Hỏi Đáp Công Giáo
Cử Hành Mầu Nhiệm Kitô Giáo · Nhiệm cục bí tích · Cử hành mầu nhiệm vượt qua trong các bí tích
MỤC 1

Cử hành phụng vụ của Hội Thánh

Số 1135–1199
1135

Việc dạy giáo lý về phụng vụ đòi hỏi trước hết phải hiểu biết Nhiệm cục bí tích (Chương một). Dưới ánh sáng đó, tính chất mới mẻ của việc cử hành các bí tích được tỏ hiện. Vì vậy, chương này sẽ bàn đến việc cử hành các bí tích của Hội Thánh. Chúng ta sẽ trình bày điểm chung của việc cử hành bảy bí tích trong các truyền thống phụng vụ khác nhau; sau đó sẽ là điểm đặc thù của từng bí tích. Việc dạy giáo lý căn bản về các cử hành bí tích sẽ trả lời những câu hỏi đầu tiên mà các tín hữu đặt ra về vấn đề này: — Ai cử hành? — Cử hành như thế nào? — Cử hành khi nào? — Cử hành ở đâu?

The catechesis of the liturgy entails first of all an understanding of the sacramental economy (Chapter One). In this light, the innovation of its celebration is revealed. This chapter will therefore treat of the celebration of the sacraments of the Church. It will consider that which, through the diversity of liturgical traditions, is common to the celebration of the seven sacraments. What is proper to each will be treated later. This fundamental catechesis on the sacramental celebrations responds to the first questions posed by the faithful regarding this subject: - Who celebrates the liturgy? - How is the liturgy celebrated? - When is the liturgy celebrated? - Where is the liturgy celebrated?

1136

Phụng vụ là “hành động” của Đức Kitô toàn thể (Christus totus). Những ai giờ đây cử hành phụng vụ vượt quá các dấu chỉ, là những người đang ở trong phụng vụ thiên quốc, ở đó, việc cử hành hoàn toàn là hiệp thông và lễ hội.

Liturgy is an "action" of the whole Christ (Christus totus). Those who even now celebrate it without signs are already in the heavenly liturgy, where celebration is wholly communion and feast

1137

Sách Khải Huyền của thánh Gioan, được đọc trong phụng vụ của Hội Thánh, trước tiên cho chúng ta thấy một cái ngai được đặt trên trời; và Đấng ngự trên ngai: đó là “Chúa” (Is 6,1). Rồi đến “Một Con Chiên trông như thể đã bị giết” (Kh 5,6): đó là Đức Kitô bị đóng đinh và đã sống lại, là vị Thượng Tế duy nhất của cung thánh đích thực, chính Người “vừa là người dâng vừa là lễ vật được dâng lên, vừa là người tặng vừa là quà được hiến tặng.” Cuối cùng là “con sông có nước trường sinh,... chảy ra từ ngai của Thiên Chúa và của Con Chiên” (Kh 22,1), đó là một trong những biểu tượng đẹp nhất về Chúa Thánh Thần.

The book of Revelation of St. John, read in the Church's liturgy, first reveals to us, "A throne stood in heaven, with one seated on the throne": "the Lord God." It then shows the Lamb, "standing, as though it had been slain": Christ crucified and risen, the one high priest of the true sanctuary, the same one "who offers and is offered, who gives and is given." Finally it presents "the river of the water of life . . . flowing from the throne of God and of the Lamb," one of most beautiful symbols of the Holy Spirit.

1138

“Những ai được quy tụ” trong Đức Kitô tham dự vào việc phục vụ là ca ngợi Thiên Chúa và việc chu toàn kế hoạch của Ngài là: các Quyền thần trên trời, toàn thể thụ tạo (tượng trưng bằng bốn Con vật), các thừa tác viên thời Cựu và Tân Ước (24 Kỳ mục), dân mới của Thiên Chúa (144 ngàn người), đặc biệt là các vị tử đạo “những người đã bị giết vì đã rao giảng lời Thiên Chúa” (Kh 6,9), và Mẹ chí thánh của Thiên Chúa (Người Phụ nữ; Hiền thê của Con Chiên ), cuối cùng là “một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước, và mọi ngôn ngữ” (Kh 7,9).

"Recapitulated in Christ," these are the ones who take part in the service of the praise of God and the fulfillment of his plan: the heavenly powers, all creation (the four living beings), the servants of the Old and New Covenants (the twenty-four elders), the new People of God (the one hundred and forty-four thousand), especially the martyrs "slain for the word of God," and the all-holy Mother of God (the Woman), the Bride of the Lamb, and finally "a great multitude which no one could number, from every nation, from all tribes, and peoples and tongues."

1139

Chúa Thánh Thần và Hội Thánh cho chúng ta được tham dự vào Phụng vụ vĩnh cửu này, khi chúng ta cử hành mầu nhiệm cứu độ trong các bí tích.

It is in this eternal liturgy that the Spirit and the Church enable us to participate whenever we celebrate the mystery of salvation in the sacraments.

1140

Toàn thể Cộng đoàn, Thân Thể của Đức Kitô kết hợp với Đầu của mình, cử hành phụng vụ. “Các hoạt động phụng vụ không phải là những hoạt động riêng tư, nhưng là những cử hành của Hội Thánh, là ‘bí tích của sự hợp nhất’, nghĩa là dân thánh được quy tụ và điều hành dưới quyền các Giám mục. Vì vậy, các cử hành đó thuộc về thân thể phổ quát của Hội Thánh, chúng làm tỏ hiện và ảnh hưởng đến toàn thân thể; tuy nhiên, các cử hành đó cũng liên quan đến từng chi thể theo những cách khác nhau, tùy theo sự khác biệt về phẩm trật, phận vụ và sự tham dự hiện thực.” Vì vậy, “mỗi khi các nghi thức, theo bản chất riêng của từng nghi thức, được cử hành chung, với sự tham dự đông đảo và tích cực của các tín hữu, thì phải nhấn mạnh rằng việc cử hành chung như vậy, bao nhiêu có thể, phải được quý chuộng hơn việc cử hành các nghi thức đó một cách đơn độc và có vẻ riêng tư.”

It is the whole community, the Body of Christ united with its Head, that celebrates. "Liturgical services are not private functions but are celebrations of the Church which is 'the sacrament of unity,' namely, the holy people united and organized under the authority of the bishops. Therefore, liturgical services pertain to the whole Body of the Church. They manifest it, and have effects upon it. But they touch individual members of the Church in different ways, depending on their orders, their role in the liturgical services, and their actual participation in them." For this reason, "rites which are meant to be celebrated in common, with the faithful present and actively participating, should as far as possible be celebrated in that way rather than by an individual and quasi-privately."

1141

Cộng đoàn cử hành phụng vụ là cộng đoàn của những người đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội, “nhờ sự tái sinh và sự xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, họ được thánh hiến để trở thành ngôi nhà thiêng liêng và hàng tư tế thánh, để dâng lên những của lễ thiêng liêng qua tất cả các công việc của Kitô hữu.” “Chức tư tế cộng đồng” này là chức tư tế của Đức Kitô, vị Tư Tế duy nhất, mà tất cả các chi thể của Người đều được tham dự vào: “Mẹ Hội Thánh tha thiết ước mong mọi tín hữu đều được hướng dẫn tham dự các việc cử hành phụng vụ cách đầy đủ, ý thức và tích cực. Việc tham dự như vậy do chính bản chất phụng vụ đòi hỏi, và dân Kitô Giáo, ‘là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa’ (1 Pr 2,9), do bí tích Rửa Tội, có quyền lợi và nhiệm vụ trong việc tham dự như vậy.”

The celebrating assembly is the community of the baptized who, "by regeneration and the anointing of the Holy Spirit, are consecrated to be a spiritual house and a holy priesthood, that . . . they may offer spiritual sacrifices." This "common priesthood" is that of Christ the sole priest, in which all his members participate:

1142

“Nhưng mọi chi thể không có cùng một chức năng” (Rm 12,4). Một số chi thể đã được Thiên Chúa kêu gọi, trong và qua Hội Thánh, để đặc biệt phục vụ cộng đoàn. Những thừa tác viên này được tuyển chọn và được thánh hiến nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, qua đó, Chúa Thánh Thần làm cho họ có khả năng hành động trong cương vị của Đức Kitô là Đầu (in persona Christi-Capitis) để phục vụ mọi chi thể của Hội Thánh. Thừa tác viên có chức thánh là như “họa ảnh” của Đức Kitô Tư Tế. Bởi vì, trong bí tích Thánh Thể, bí tích của Hội Thánh được biểu lộ cách đầy đủ, nên thừa tác vụ giám mục nổi bật nhất trong việc chủ sự Thánh Lễ, và hiệp thông với ngài, là thừa tác vụ linh mục và phó tế.

But "the members do not all have the same function." Certain members are called by God, in and through the Church, to a special service of the community. These servants are chosen and consecrated by the sacrament of Holy Orders, by which the Holy Spirit enables them to act in the person of Christ the head, for the service of all the members of the Church. The ordained minister is, as it were, an "icon" of Christ the priest. Since it is in the Eucharist that the sacrament of the Church is made fully visible, it is in his presiding at the Eucharist that the bishop's ministry is most evident, as well as, in communion with him, the ministry of priests and deacons.

1143

Để giúp các phận vụ của chức tư tế cộng đồng của các tín hữu, còn có những tác vụ đặc biệt khác, không được thánh hiến nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, và nhiệm vụ của những tác vụ này được các Giám mục quy định theo các truyền thống phụng vụ và các nhu cầu mục vụ. “Cả những người giúp lễ, đọc sách, dẫn giải và các ca viên, cũng thật sự đảm nhận một tác vụ phụng vụ.”

For the purpose of assisting the work of the common priesthood of the faithful, other particular ministries also exist, not consecrated by the sacrament of Holy Orders; their functions are determined by the bishops, in accord with liturgical traditions and pastoral needs. "Servers, readers, commentators, and members of the choir also exercise a genuine liturgical function."

1144

Như vậy, trong việc cử hành các bí tích, toàn thể cộng đoàn đều là “người cử hành phụng vụ”, mỗi người tùy theo phận vụ của mình, nhưng “trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần”, Đấng hoạt động trong mọi người. “Trong các cử hành phụng vụ, thừa tác viên hay tín hữu, mỗi người theo phận vụ của mình, chỉ làm và làm trọn vẹn những gì thuộc phận vụ của mình theo bản chất của sự việc và các quy tắc phụng vụ.”

In the celebration of the sacraments it is thus the whole assembly that is leitourgos, each according to his function, but in the "unity of the Spirit" who acts in all. "In liturgical celebrations each person, minister or layman, who has an office to perform, should carry out all and only those parts which pertain to his office by the nature of the rite and the norms of the liturgy."

1145

Việc cử hành bí tích được dệt bằng các dấu chỉ và các biểu tượng. Theo đường lối sư phạm của Thiên Chúa trong việc cứu độ, ý nghĩa của các dấu chỉ và các biểu tượng được bén rễ trong công trình tạo dựng và trong văn hóa nhân loại, được xác định trong các biến cố của Giao Ước cũ, và được bày tỏ cách đầy đủ trong con người và công trình của Đức Kitô.

A sacramental celebration is woven from signs and symbols. In keeping with the divine pedagogy of salvation, their meaning is rooted in the work of creation and in human culture, specified by the events of the Old Covenant and fully revealed in the person and work of Christ.

1146

Những dấu chỉ của thế giới loài người. Trong đời sống con người, các dấu chỉ và các biểu tượng chiếm một vị trí quan trọng. Con người, một hữu thể vừa thể xác vừa tinh thần, diễn tả và cảm nhận các thực tại tinh thần nhờ các dấu chỉ và các biểu tượng vật chất. Với tính cách là một hữu thể có tính xã hội, con người cần các dấu chỉ và các biểu tượng để giao tiếp với tha nhân nhờ ngôn ngữ, các cử chỉ, các hành động. Về tương quan của con người với Thiên Chúa cũng thế.

Signs of the human world. In human life, signs and symbols occupy an important place. As a being at once body and spirit, man expresses and perceives spiritual realities through physical signs and symbols. As a social being, man needs signs and symbols to communicate with others, through language, gestures, and actions. the same holds true for his relationship with God.

1147

Thiên Chúa nói với con người qua thụ tạo hữu hình. Vũ trụ vật chất được phô diễn trước trí tuệ con người, để họ đọc được nơi vũ trụ các dấu vết của Đấng Tạo hóa của họ. Ánh sáng và đêm tối, gió và lửa, nước và đất, cây cối và hoa trái đều nói về Thiên Chúa; chúng nói lên một cách biểu tượng cả sự cao cả lẫn sự gần gũi của Ngài.

God speaks to man through the visible creation. the material cosmos is so presented to man's intelligence that he can read there traces of its Creator. Light and darkness, wind and fire, water and earth, the tree and its fruit speak of God and symbolize both his greatness and his nearness.

1148

Vì được Thiên Chúa tạo dựng, những thực tại khả giác này có thể trở thành phương tiện diễn tả hành động của Thiên Chúa, Đấng thánh hóa loài người, và diễn tả hành động của con người, những kẻ phụng thờ Thiên Chúa. Về các dấu chỉ và biểu tượng trong đời sống xã hội của con người cũng vậy: tắm rửa và xức dầu, bẻ bánh và chia sẻ một chén có thể diễn tả sự hiện diện tác thánh của Thiên Chúa và lòng tri ân của con người đối với Đấng Tạo hóa của mình.

Inasmuch as they are creatures, these perceptible realities can become means of expressing the action of God who sanctifies men, and the action of men who offer worship to God. the same is true of signs and symbols taken from the social life of man: washing and anointing, breaking bread and sharing the cup can express the sanctifying presence of God and man's gratitude toward his Creator.

1149

Các tôn giáo lớn của nhân loại cho thấy rõ, một cách thường rất ấn tượng, ý nghĩa về vũ trụ và về các biểu tượng của các nghi thức tôn giáo. Phụng vụ của Hội Thánh đón nhận, hội nhập và thánh hóa các yếu tố của công trình tạo dựng và của văn hóa nhân loại, khi mang lại cho chúng phẩm tính là trở thành những dấu chỉ của ân sủng, của công cuộc tạo dựng mới trong Chúa Giêsu Kitô.

The great religions of mankind witness, often impressively, to this cosmic and symbolic meaning of religious rites. the liturgy of the Church presupposes, integrates and sanctifies elements from creation and human culture, conferring on them the dignity of signs of grace, of the new creation in Jesus Christ.

1150

Những dấu chỉ của Giao Ước. Dân Chúa chọn lãnh nhận từ Thiên Chúa những dấu chỉ và những biểu tượng đặc biệt phân biệt đời sống phụng vụ của họ: đây không chỉ là những cử hành long trọng các chu kỳ vũ trụ và các cử chỉ xã hội, nhưng còn là những dấu chỉ của Giao Ước, những biểu tượng của các kỳ công của Thiên Chúa đối với dân Ngài. Trong số các dấu chỉ phụng vụ này của Giao Ước cũ, có thể kể việc cắt bì, việc xức dầu và việc thánh hiến các vua và các tư tế, việc đặt tay, các hy lễ, và nhất là lễ Vượt Qua. Hội Thánh coi các dấu chỉ đó như hình ảnh tiên báo các bí tích của Giao Ước mới.

Signs of the covenant. the Chosen People received from God distinctive signs and symbols that marked its liturgical life. These are no longer solely celebrations of cosmic cycles and social gestures, but signs of the covenant, symbols of God's mighty deeds for his people. Among these liturgical signs from the Old Covenant are circumcision, anointing and consecration of kings and priests, laying on of hands, sacrifices, and above all the Passover. the Church sees in these signs a prefiguring of the sacraments of the New Covenant.

1151

Những dấu chỉ được Đức Kitô sử dụng. Khi giảng dạy, Chúa Giêsu thường sử dụng những dấu chỉ của công trình tạo dựng để giúp nhận biết các mầu nhiệm của Nước Thiên Chúa. Người chữa lành và minh họa lời giảng dạy của Người bằng những dấu chỉ vật chất hay những cử chỉ có tính biểu trưng. Người ban một ý nghĩa mới cho các sự kiện và các dấu chỉ của Giao Ước cũ, nhất là cho cuộc Xuất Hành và lễ Vượt Qua, bởi vì chính Người là ý nghĩa của tất cả các dấu chỉ đó.

Signs taken up by Christ. In his preaching the Lord Jesus often makes use of the signs of creation to make known the mysteries of the Kingdom of God. He performs healings and illustrates his preaching with physical signs or symbolic gestures. He gives new meaning to the deeds and signs of the Old Covenant, above all to the Exodus and the Passover, for he himself is the meaning of all these signs.

1152

Các dấu chỉ bí tích. Từ sau Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần thực hiện việc thánh hóa qua các dấu chỉ bí tích của Hội Thánh của Ngài. Các bí tích của Hội Thánh không xóa bỏ, nhưng thanh luyện, đón nhận tất cả sự phong phú của các dấu chỉ và các biểu tượng của thế giới vật chất và đời sống xã hội. Hơn nữa, các bí tích còn hoàn tất những tiên trưng và hình bóng của Giao Ước cũ, biểu thị và thực hiện ơn cứu độ do Đức Kitô mang lại, và cho thấy trước cũng như cho nếm trước vinh quang thiên quốc.

Sacramental signs. Since Pentecost, it is through the sacramental signs of his Church that the Holy Spirit carries on the work of sanctification. the sacraments of the Church do not abolish but purify and integrate all the richness of the signs and symbols of the cosmos and of social life. Further, they fulfill the types and figures of the Old Covenant, signify and make actively present the salvation wrought by Christ, and prefigure and anticipate the glory of heaven. Words and actions

1153

Việc cử hành bí tích là cuộc gặp gỡ của các con cái Thiên Chúa với Cha mình, trong Đức Kitô và Chúa Thánh Thần, và cuộc gặp gỡ này diễn ra như một cuộc đối thoại, qua các hành động và các lời nói. Tuy các hành động biểu tượng chính là một thứ ngôn ngữ, nhưng cần có Lời Chúa và lời đáp lại của đức tin đi kèm theo và làm sống động các hành động ấy, để hạt giống của Nước Chúa mang lại hoa trái nơi thửa đất tốt. Các hành động phụng vụ nói lên điều Lời Chúa diễn tả: đó là sáng kiến nhưng không của Thiên Chúa, đồng thời là lời đáp lại của đức tin của dân Ngài.

A sacramental celebration is a meeting of God's children with their Father, in Christ and the Holy Spirit; this meeting takes the form of a dialogue, through actions and words. Admittedly, the symbolic actions are already a language, but the Word of God and the response of faith have to accompany and give life to them, so that the seed of the Kingdom can bear its fruit in good soil. the liturgical actions signify what the Word of God expresses: both his free initiative and his people's response of faith.

1154

Phụng vụ Lời Chúa là phần không thể thiếu trong các cử hành bí tích. Để nuôi dưỡng đức tin của các tín hữu, các dấu chỉ của Lời Chúa phải được đề cao: Sách Lời Chúa (sách Bài Đọc hay sách Tin Mừng), việc tôn kính Lời Chúa (rước kiệu, xông hương, ánh sáng), vị trí công bố Lời Chúa (giảng đài), việc tuyên đọc Lời Chúa cho dễ nghe dễ hiểu, bài giảng của thừa tác viên làm sáng tỏ Lời Chúa vừa được công bố, những lời đáp lại của cộng đoàn (những lời tung hô, các Thánh vịnh để suy niệm, các kinh cầu, việc tuyên xưng đức tin).

The liturgy of the Word is an integral part of sacramental celebrations. To nourish the faith of believers, the signs which accompany the Word of God should be emphasized: the book of the Word (a lectionary or a book of the Gospels), its veneration (procession, incense, candles), the place of its proclamation (lectern or ambo), its audible and intelligible reading, the minister's homily which extends its proclamation, and the responses of the assembly (acclamations, meditation psalms, litanies, and profession of faith).

1155

Lời phụng vụ và hành động phụng vụ, không thể tách biệt nhau xét như những dấu chỉ và giáo huấn, cũng không thể tách biệt nhau xét như cả hai thực hiện điều chúng biểu thị. Chúa Thánh Thần không những giúp hiểu được Lời Chúa qua việc khơi dậy đức tin, chính Ngài còn thực hiện, qua các bí tích, “những kỳ công” của Thiên Chúa đã được Lời Chúa loan báo: Ngài làm cho hiện diện và truyền thông công trình của Chúa Cha đã được Con yêu dấu thực hiện.

The liturgical word and action are inseparable both insofar as they are signs and instruction and insofar as they accomplish what they signify. When the Holy Spirit awakens faith, he not only gives an understanding of the Word of God, but through the sacraments also makes present the "wonders" of God which it proclaims. the Spirit makes present and communicates the Father's work, fulfilled by the beloved Son.

1156

“Truyền thống âm nhạc của Hội Thánh phổ quát đã tạo nên một kho tàng vô giá, vượt trên các hình thức nghệ thuật khác, nhất là vì thánh ca gắn liền với các lời nói, nên đã trở thành một phần cần thiết hoặc không thể thiếu của phụng vụ trọng thể.” Việc sáng tác và ca hát các Thánh vịnh được linh hứng, thường có các nhạc cụ phụ họa, đã gắn chặt với các cử hành phụng vụ của Cựu Ước. Hội Thánh tiếp tục và phát huy truyền thống này: “Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5,19). “Hát là cầu nguyện hai lần.”

"The musical tradition of the universal Church is a treasure of inestimable value, greater even than that of any other art. the main reason for this pre-eminence is that, as a combination of sacred music and words, it forms a necessary or integral part of solemn liturgy." The composition and singing of inspired psalms, often accompanied by musical instruments, were already closely linked to the liturgical celebrations of the Old Covenant. the Church continues and develops this tradition: "Address . . . one another in psalms and hymns and spiritual songs, singing and making melody to the Lord with all your heart." "He who sings prays twice."

1157

Bài ca và âm nhạc chu toàn chức năng làm dấu chỉ của mình một cách có ý nghĩa hơn, “khi chúng liên kết chặt chẽ hơn với hành động phụng vụ”, theo ba tiêu chuẩn chính sau đây: vẻ đẹp diễn cảm của lời cầu nguyện, sự đồng thanh tham dự của cộng đoàn vào những lúc đã được quy định, và tính cách long trọng của cuộc cử hành. Như vậy, bài ca và âm nhạc dự phần vào mục đích của các lời nói và các hành động phụng vụ: đó là làm vinh danh Thiên Chúa và thánh hóa các tín hữu: “Bao lần con đã rơi lệ khi nghe các thánh thi, thánh ca của Chúa, những âm thanh dịu dàng vang lên trong thánh đường của Chúa, con đã xúc động biết bao! Các âm thanh đó rót vào tai con, và chân lý được tinh luyện trong trái tim con, từ đó niềm hưng phấn đạo đức sục sôi lên và nước mắt tuôn tràn, những điều đó làm cho con hạnh phúc.”

Song and music fulfill their function as signs in a manner all the more significant when they are "more closely connected . . . with the liturgical action," according to three principal criteria: beauty expressive of prayer, the unanimous participation of the assembly at the designated moments, and the solemn character of the celebration. In this way they participate in the purpose of the liturgical words and actions: the glory of God and the sanctification of the faithful:

1158

Sự hòa hợp của các dấu chỉ (ca hát, âm nhạc, lời nói và hành động) sẽ càng có ý nghĩa hơn và mang nhiều hoa trái hơn nếu càng được diễn tả trong sự phong phú về văn hóa đặc thù của dân Thiên Chúa đang cử hành. Vì vậy, “những bài thánh ca mang tính dân tộc phải được cổ võ cách khéo léo, để giọng các tín hữu có thể vang lên trong những buổi thực hành đạo đức và linh thánh và trong chính các hành động phụng vụ” theo các quy tắc của Hội Thánh. Tuy nhiên, “lời ca trong các bài thánh ca phải phù hợp với giáo lý Công Giáo và tốt nhất là nên được rút ra từ Thánh Kinh và từ các nguồn mạch phụng vụ.”

The harmony of signs (song, music, words, and actions) is all the more expressive and fruitful when expressed in the cultural richness of the People of God who celebrate. Hence "religious singing by the faithful is to be intelligently fostered so that in devotions and sacred exercises as well as in liturgical services," in conformity with the Church's norms, "the voices of the faithful may be heard." But "the texts intended to be sung must always be in conformity with Catholic doctrine. Indeed they should be drawn chiefly from the Sacred Scripture and from liturgical sources."

1159

Ảnh tượng thánh, ảnh tượng phụng vụ, chủ yếu trình bày Đức Kitô. Ảnh tượng không thể trình bày Thiên Chúa vô hình và khôn tả; việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa đã mở đầu một “nhiệm cục” mới của các ảnh tượng: “Xưa kia Thiên Chúa, Đấng không có thân xác và diện mạo, không bao giờ được trình bày bằng ảnh tượng. Nhưng nay, sau khi Người đã tự trở nên hữu hình trong xác phàm và sống giữa loài người, tôi có thể họa một hình ảnh về điều tôi thấy nơi Thiên Chúa... Vậy sau khi dung nhan được mặc khải, chúng ta chiêm ngắm vinh quang của Chúa.”

The sacred image, the liturgical icon, principally represents Christ. It cannot represent the invisible and incomprehensible God, but the incarnation of the Son of God has ushered in a new "economy" of images:

1160

Nghệ thuật ảnh tượng Kitô Giáo dùng hình ảnh để truyền đạt sứ điệp Tin Mừng, sứ điệp mà Sách Thánh lưu truyền bằng lời. Hình ảnh và lời nói làm sáng tỏ lẫn nhau: “Chúng tôi tuyên bố cách vắn tắt rằng, chúng tôi gìn giữ nguyên vẹn mọi truyền thống hoặc thành văn, hoặc bất thành văn của Hội Thánh, đã được ký thác cho chúng tôi. Một trong những truyền thống này là việc sử dụng ảnh tượng, vốn phù hợp với việc rao giảng lịch sử Tin Mừng. Việc sử dụng ảnh tượng góp phần nói lên sự chắc chắn xác thực, chứ không phải chỉ là dáng vẻ, của việc Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể, và góp phần mang lại lợi ích cho chúng tôi. Những gì soi sáng cho nhau, thì chắc chắn có những ý nghĩa hỗ tương.”

Christian iconography expresses in images the same Gospel message that Scripture communicates by words. Image and word illuminate each other:

1161

Tất cả các dấu chỉ của việc cử hành phụng vụ đều quy hướng về Đức Kitô: kể cả các ảnh tượng của Mẹ Thiên Chúa và của các thánh. Thật vậy, các ảnh tượng này nói về Đức Kitô, Đấng được tôn vinh nơi các ngài. Các ảnh tượng này cho thấy “ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh” (Hr 12,1), các ngài đang tiếp tục tham dự vào công trình cứu độ trần gian và chúng ta được liên kết với các ngài, nhất là khi cử hành các bí tích. Qua ảnh tượng của các ngài, điều được mặc khải cho đức tin của chúng ta là, con người, được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa”, cuối cùng được biến hình nên “giống như Thiên Chúa”, và cả các Thiên thần, là những vị đã được quy tụ lại trong Đức Kitô: “Theo giáo huấn của các Thánh Giáo phụ được Thiên Chúa linh hứng, và theo truyền thống của Hội Thánh Công Giáo (mà chúng ta biết rằng đó là truyền thống của Chúa Thánh Thần, Đấng chắc chắn đang ngự trong Hội Thánh), chúng tôi ấn định với tất cả sự chắc chắn và chính đáng rằng, cũng như hình tượng cây Thánh Giá quý trọng và ban sự sống, các ảnh tượng đáng kính và thánh thiện, hoặc được vẽ và lắp ghép, hoặc bằng những chất liệu thích hợp khác, phải được đặt trong các thánh đường của Thiên Chúa, trên các bình thánh và y phục thánh, trên các bức tường và các bức họa, trong nhà và trên các đường phố: đó là ảnh tượng của Chúa Giêsu Kitô, là Thiên Chúa và là Đấng Cứu Độ chúng ta, cũng như ảnh tượng của Đức Bà tinh tuyền, là Mẹ thánh của Thiên Chúa, ảnh tượng của các Thiên thần đáng kính, của tất cả các Thánh và những người công chính.”

All the signs in the liturgical celebrations are related to Christ: as are sacred images of the holy Mother of God and of the saints as well. They truly signify Christ, who is glorified in them. They make manifest the "cloud of witnesses" who continue to participate in the salvation of the world and to whom we are united, above all in sacramental celebrations. Through their icons, it is man "in the image of God," finally transfigured "into his likeness," who is revealed to our faith. So too are the angels, who also are recapitulated in Christ:

1162

“Vẻ đẹp và màu sắc của các ảnh tượng kích thích việc cầu nguyện của tôi. Đó là một bữa tiệc làm no thỏa mắt tôi, cũng như quang cảnh đồng quê kích thích trái tim tôi ca tụng Thiên Chúa.” Việc chiêm ngắm các ảnh tượng thánh, cùng với việc suy niệm Lời Chúa và việc ca hát các thánh thi phụng vụ, sẽ tạo nên một sự hòa hợp các dấu chỉ trong cuộc cử hành, làm cho mầu nhiệm được cử hành in sâu vào tâm khảm các tín hữu, rồi được biểu lộ ra trong đời sống mới của họ.

"The beauty of the images moves me to contemplation, as a meadow delights the eyes and subtly infuses the soul with the glory of God." Similarly, the contemplation of sacred icons, united with meditation on the Word of God and the singing of liturgical hymns, enters into the harmony of the signs of celebration so that the mystery celebrated is imprinted in the heart's memory and is then expressed in the new life of the faithful.

1163

“Hội Thánh là Mẹ hiền, ý thức mình có bổn phận cử hành công trình cứu độ của Phu Quân thần linh của mình, bằng một sự tưởng niệm thánh thiêng, vào những ngày cố định trong suốt cả năm. Mỗi tuần, vào ngày được gọi là ngày của Chúa (Chúa nhật), Hội Thánh tưởng niệm cuộc phục sinh của Chúa, điều mà mỗi năm một lần Hội Thánh còn cử hành trong đại lễ Vượt Qua, cùng với cuộc khổ hình hồng phúc của Người. Hội Thánh trình bày toàn bộ mầu nhiệm Đức Kitô qua chu kỳ một năm... Khi cử hành các mầu nhiệm cứu chuộc như vậy, Hội Thánh mở ra cho các tín hữu kho tàng quyền năng và công nghiệp của Chúa mình, khiến các mầu nhiệm này một cách nào đó luôn hiện diện trong mọi lúc; các tín hữu tiếp xúc với các mầu nhiệm đó, và được đầy tràn ơn cứu độ.”

"Holy Mother Church believes that she should celebrate the saving work of her divine Spouse in a sacred commemoration on certain days throughout the course of the year. Once each week, on the day which she has called the Lord's Day, she keeps the memory of the Lord's resurrection. She also celebrates it once every year, together with his blessed Passion, at Easter, that most solemn of all feasts. In the course of the year, moreover, she unfolds the whole mystery of Christ .... Thus recalling the mysteries of the redemption, she opens up to the faithful the riches of her Lord's powers and merits, so that these are in some way made present in every age; the faithful lay hold of them and are filled with saving grace."

1164

Dân Thiên Chúa, theo luật Môsê, đã có những lễ mừng cố định khởi từ cuộc Vượt Qua để ghi nhớ những hành động kỳ diệu của Thiên Chúa Cứu độ, để tạ ơn Ngài vì những kỳ công đó, để nhớ mãi những kỳ công đó và để dạy cho các thế hệ sau sống xứng đáng với những kỳ công đó. Đến thời Hội Thánh, trong khoảng thời gian từ cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, được thực hiện một lần cho mãi mãi, cho đến ngày cuộc Vượt Qua được hoàn tất trong Nước Thiên Chúa, phụng vụ được cử hành vào những ngày đã ấn định, được đóng ấn bằng tính cách mới mẻ của mầu nhiệm Đức Kitô.

From the time of the Mosaic law, the People of God have observed fixed feasts, beginning with Passover, to commemorate the astonishing actions of the Savior God, to give him thanks for them, to perpetuate their remembrance, and to teach new generations to conform their conduct to them. In the age of the Church, between the Passover of Christ already accomplished once for all, and its consummation in the kingdom of God, the liturgy celebrated on fixed days bears the imprint of the newness of the mystery of Christ.

1165

Khi Hội Thánh cử hành mầu nhiệm Đức Kitô, có một từ luôn được nhắc đến trong kinh nguyện của Hội Thánh: đó là từ “Hôm nay”, là âm vang Lời Kinh Chúa dạy, và âm vang tiếng gọi của Chúa Thánh Thần. Ngày “hôm nay” này của Thiên Chúa hằng sống mà con người được mời gọi bước vào, chính là “Giờ” của cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu, Giờ đó xuyên suốt và hướng dẫn toàn bộ lịch sử: “Sự sống được mở ra cho vạn vật và tất cả được đầy tràn ánh sáng vĩnh cửu, và Đấng là Vầng Đông của các vầng đông xâm chiếm vũ trụ: Đấng được sinh ra trước Sao Mai, bất tử và cao cả, là Đức Kitô chiếu soi vạn vật hơn cả mặt trời. Vì vậy, ngày bừng sáng, lâu dài, vĩnh cửu và không thể tàn lụi đã xuất hiện cho chúng ta là những kẻ tin vào Người: đó là cuộc Vượt Qua thần bí.”

When the Church celebrates the mystery of Christ, there is a word that marks her prayer: "Today!" - a word echoing the prayer her Lord taught her and the call of the Holy Spirit. This "today" of the living God which man is called to enter is "the hour" of Jesus' Passover, which reaches across and underlies all history:

1166

“Theo truyền thống Tông Đồ bắt nguồn từ chính ngày Đức Kitô sống lại, Hội Thánh cử hành mầu nhiệm Vượt Qua vào mỗi ngày thứ tám, ngày thật xứng đáng được gọi là ngày của Chúa hoặc Chúa Nhật.” Ngày phục sinh của Đức Kitô vừa là “ngày thứ nhất trong tuần” gợi lại ngày đầu tiên của công trình tạo dựng, vừa là “ngày thứ tám”, trong ngày đó Đức Kitô, sau khi “an nghỉ” trong ngày sabát vĩ đại của Người, đã khởi đầu ngày “Chúa đã làm ra” (Tv 118,24), “ngày không có chiều tà.” “Bữa tiệc của Chúa” là trung tâm của ngày này, bởi vì trong đó, toàn thể cộng đoàn các tín hữu được gặp Chúa phục sinh, Đấng mời họ vào bàn tiệc của Người: “Ngày của Chúa, ngày Phục Sinh, ngày của các Kitô hữu, là ngày của chúng ta. Vì thế, ngày này được gọi là ngày của Chúa, bởi vì trong ngày đó Chúa, là Đấng chiến thắng, lên với Chúa Cha. Nếu người ngoại giáo gọi ngày này là ngày của mặt trời, chúng ta cũng sẵn sàng công nhận như vậy: vì hôm nay, ánh sáng của trần gian đã mọc lên, hôm nay mặt trời công chính đã xuất hiện, các tia sáng của mặt trời này mang lại ơn chữa lành.”

"By a tradition handed down from the apostles which took its origin from the very day of Christ's Resurrection, the Church celebrates the Paschal mystery every seventh day, which day is appropriately called the Lord's Day or Sunday." The day of Christ's Resurrection is both the first day of the week, the memorial of the first day of creation, and the "eighth day," on which Christ after his "rest" on the great sabbath inaugurates the "day that the Lord has made," the "day that knows no evening." The Lord's Supper is its center, for there the whole community of the faithful encounters the risen Lord who invites them to his banquet:

1167

Ngày Chúa Nhật đặc biệt là ngày họp mặt để cử hành phụng vụ, trong đó, các tín hữu quy tụ lại “để, khi nghe Lời Chúa và tham dự bí tích Thánh Thể, họ kính nhớ cuộc khổ nạn, sự sống lại và vinh quang của Chúa Giêsu, đồng thời họ cảm tạ Thiên Chúa, Đấng đã tái sinh họ trong niềm hy vọng sống động, nhờ sự sống lại từ cõi chết của Chúa Giêsu Kitô”: “Lạy Đức Kitô, khi chúng con suy ngắm những kỳ công vinh quang và những dấu chỉ lạ lùng được thực hiện trong ngày Chúa Nhật của cuộc phục sinh thánh và vinh hiển của Chúa, chúng con thốt lên: Chúc tụng ngày của Chúa, bởi vì trong ngày này công trình tạo dựng đã được khởi đầu,... trần gian được cứu chuộc,... nhân loại được canh tân... Trong ngày này, trời đất bừng sáng lên và cả trần gian ngập tràn ánh sáng. Chúc tụng ngày của Chúa, bởi vì trong ngày này các cửa thiên đàng được mở ra để ông Ađam và mọi kẻ bị lưu đày tiến vào đó mà không sợ hãi.”

Sunday is the pre-eminent day for the liturgical assembly, when the faithful gather "to listen to the word of God and take part in the Eucharist, thus calling to mind the Passion, Resurrection, and glory of the Lord Jesus, and giving thanks to God who 'has begotten them again, by the resurrection of Jesus Christ from the dead' unto a living hope":

1168

Khởi từ Tam Nhật Vượt Qua, như từ nguồn ánh sáng của mình, thời đại mới của cuộc phục sinh tuôn đổ sự rực rỡ của nó trên suốt năm phụng vụ. Dần dần, nhờ hết phần này đến phần khác của nguồn mạch này, trọn cả năm được biến hình nhờ phụng vụ. Đó quả thật là “năm hồng ân của Chúa.” Nhiệm cục cứu độ hoạt động trong khung thời gian, nhưng từ khi nhiệm cục đó được hoàn tất trong cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu và trong việc tuôn ban Chúa Thánh Thần, thì lúc tận cùng của lịch sử đã được tiền dự như “sự nếm trước” và Nước Thiên Chúa bước vào thời gian của chúng ta.

Beginning with the Easter Triduum as its source of light, the new age of the Resurrection fills the whole liturgical year with its brilliance. Gradually, on either side of this source, the year is transfigured by the liturgy. It really is a "year of the Lord's favor." The economy of salvation is at work within the framework of time, but since its fulfillment in the Passover of Jesus and the outpouring of the Holy Spirit, the culmination of history is anticipated "as a foretaste," and the kingdom of God enters into our time.

1169

Vì vậy, Lễ Phục Sinh không chỉ đơn giản là một ngày lễ giữa bao lễ khác: nó chính là “Ngày Lễ của các ngày lễ”, “Lễ Trọng của các lễ trọng”, cũng như Thánh Thể là bí tích của các bí tích (bí tích trọng đại). Thánh Athanasiô gọi lễ Phục Sinh là “Chúa Nhật vĩ đại”, cũng như Tuần Thánh được Giáo Hội Đông phương gọi là “Tuần Lễ vĩ đại.” Mầu nhiệm Phục Sinh, trong đó Đức Kitô tiêu diệt sự chết, thấm nhập vào thời gian già cỗi của chúng ta bằng sức mạnh đầy quyền năng của Người, cho đến khi mọi sự phải quy phục Người.

Therefore Easter is not simply one feast among others, but the "Feast of feasts," the "Solemnity of solemnities," just as the Eucharist is the "Sacrament of sacraments" (the Great Sacrament). St. Athanasius calls Easter "the Great Sunday" and the Eastern Churches call Holy Week "the Great Week." the mystery of the Resurrection, in which Christ crushed death, permeates with its powerful energy our old time, until all is subjected to him.

1170

Tại Công đồng Nicêa (năm 325), tất cả các Giáo Hội đồng ý mừng lễ Phục Sinh Kitô Giáo vào Chúa Nhật sau ngày trăng tròn (14 tháng Nisan), sau ngày xuân phân. Vì có những phương pháp khác nhau để tính ngày 14 tháng Nisan, nên ngày mừng lễ Phục sinh trong các Giáo hội Đông phương và Tây phương đã không luôn trùng khớp với nhau. Vì vậy, ngày nay các Giáo Hội này đang tìm cách thỏa thuận để ngày đại lễ Phục sinh của Chúa lại có thể được mừng chung trong cùng một ngày.

At the Council of Nicaea in 325, all the Churches agreed that Easter, the Christian Passover, should be celebrated on the Sunday following the first full moon (14 Nisan) after the vernal equinox. the reform of the Western calendar, called "Gregorian" after Pope Gregory XIII (1582), caused a discrepancy of several days with the Eastern calendar. Today, the Western and Eastern Churches are seeking an agreement in order once again to celebrate the day of the Lord's Resurrection on a common date.

1171

Năm phụng vụ là sự triển khai những khía cạnh khác nhau của mầu nhiệm Vượt Qua duy nhất. Điều này đặc biệt đúng cho chu kỳ các lễ xoay quanh mầu nhiệm Nhập Thể (Truyền Tin, Giáng Sinh, Hiển Linh), để tưởng niệm việc khởi đầu ơn cứu độ của chúng ta và truyền thông cho chúng ta những hoa trái đầu mùa của mầu nhiệm Vượt Qua.

In the liturgical year the various aspects of the one Paschal mystery unfold. This is also the case with the cycle of feasts surrounding the mystery of the incarnation (Annunciation, Christmas, Epiphany). They commemorate the beginning of our salvation and communicate to us the first fruits of the Paschal mystery.

1172

“Trong khi cử hành các mầu nhiệm của Đức Kitô theo chu kỳ hằng năm, Hội Thánh tôn kính với một tình yêu đặc biệt Đức Maria diễm phúc, Mẹ Thiên Chúa, Đấng được nối kết với Con mình trong công trình cứu độ bằng mối dây bất khả phân ly. Nơi Mẹ, Hội Thánh ngưỡng mộ và tán dương hoa trái tuyệt vời nhất của ơn cứu chuộc, và vui mừng chiêm ngắm nơi Mẹ như trong một hình ảnh rất tinh tuyền, mọi điều mà chính Hội Thánh ước mong và hy vọng trở thành.”

"In celebrating this annual cycle of the mysteries of Christ, Holy Church honors the Blessed Mary, Mother of God, with a special love. She is inseparably linked with the saving work of her Son. In her the Church admires and exalts the most excellent fruit of redemption and joyfully contemplates, as in a faultless image, that which she herself desires and hopes wholly to be."

1173

Trong chu kỳ hằng năm, khi kính nhớ các Thánh tử đạo và các vị Thánh khác, Hội Thánh “công bố mầu nhiệm Vượt Qua” nơi các người nam và người nữ đó, là “những vị đã cùng chịu đau khổ và cùng được vinh hiển với Đức Kitô, và Hội Thánh trình bày cho các tín hữu những mẫu gương của các ngài, để lôi kéo tất cả đến với Chúa Cha nhờ Đức Kitô, và nhờ công nghiệp của các ngài, Hội Thánh nhận được những ơn lành của Thiên Chúa.”

When the Church keeps the memorials of martyrs and other saints during the annual cycle, she proclaims the Paschal mystery in those "who have suffered and have been glorified with Christ. She proposes them to the faithful as examples who draw all men to the Father through Christ, and through their merits she begs for God's favors."

1174

Mầu nhiệm của Đức Kitô, cuộc Nhập Thể và Vượt Qua của Người, mà chúng ta cử hành trong bí tích Thánh Thể, đặc biệt nơi cộng đoàn quy tụ ngày Chúa nhật, thấm nhập và biến đổi thời gian của từng ngày nhờ việc cử hành các Giờ Kinh phụng vụ, còn gọi là kinh “Thần Vụ.” Trung thành với những lời khuyên của các Tông Đồ là “hãy cầu nguyện không ngừng”, việc cử hành này “đã được thiết lập để suốt cả ngày đêm được thánh hiến bằng việc ca ngợi Thiên Chúa.” Các Giờ Kinh phụng vụ là “kinh nguyện công khai của Hội Thánh”, trong đó các tín hữu (giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân) thực thi chức tư tế vương giả của những người đã lãnh bí tích Rửa Tội. Khi được cử hành “theo hình thức được Hội Thánh phê chuẩn”, các Giờ Kinh phụng vụ “thật sự là tiếng của chính Hiền Thê nói với Phu Quân; thậm chí còn là lời cầu nguyện của Đức Kitô cùng với Thân thể Người dâng lên Chúa Cha.”

The mystery of Christ, his Incarnation and Passover, which we celebrate in the Eucharist especially at the Sunday assembly, permeates and transfigures the time of each day, through the celebration of the Liturgy of the Hours, "the divine office." This celebration, faithful to the apostolic exhortations to "pray constantly," is "so devised that the whole course of the day and night is made holy by the praise of God." In this "public prayer of the Church," The faithful (clergy, religious, and lay people) exercise the royal priesthood of the baptized. Celebrated in "the form approved" by the Church, the Liturgy of the Hours "is truly the voice of the Bride herself addressed to her Bridegroom. It is the very prayer which Christ himself together with his Body addresses to the Father.

1175

Các Giờ Kinh phụng vụ phải trở thành kinh nguyện của toàn thể Dân Chúa. Trong các giờ kinh đó, chính Đức Kitô “tiếp tục thực thi phận vụ tư tế qua Hội Thánh của Người”; mỗi người, theo phận vụ riêng biệt của mình trong Hội Thánh và theo hoàn cảnh sống, đều tham dự vào các giờ kinh này: các linh mục, bởi vì, là những người chuyên lo việc mục vụ, họ được kêu gọi chuyên cần cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa; các tu sĩ nam nữ vì đặc sủng của đời sống thánh hiến; mọi tín hữu theo khả năng của mình. “Các mục tử của các linh hồn phải liệu sao để các Giờ Kinh chính yếu, nhất là giờ Kinh Chiều, các ngày Chúa nhật và lễ trọng, được cử hành chung trong nhà thờ. Khuyên các giáo dân hãy đọc Kinh Thần vụ, hoặc cùng với các linh mục, hoặc khi họ họp nhau, và kể cả đọc riêng một mình nữa.”

The Liturgy of the Hours is intended to become the prayer of the whole People of God. In it Christ himself "continues his priestly work through his Church." His members participate according to their own place in the Church and the circumstances of their lives: priests devoted to the pastoral ministry, because they are called to remain diligent in prayer and the service of the word; religious, by the charism of their consecrated lives; all the faithful as much as possible: "Pastors of souls should see to it that the principal hours, especially Vespers, are celebrated in common in church on Sundays and on the more solemn feasts. the laity, too, are encouraged to recite the divine office, either with the priests, or among themselves, or even individually."

1176

Việc cử hành các Giờ Kinh phụng vụ đòi hỏi không những phải hòa hợp tiếng nói với tâm hồn cầu nguyện, mà còn “phải lo cho mình có kiến thức dồi dào hơn về phụng vụ và Thánh Kinh, nhất là về các Thánh vịnh.”

The celebration of the Liturgy of the Hours demands not only harmonizing the voice with the praying heart, but also a deeper "understanding of the liturgy and of the Bible, especially of the Psalms."

1177

Các thánh thi và kinh cầu của các Giờ Kinh phụng vụ đã đưa lời cầu nguyện của các Thánh vịnh vào thời gian của Hội Thánh, khi chúng diễn tả tính biểu tượng của thời khắc trong ngày, của thời gian phụng vụ hoặc của ngày lễ được cử hành. Hơn nữa, bài đọc Lời Chúa trong mỗi Giờ Kinh (với các câu Xướng Đáp theo sau) và, trong một số Giờ Kinh, việc đọc các tác phẩm của các Giáo phụ và các tôn sư linh đạo, cho thấy một cách sâu sắc hơn ý nghĩa của mầu nhiệm được cử hành, giúp thấu hiểu các Thánh vịnh và chuẩn bị cho việc cầu nguyện trong thinh lặng. Phương pháp Lectio divina (Đọc về Chúa), trong đó Lời Chúa được đọc, được suy niệm để trở thành lời cầu nguyện, như vậy cũng đã có gốc rễ từ việc cử hành phụng vụ.

The hymns and litanies of the Liturgy of the Hours integrate the prayer of the psalms into the age of the Church, expressing the symbolism of the time of day, the liturgical season, or the feast being celebrated. Moreover, the reading from the Word of God at each Hour (with the subsequent responses or troparia) and readings from the Fathers and spiritual masters at certain Hours, reveal more deeply the meaning of the mystery being celebrated, assist in understanding the psalms, and prepare for silent prayer. the lectio divina, where the Word of God is so read and meditated that it becomes prayer, is thus rooted in the liturgical celebration.

1178

Các Giờ Kinh phụng vụ, được coi như sự nối dài của việc cử hành thánh lễ, không loại trừ, nhưng xét như một bổ sung, kêu gọi các việc đạo đức khác nhau của Dân Chúa, đặc biệt là việc thờ phượng và tôn sùng Thánh Thể.

The Liturgy of the Hours, which is like an extension of the Eucharistic celebration, does not exclude but rather in a complementary way calls forth the various devotions of the People of God, especially adoration and worship of the Blessed Sacrament.

1179

Việc phụng tự của Giao Ước Mới “trong Thần Khí và sự thật” (Ga 4,24) không bị ràng buộc vào một nơi duy nhất. Toàn thể trái đất là thánh và được ủy thác cho con cái loài người. Khi các tín hữu được quy tụ tại một nơi, thì điều quan trọng nhất là, chính họ là “những viên đá sống động”, được gom lại để “xây nên ngôi đền thờ thiêng liêng” (1 Pr 2,5). Thân Thể của Đức Kitô Phục Sinh là ngôi đền thờ thiêng liêng, từ đó mạch nước hằng sống tuôn trào. Được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ Chúa Thánh Thần, chính chúng ta là “đền thờ của Thiên Chúa hằng sống” (2 Cr 6,16).

The worship "in Spirit and in truth" of the New Covenant is not tied exclusively to any one place. the whole earth is sacred and entrusted to the children of men. What matters above all is that, when the faithful assemble in the same place, they are the "living stones," gathered to be "built into a spiritual house." For the Body of the risen Christ is the spiritual temple from which the source of living water springs forth: incorporated into Christ by the Holy Spirit, "we are the temple of the living God."

1180

Khi việc thực hành tự do tôn giáo không bị ngăn cản, các Kitô hữu xây dựng những tòa nhà dành riêng cho việc phụng thờ Thiên Chúa. Những thánh đường hữu hình này không chỉ đơn giản là những nơi tụ họp, nhưng chúng cho thấy và làm tỏ hiện Hội Thánh sống động ở nơi đó, là nơi lưu ngụ của Thiên Chúa với những người đã được hòa giải và kết hợp trong Đức Kitô.

When the exercise of religious liberty is not thwarted, Christians construct buildings for divine worship. These visible churches are not simply gathering places but signify and make visible the Church living in this place, the dwelling of God with men reconciled and united in Christ.

1181

“Nhà cầu nguyện là nơi bí tích Thánh Thể cực thánh được cử hành và cất giữ, nơi các tín hữu được quy tụ, nơi sự hiện diện của Con Thiên Chúa, Đấng Cứu độ chúng ta, được hiến dâng trên bàn thờ hy tế vì chúng ta, được tôn thờ để phù trợ và an ủi các tín hữu, nhà đó phải đẹp, phải thích hợp cho việc cầu nguyện và cho các nghi thức thánh thiêng.” Trong “ngôi nhà của Thiên Chúa”, sự chân thật và hài hòa của các dấu chỉ tạo nên ngôi nhà này, phải biểu lộ Đức Kitô đang hiện diện và hành động ở chính nơi này:

A church, "a house of prayer in which the Eucharist is celebrated and reserved, where the faithful assemble, and where is worshipped the presence of the Son of God our Savior, offered for us on the sacrificial altar for the help and consolation of the faithful - this house ought to be in good taste and a worthy place for prayer and sacred ceremonial." In this "house of God" the truth and the harmony of the signs that make it up should show Christ to be present and active in this place.

1182

Bàn thờ của Giao Ước Mới là Thập Giá của Chúa, từ đó tuôn trào các bí tích của mầu nhiệm Vượt Qua. Trên bàn thờ, là trung tâm của thánh đường, hy tế thập giá được hiện tại hóa dưới những dấu chỉ bí tích. Bàn thờ cũng là bàn tiệc của Chúa mà dân Thiên Chúa được mời đến tham dự. Trong một số phụng vụ Đông phương, bàn thờ còn là biểu tượng của ngôi mộ (Đức Kitô đã thật sự chết và thật sự sống lại).

The altar of the New Covenant is the Lord's Cross, from which the sacraments of the Paschal mystery flow. On the altar, which is the center of the church, the sacrifice of the Cross is made present under sacramental signs. the altar is also the table of the Lord, to which the People of God are invited. In certain Eastern liturgies, the altar is also the symbol of the tomb (Christ truly died and is truly risen).

1183

Nhà Tạm phải được đặt “ở nơi cao quý nhất và một cách tôn kính nhất trong các nhà thờ.” Sự cao quý, vị trí và sự an toàn của nhà tạm Thánh Thể phải tạo sự thuận lợi cho việc thờ phượng Chúa đang hiện diện thực sự trong bí tích cực thánh trên bàn thờ. Dầu Thánh (myron), mà việc xức dầu này là dấu chỉ bí tích cho ấn tín ơn Chúa Thánh Thần, theo truyền thống được bảo quản và tôn kính tại một nơi an toàn trong cung thánh. Dầu Dự tòng và Dầu Bệnh nhân có thể được đặt chung ở đó.

The tabernacle is to be situated "in churches in a most worthy place with the greatest honor." The dignity, placing, and security of the Eucharistic tabernacle should foster adoration before the Lord really present in the Blessed Sacrament of the altar. The sacred chrism (myron), used in anointings as the sacramental sign of the seal of the gift of the Holy Spirit, is traditionally reserved and venerated in a secure place in the sanctuary. the oil of catechumens and the oil of the sick may also be placed there.

1184

Ghế ngồi của giám mục (toà) hay của linh mục “phải nói lên phận vụ của vị đó là chủ tọa cộng đoàn và hướng dẫn việc cầu nguyện.” Giảng đài: “Phẩm giá của Lời Chúa đòi phải có một nơi thích hợp trong nhà thờ, để công bố Lời Chúa và, trong phần phụng vụ Lời Chúa, sự chú ý của các tín hữu tự nhiên hướng về đó.”

The chair (cathedra) of the bishop or the priest "should express his office of presiding over the assembly and of directing prayer." The lectern (ambo): "The dignity of the Word of God requires the church to have a suitable place for announcing his message so that the attention of the people may be easily directed to that place during the liturgy of the Word."

1185

Việc quy tụ dân Thiên Chúa bắt đầu bằng bí tích Rửa Tội; nên thánh đường phải có nơi để cử hành bí tích Rửa Tội (giếng rửa tội) và giúp người ta nhớ đến các lời hứa trong bí tích Rửa Tội (nước thánh). Việc canh tân đời sống theo bí tích Rửa Tội đòi hỏi việc thống hối. Thánh đường phải là nơi thích hợp để bày tỏ lòng thống hối và lãnh nhận ơn tha thứ, nghĩa là phải có nơi thích hợp để đón tiếp các hối nhân. Thánh đường cũng phải là một không gian mời gọi người ta hồi tâm và cầu nguyện trong thinh lặng, điều đó kéo dài kinh nguyện cao cả là bí tích Thánh Thể và nội tâm hóa kinh nguyện cao cả đó.

The gathering of the People of God begins with Baptism; a church must have a place for the celebration of Baptism (baptistry) and for fostering remembrance of the baptismal promises (holy water font). The renewal of the baptismal life requires penance. A church, then, must lend itself to the expression of repentance and the reception of forgiveness, which requires an appropriate place to receive penitents. A church must also be a space that invites us to the recollection and silent prayer that extend and internalize the great prayer of the Eucharist.

1186

Sau cùng, thánh đường có một ý nghĩa cánh chung. Để tiến vào Nhà Chúa, người ta phải bước qua ngưỡng cửa, điều này là biểu tượng của việc vượt qua thế giới đầy thương tích vì tội lỗi để bước vào thế giới của đời sống mới mà mọi người được kêu gọi bước vào. Thánh đường hữu hình là biểu tượng của nhà Cha mà dân Thiên Chúa đang tiến về; nơi đó, Cha “sẽ lau sạch nước mắt họ” (Kh 21,4). Vì vậy, thánh đường còn là nhà của tất cả các con cái Thiên Chúa, luôn mở rộng và chào đón mọi người.

Finally, the church has an eschatological significance. To enter into the house of God, we must cross a threshold, which symbolizes passing from the world wounded by sin to the world of the new Life to which all men are called. the visible church is a symbol of the Father's house toward which the People of God is journeying and where the Father "will wipe every tear from their eyes." Also for this reason, the Church is the house of all God's children, open and welcoming.

1187

Phụng vụ là công trình của Đức Kitô toàn thể - gồm Đầu và Thân Thể. Vị Thượng Tế của chúng ta không ngừng cử hành Phụng vụ ấy trong Phụng vụ trên trời, cùng với Mẹ Thiên Chúa, các Tông Đồ, các thánh và đông đảo những người đã được vào Nước Trời.

The liturgy is the work of the whole Christ, head and body. Our high priest celebrates it unceasingly in the heavenly liturgy, with the holy Mother of God, the apostles, all the saints, and the multitude of those who have already entered the kingdom.

1188

Trong một cử hành Phụng vụ, toàn thể cộng đoàn đều là “người cử hành phụng vụ”, mỗi người theo chức năng của mình. Chức tư tế của bí tích Rửa Tội là chức tư tế của toàn Thân Thể Đức Kitô. Nhưng một số tín hữu được truyền chức do bí tích Truyền Chức Thánh để đại diện Đức Kitô như là Đầu của Thân Thể.

In a liturgical celebration, the whole assembly is leitourgos, each member according to his own function. the baptismal priesthood is that of the whole Body of Christ. But some of the faithful are ordained through the sacrament of Holy Orders to represent Christ as head of the Body.

1189

Cử hành phụng vụ bao gồm các dấu chỉ và biểu tượng lấy từ công trình tạo dựng (ánh sáng, nước, lửa), từ đời sống con người (tắm giặt, xức dầu, bẻ bánh), và từ lịch sử cứu độ (các nghi thức Vượt Qua). Được đưa vào lãnh vực đức tin và được quyền năng Chúa Thánh Thần tác động, những yếu tố vũ trụ, những nghi thức của loài người, những cử chỉ gợi nhớ đến Chúa sẽ trở thành phương thế mang các hoạt động cứu độ và thánh hóa của Đức Kitô.

The liturgical celebration involves signs and symbols relating to creation (candles, water, fire), human life (washing, anointing, breaking bread) and the history of salvation (the rites of the Passover). Integrated into the world of faith and taken up by the power of the Holy Spirit, these cosmic elements, human rituals, and gestures of remembrance of God become bearers of the saving and sanctifying action of Christ.

1190

Phụng vụ Lời Chúa là phần thiết yếu của phụng vụ. Ý nghĩa của việc cử hành được diễn tả qua Lời Chúa được công bố và qua việc đồng thuận của đức tin trong lời đáp lại.

The Liturgy of the Word is an integral part of the celebration. the meaning of the celebration is expressed by the Word of God which is proclaimed and by the response of faith to it.

1191

Bài ca và âm nhạc nối kết chặt chẽ với hoạt động phụng vụ. Để sử dụng tốt phải chú ý đến các điều này: “vẻ đẹp diễn cảm của lời cầu nguyện, việc tham gia cách đồng tâm nhất trí của cộng đoàn và đặc tính thánh thiêng của cuộc cử hành.”

Song and music are closely connected with the liturgical action. the criteria for their proper use are the beauty expressive of prayer, the unanimous participation of the assembly, and the sacred character of the celebration.

1192

Các ảnh tượng thánh, hiện diện trong các thánh đường và trong nhà của chúng ta, có mục đích khơi dậy và nuôi dưỡng đức tin vào mầu nhiệm của Đức Kitô. Qua hình ảnh của Đức Kitô và các công trình cứu độ của Người, chúng ta tôn thờ chính Người. Qua các ảnh tượng thánh của Mẹ Thiên Chúa, của các Thiên thần và của các Thánh, chúng ta tôn kính những vị mà các ảnh tượng này biểu thị.

Sacred images in our churches and homes are intended to awaken and nourish our faith in the mystery of Christ. Through the icon of Christ and his works of salvation, it is he whom we adore. Through sacred images of the holy Mother of God, of the angels and of the saints, we venerate the persons represented.

1193

Chúa nhật, “Ngày của Chúa”, là ngày chính yếu để cử hành bí tích Thánh Thể vì là ngày của mầu nhiệm Phục Sinh. Đó là ngày quy tụ cộng đoàn phụng vụ, ngày của gia đình Kitô Giáo, ngày của niềm vui và ngày nghỉ việc. Ngày Chúa nhật là “nền tảng và cốt lõi của cả năm phụng vụ.”

Sunday, the "Lord's Day," is the principal day for the celebration of the Eucharist because it is the day of the Resurrection. It is the pre-eminent day of the liturgical assembly, the day of the Christian family, and the day of joy and rest from work. Sunday is "the foundation and kernel of the whole liturgical year" (SC 106).

1194

“Hội Thánh triển khai toàn bộ mầu nhiệm Đức Kitô qua chu kỳ một năm, từ mầu nhiệm Nhập Thể và Giáng Sinh đến Thăng Thiên, đến ngày lễ Ngũ Tuần, và cho đến việc mong đợi niềm hy vọng hồng phúc và cuộc Ngự đến của Chúa.”

The Church, "in the course of the year, . . . unfolds the whole mystery of Christ from his Incarnation and Nativity through his Ascension, to Pentecost and the expectation of the blessed hope of the coming of the Lord" (SC 102 # 2).

1195

Khi kính nhớ các Thánh, trước hết là Mẹ Thiên Chúa, kế đến là các Thánh Tông Đồ, các Thánh Tử đạo và các Thánh khác, vào những ngày nhất định trong năm Phụng vụ, Hội Thánh nơi trần thế biểu lộ sự hiệp thông với phụng vụ thiên quốc. Hội Thánh tôn vinh Đức Kitô, vì ơn cứu độ Người đã hoàn thành nơi những chi thể đã được tôn vinh của Người. Gương sáng của các ngài khích lệ Hội Thánh trên đường về với Chúa Cha.

By keeping the memorials of the saints - first of all the holy Mother of God, then the apostles, the martyrs, and other saints - on fixed days of the liturgical year, the Church on earth shows that she is united with the liturgy of heaven. She gives glory to Christ for having accomplished his salvation in his glorified members; their example encourages her on her way to the Father.

1196

Các tín hữu cử hành các Giờ Kinh phụng vụ, được kết hợp với Đức Kitô, vị Thượng Tế của chúng ta, qua lời cầu nguyện các Thánh vịnh, suy niệm Lời Chúa, các bài thánh ca và những lời chúc tụng. Nhờ đó, họ được liên kết với lời nguyện liên lỉ và phổ quát của Đức Kitô mà tôn vinh Chúa Cha và cầu xin ơn Chúa Thánh Thần xuống trên khắp trần gian.

The faithful who celebrate the Liturgy of the Hours are united to Christ our high priest, by the prayer of the Psalms, meditation on the Word of God, and canticles and blessings, in order to be joined with his unceasing and universal prayer that gives glory to the Father and implores the gift of the Holy Spirit on the whole world.

1197

Đức Kitô là Đền Thờ đích thực của Thiên Chúa, là “nơi vinh quang của Chúa Cha ngự trị.” Nhờ ân sủng của Thiên Chúa, các tín hữu cũng trở nên đền thờ của Chúa Thánh Thần, nên những viên đá sống động xây nên Hội Thánh.

Christ is the true temple of God, "the place where his glory dwells"; by the grace of God, Christians also become the temples of the Holy Spirit, living stones out of which the Church is built.

1198

Trong tình trạng tại thế, Hội Thánh cần có những nơi để cộng đoàn tập họp: các thánh đường hữu hình của chúng ta là những nơi thánh, là hình ảnh của Thành thánh Giêrusalem thiên quốc, nơi chúng ta là những lữ khách đang tiến về.

In its earthly state the Church needs places where the community can gather together. Our visible churches, holy places, are images of the holy city, the heavenly Jerusalem, toward which we are making our way on pilgrimage.

1199

Chính trong những thánh đường này, Hội Thánh cử hành việc thờ phượng công khai để tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi, lắng nghe Lời Chúa, ca hát những lời chúc tụng, dâng lên lời cầu nguyện của mình và dâng hy tế của Đức Kitô, Đấng hiện diện cách bí tích giữa cộng đoàn. Những thánh đường này còn là nơi giúp tín hữu hồi tâm và cầu nguyện riêng.

It is in these churches that the Church celebrates public worship to the glory of the Holy Trinity, hears the word of God and sings his praise, lifts up her prayer, and offers the sacrifice of Christ sacramentally present in the midst of the assembly. These churches are also places of recollection and personal prayer.