weight, and sin which clings so closely, and let us run with perseverance the race that is set before us, looking to Jesus the pioneer and perfecter of our faith."