Bí tích Thánh Thể hoàn tất việc khai tâm Kitô Giáo. Những người đã được nâng lên hàng tư tế vương giả nhờ bí tích Rửa Tội, và được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô cách sâu xa hơn nhờ bí tích Thêm Sức, nay nhờ bí tích Thánh Thể được tham dự vào chính hy tế của Chúa cùng với toàn thể cộng đoàn.
The holy Eucharist completes Christian initiation. Those who have been raised to the dignity of the royal priesthood by Baptism and configured more deeply to Christ by Confirmation participate with the whole community in the Lord's own sacrifice by means of the Eucharist.
“Đang khi ăn bữa Tiệc ly, trong đêm Người bị nộp, Đấng Cứu Độ chúng ta đã thiết lập Hy tế Thánh Thể bằng Mình và Máu Người, để nhờ đó, Hy tế thập giá trường tồn qua các thời đại, cho tới khi Người đến, và cũng để ủy thác cho Hiền Thê yêu quý của Người là Hội Thánh, việc tưởng nhớ sự Chết và Sống lại của Người: Đây là bí tích tình yêu, là dấu chỉ sự hợp nhất, là mối dây bác ái, là bữa tiệc Vượt Qua, nơi chúng ta lãnh nhận Đức Kitô, linh hồn được tràn đầy ân sủng và nhận được bảo đảm cho vinh quang tương lai.”
"At the Last Supper, on the night he was betrayed, our Savior instituted the Eucharistic sacrifice of his Body and Blood. This he did in order to perpetuate the sacrifice of the cross throughout the ages until he should come again, and so to entrust to his beloved Spouse, the Church, a memorial of his death and resurrection: a sacrament of love, a sign of unity, a bond of charity, a Paschal banquet 'in which Christ is consumed, the mind is filled with grace, and a pledge of future glory is given to us.'"
Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể đời sống Kitô Giáo. “Những bí tích khác cũng như mọi thừa tác vụ trong Hội Thánh, và các hoạt động tông đồ, đều gắn liền với bí tích Thánh Thể và quy hướng về bí tích đó. Thật vậy, phép Thánh Thể Chí Thánh chứa đựng toàn bộ của cải thiêng liêng của Hội Thánh, đó là chính Đức Kitô, Chiên Vượt Qua của chúng ta.”
The Eucharist is "the source and summit of the Christian life." "The other sacraments, and indeed all ecclesiastical ministries and works of the apostolate, are bound up with the Eucharist and are oriented toward it. For in the blessed Eucharist is contained the whole spiritual good of the Church, namely Christ himself, our Pasch."
“Việc hiệp thông vào sự sống của Thiên Chúa và sự hợp nhất của dân Thiên Chúa, nhờ hai điều đó mà Hội Thánh tồn tại, được diễn tả cách xác đáng và thực hiện cách kỳ diệu nhờ bí tích Thánh Thể. Trong bí tích này, hành động Thiên Chúa thánh hóa trần gian trong Đức Kitô và việc phụng tự mà con người dâng lên Đức Kitô và nhờ Người mà dâng lên Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần, cả hai đều đạt tới tột đỉnh.”
"The Eucharist is the efficacious sign and sublime cause of that communion in the divine life and that unity of the People of God by which the Church is kept in being. It is the culmination both of God's action sanctifying the world in Christ and of the worship men offer to Christ and through him to the Father in the Holy Spirit."
Sau cùng, nhờ việc cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta đã được kết hợp với phụng vụ trên trời và tham dự trước vào đời sống vĩnh cửu, trong đó “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28).
Finally, by the Eucharistic celebration we already unite ourselves with the heavenly liturgy and anticipate eternal life, when God will be all in all.
Tóm lại, bí tích Thánh Thể là bản toát yếu và tổng luận của đức tin của chúng ta: “Cách chúng ta suy nghĩ phù hợp với bí tích Thánh Thể, và ngược lại bí tích Thánh Thể xác nhận cách suy nghĩ của chúng ta.”
In brief, the Eucharist is the sum and summary of our faith: "Our way of thinking is attuned to the Eucharist, and the Eucharist in turn confirms our way of thinking."
Sự phong phú vô tận của bí tích này được diễn tả qua nhiều tên gọi khác nhau mà người ta dành cho bí tích này. Mỗi một trong các tên gọi đó gợi lên một số phương diện. Người ta gọi bí tích Thánh Thể là: Lễ Tạ Ơn, bởi vì đây chính là hành động cảm tạ Thiên Chúa. Các từ Eucharistein (Lc 22,19; 1 Cr 11,24) và eulogein (Mt 26,26; Mc 14,22) nhắc lại những lời chúc tụng của dân Do Thái - nhất là trong bữa ăn - để tung hô các kỳ công của Thiên Chúa: tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa.
The inexhaustible richness of this sacrament is expressed in the different names we give it. Each name evokes certain aspects of it. It is called: Eucharist, because it is an action of thanksgiving to God. the Greek words eucharistein and eulogein recall the Jewish blessings that proclaim - especially during a meal - God's works: creation, redemption, and sanctification.
Bữa ăn tối của Chúa, bởi vì Hội Thánh tưởng niệm bữa Tiệc Ly Chúa cùng ăn với các môn đệ Người hôm trước ngày Người chịu nạn, và đây như là việc tham dự trước vào Tiệc Cưới của Con Chiên trong thành Giêrusalem thiên quốc. Việc Bẻ Bánh, vì nghi thức này, nét đặc thù của bữa ăn Do Thái, đã được Chúa Giêsu sử dụng khi Người dâng lời chúc tụng và phân phối bánh với tư cách người chủ tiệc, đặc biệt trong bữa Tiệc Ly. Nhờ cử chỉ này, các môn đệ nhận ra Người sau khi Người sống lại; và các Kitô hữu tiên khởi đã dùng thuật ngữ “Bẻ Bánh” để nói về các buổi cử hành Thánh Thể của họ. Như vậy, họ muốn nói lên rằng, tất cả những ai cùng ăn một tấm bánh duy nhất được bẻ ra, là Đức Kitô, thì được hiệp thông với Người và làm thành một thân thể trong Người. Cộng đoàn Thánh Thể (Synaxis), bởi vì bí tích Thánh Thể được cử hành trong cộng đoàn các tín hữu, đó là cách diễn tả hữu hình về Hội Thánh.
The Lord's Supper, because of its connection with the supper which the Lord took with his disciples on the eve of his Passion and because it anticipates the wedding feast of the Lamb in the heavenly Jerusalem. The Breaking of Bread, because Jesus used this rite, part of a Jewish meat when as master of the table he blessed and distributed the bread, above all at the Last Supper. It is by this action that his disciples will recognize him after his Resurrection, and it is this expression that the first Christians will use to designate their Eucharistic assemblies; by doing so they signified that all who eat the one broken bread, Christ, enter into communion with him and form but one body in him. The Eucharistic assembly (synaxis), because the Eucharist is celebrated amid the assembly of the faithful, the visible expression of the Church.
Việc Tưởng Niệm cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa. Hy tế thánh, bởi vì hy tế duy nhất của Đức Kitô Đấng Cứu Độ được hiện tại hóa và bao gồm cả lễ vật của Hội Thánh. Bí tích Thánh Thể còn được gọi là Hy tế Thánh lễ, “lễ tế ngợi khen” (Hr 13,15) , lễ tế thiêng liêng, hy tế tinh tuyền và thánh thiện, bởi vì bí tích này hoàn tất và vượt trên mọi hy tế của Giao Ước cũ. Phụng vụ thánh và thần linh, bởi vì tất cả phụng vụ của Hội Thánh có trung tâm và cách diễn tả cô đọng nhất trong việc cử hành bí tích này; cũng theo nghĩa đó bí tích Thánh Thể còn được gọi là cuộc cử hành Các mầu nhiệm thánh. Bí tích này cũng được gọi là Bí Tích Cực Thánh, bởi vì là bí tích của các bí tích. Danh xưng này để chỉ các hình dạng Thánh Thể được lưu giữ trong Nhà Tạm.
The memorial of the Lord's Passion and Resurrection. The Holy Sacrifice, because it makes present the one sacrifice of Christ the Savior and includes the Church's offering. the terms holy sacrifice of the Mass, "sacrifice of praise," spiritual sacrifice, pure and holy sacrifice are also used, since it completes and surpasses all the sacrifices of the Old Covenant. The Holy and Divine Liturgy, because the Church's whole liturgy finds its center and most intense expression in the celebration of this sacrament; in the same sense we also call its celebration the Sacred Mysteries. We speak of the Most Blessed Sacrament because it is the Sacrament of sacraments. the Eucharistic species reserved in the tabernacle are designated by this same name.
Sự hiệp lễ, bởi vì nhờ bí tích này, chúng ta được kết hợp với Đức Kitô, là Đấng cho chúng ta tham dự vào Mình và Máu Người, để làm thành một thân thể duy nhất; bí tích này cũng được gọi là Những sự thánh (ta hagia; sancta) - đây là ý nghĩa đầu tiên của mầu nhiệm “các Thánh thông công” mà Tín biểu của các Tông Đồ nói đến -, Bánh các Thiên thần, Bánh bởi trời, Thuốc trường sinh , Của ăn đàng...
Holy Communion, because by this sacrament we unite ourselves to Christ, who makes us sharers in his Body and Blood to form a single body. We also call it: the holy things (ta hagia; sancta) - the first meaning of the phrase "communion of saints" in the Apostles' Creed - the bread of angels, bread from heaven, medicine of immortality, viaticum....
Thánh Lễ (Lễ Misa), bởi vì phụng vụ trong đó mầu nhiệm cứu độ được hoàn tất, được kết thúc bằng việc sai các tín hữu ra đi (missio), để họ chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong đời sống hằng ngày của họ.
Holy Mass (Missa), because the liturgy in which the mystery of salvation is accomplished concludes with the sending forth (missio) of the faithful, so that they may fulfill God's will in their daily lives.
Ở trung tâm việc cử hành bí tích Thánh Thể có bánh và rượu, mà nhờ lời của Đức Kitô và việc khẩn cầu Chúa Thánh Thần, sẽ trở thành Mình và Máu của Đức Kitô. Trung thành với mệnh lệnh của Chúa, để nhớ đến Người, cho tới khi Người lại đến trong vinh quang, Hội Thánh tiếp tục làm điều Chúa đã làm hôm trước ngày Người chịu khổ hình: “Người cầm lấy bánh...”, “Người cầm lấy chén rượu...” Các dấu chỉ là bánh và rượu, khi đã trở nên Mình và Máu Đức Kitô cách mầu nhiệm, vẫn tiếp tục nói lên sự thiện hảo của công trình tạo dựng. Vì vậy, trong phần Dâng lễ, chúng ta tạ ơn Đấng Tạo hóa vì đã ban bánh và rượu, là kết quả của “công lao của con người,” nhưng trước hết đó là “hoa mầu ruộng đất” và “sản phẩm từ cây nho”, tức là những hồng ân của Đấng Tạo Hóa. Hội Thánh nhận ra cử chỉ của Menkixêđê, là vua và là tư tế, ông “mang bánh và rượu ra” (St 14,18), là hình ảnh tiên báo cho hiến lễ của mình.
At the heart of the Eucharistic celebration are the bread and wine that, by the words of Christ and the invocation of the Holy Spirit, become Christ's Body and Blood. Faithful to the Lord's command the Church continues to do, in his memory and until his glorious return, what he did on the eve of his Passion: "He took bread...." "He took the cup filled with wine...." the signs of bread and wine become, in a way surpassing understanding, the Body and Blood of Christ; they continue also to signify the goodness of creation. Thus in the Offertory we give thanks to the Creator for bread and wine, fruit of the "work of human hands," but above all as "fruit of the earth" and "of the vine" - gifts of the Creator. the Church sees in the gesture of the king-priest Melchizedek, who "brought out bread and wine," a prefiguring of her own offering.
Thời Giao Ước cũ, trong số các hoa trái đầu mùa của ruộng đất, bánh và rượu được dâng lên làm lễ vật, với tính cách một dấu chỉ của lòng biết ơn đối với Đấng Tạo Hóa. Nhưng chúng còn mang một ý nghĩa mới trong bối cảnh cuộc Xuất Hành: Các bánh không men mà người Do Thái hằng năm vẫn ăn trong dịp lễ Vượt Qua, gợi nhớ đến sự vội vã của cuộc ra đi thoát khỏi Ai Cập; kỷ niệm về manna trong sa mạc luôn nhắc nhớ dân Ítraen rằng họ sống bằng bánh là Lời Chúa. Cuối cùng, bánh ăn hằng ngày là sản phẩm của Đất hứa, là bảo chứng việc Thiên Chúa trung tín với các lời hứa của Ngài. “Chén chúc tụng” (1 Cr 10,16) vào cuối bữa tiệc Vượt Qua của người Do Thái, đã thêm cho rượu một ý nghĩa cánh chung ngoài niềm vui lễ hội, đó là sự trông chờ Đấng Mêsia đến tái tạo Giêrusalem. Khi thiết lập bí tích Thánh Thể của Người, Chúa Giêsu đã ban một ý nghĩa mới và dứt khoát cho việc dâng lời chúc tụng trên bánh và chén rượu.
In the Old Covenant bread and wine were offered in sacrifice among the first fruits of the earth as a sign of grateful acknowledgment to the Creator. But they also received a new significance in the context of the Exodus: the unleavened bread that Israel eats every year at Passover commemorates the haste of the departure that liberated them from Egypt; the remembrance of the manna in the desert will always recall to Israel that it lives by the bread of the Word of God; their daily bread is the fruit of the promised land, the pledge of God's faithfulness to his promises. The "cup of blessing" at the end of the Jewish Passover meal adds to the festive joy of wine an eschatological dimension: the messianic expectation of the rebuilding of Jerusalem. When Jesus instituted the Eucharist, he gave a new and definitive meaning to the blessing of the bread and the cup.
Các phép lạ hóa bánh ra nhiều, khi Chúa dâng lời chúc tụng, bẻ bánh ra và trao cho các môn đệ Người để nuôi dưỡng đám đông, là hình ảnh tiên báo sự vô cùng phong phú của tấm bánh duy nhất là Thánh Thể của Người. Dấu chỉ nước hóa thành rượu ở Cana đã loan báo Giờ vinh quang của Chúa Giêsu. Dấu chỉ này biểu lộ sự hoàn tất của bữa tiệc cưới trong Nước của Chúa Cha, nơi các tín hữu uống rượu mới đã trở thành Máu Đức Kitô.
The miracles of the multiplication of the loaves, when the Lord says the blessing, breaks and distributes the loaves through his disciples to feed the multitude, prefigure the superabundance of this unique bread of his Eucharist. The sign of water turned into wine at Cana already announces the Hour of Jesus' glorification. It makes manifest the fulfillment of the wedding feast in the Father's kingdom, where the faithful will drink the new wine that has become the Blood of Christ.
Lời loan báo đầu tiên về bí tích Thánh Thể đã gây chia rẽ các môn đệ, giống như lời loan báo về cuộc khổ nạn đã làm cho họ vấp phạm: “Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6,60). Thánh Thể và Thánh Giá là những hòn đá gây vấp ngã. Vẫn là cùng một mầu nhiệm, và mầu nhiệm đó không ngừng là cớ gây chia rẽ. “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6,67): Câu hỏi này của Chúa vang vọng qua các thời đại, với tính cách một lời mời gọi của tình yêu của Người để khám phá ra rằng, chỉ một mình Người mới có “những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68), và việc đón nhận hồng ân Thánh Thể của Người trong đức tin là đón nhận chính Người.
The first announcement of the Eucharist divided the disciples, just as the announcement of the Passion scandalized them: "This is a hard saying; who can listen to it?" The Eucharist and the Cross are stumbling blocks. It is the same mystery and it never ceases to be an occasion of division. "Will you also go away?": The Lord's question echoes through the ages, as a loving invitation to discover that only he has "the words of eternal life" and that to receive in faith the gift of his Eucharist is to receive the Lord himself.
Khi yêu thương những kẻ thuộc về mình, Chúa đã yêu họ đến cùng. Khi biết đã đến Giờ lìa bỏ thế gian mà về cùng Cha mình, trong một bữa tiệc, Người đã rửa chân cho họ và ban cho họ giới luật yêu thương. Để lưu lại cho họ bảo chứng của tình yêu này, để không bao giờ lìa xa những kẻ thuộc về mình, và để họ được tham dự vào cuộc Vượt Qua của Người, Người đã thiết lập bí tích Thánh Thể, với tính cách một việc để nhớ đến cái Chết và sự Sống lại của Người, và Người truyền cho các Tông Đồ Người, “những vị Người đặt làm tư tế của Giao Ước Mới” phải cử hành bí tích này cho tới khi Người lại đến.
The Lord, having loved those who were his own, loved them to the end. Knowing that the hour had come to leave this world and return to the Father, in the course of a meal he washed their feet and gave them the commandment of love. In order to leave them a pledge of this love, in order never to depart from his own and to make them sharers in his Passover, he instituted the Eucharist as the memorial of his death and Resurrection, and commanded his apostles to celebrate it until his return; "thereby he constituted them priests of the New Testament."
Ba Tin Mừng Nhất Lãm và thánh Phaolô lưu truyền cho chúng ta bản tường thuật việc thiết lập bí tích Thánh Thể; về phần mình, thánh Gioan thuật lại những lời của Chúa Giêsu tại hội đường Caphácnaum, những lời đó thật sự chuẩn bị cho việc thiết lập bí tích Thánh Thể: chính Đức Kitô tự xưng mình là Bánh Hằng Sống, từ trời xuống.
The three synoptic Gospels and St. Paul have handed on to us the account of the institution of the Eucharist; St. John, for his part, reports the words of Jesus in the synagogue of Capernaum that prepare for the institution of the Eucharist: Christ calls himself the bread of life, come down from heaven.
Chúa Giêsu chọn thời gian mừng lễ Vượt Qua để thực hiện điều Người đã báo trước ở Caphácnaum: Người ban Mình và Máu Người cho các môn đệ của Người: “Đã đến ngày lễ Bánh Không Men, ngày phải sát tế chiên Vượt Qua. Chúa Giêsu sai ông Phêrô với ông Gioan đi và dặn: ‘Các anh hãy đi dọn cho chúng ta ăn lễ Vượt Qua’... Các ông ra đi... và dọn tiệc Vượt Qua. Khi giờ đã đến, Chúa Giêsu vào bàn cùng với các Tông Đồ. Người nói với các ông: ‘Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa’... Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói: ‘Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy’. Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói: ‘Chén này là giao ước mới, lập bằng Máu Thầy, máu đổ ra vì anh em’” (Lc 22,7-20).
Jesus chose the time of Passover to fulfill what he had announced at Capernaum: giving his disciples his Body and his Blood:
Khi cử hành bữa Tiệc Ly với các Tông Đồ của Người trong khung cảnh bữa tiệc Vượt Qua, Chúa Giêsu đã ban cho lễ Vượt Qua của người Do Thái một ý nghĩa dứt khoát. Quả thật, cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu để về cùng Cha Người, qua cái Chết và sự Sống lại, thật sự là cuộc Vượt Qua mới, được tham dự trước trong bữa Tiệc Ly và được cử hành trong bí tích Thánh Thể, cuộc Vượt Qua đó hoàn thành lễ Vượt Qua của người Do Thái và tham dự trước vào lễ Vượt Qua chung cuộc của Hội Thánh trong vinh quang Nước Thiên Chúa.
By celebrating the Last Supper with his apostles in the course of the Passover meal, Jesus gave the Jewish Passover its definitive meaning. Jesus' passing over to his father by his death and Resurrection, the new Passover, is anticipated in the Supper and celebrated in the Eucharist, which fulfills the Jewish Passover and anticipates the final Passover of the Church in the glory of the kingdom.
Mệnh lệnh Chúa Giêsu truyền phải lặp lại những cử chỉ và lời nói của Người “cho tới khi Chúa đến” (1 Cr 11,26), không chỉ đòi hỏi phải nhớ đến Chúa Giêsu và những gì Người đã làm. Mệnh lệnh này nhắm đến việc cử hành phụng vụ, do các Tông Đồ và những người kế nhiệm các ngài, để tưởng niệm Đức Kitô, tưởng niệm cuộc đời của Người, cái Chết và sự Sống lại của Người, và việc chuyển cầu của Người bên Chúa Cha.
The command of Jesus to repeat his actions and words "until he comes" does not only ask us to remember Jesus and what he did. It is directed at the liturgical celebration, by the apostles and their successors, of the memorial of Christ, of his life, of his death, of his Resurrection, and of his intercession in the presence of the Father.
Ngay từ đầu, Hội Thánh đã trung thành tuân giữ mệnh lệnh này của Chúa. Về Hội Thánh tại Giêrusalem có bài tường thuật như sau: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng... Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ” (Cv 2,42.46).
From the beginning the Church has been faithful to the Lord's command. of the Church of Jerusalem it is written:
Đặc biệt vào “ngày thứ nhất trong tuần”, nghĩa là ngày Chúa Nhật, ngày Chúa Giêsu phục sinh, các Kitô hữu tụ họp để “bẻ bánh” (Cv 20,7). Từ đó đến nay, việc cử hành bí tích Thánh Thể tiếp tục tồn tại y như vậy, đến độ ngày nay chúng ta vẫn gặp được việc cử hành đó, ở bất cứ đâu trong Hội Thánh, với cùng một cấu trúc căn bản. Bí tích Thánh Thể vẫn mãi mãi là trung tâm của đời sống Hội Thánh.
It was above all on "the first day of the week," Sunday, the day of Jesus' resurrection, that the Christians met "to break bread." From that time on down to our own day the celebration of the Eucharist has been continued so that today we encounter it everywhere in the Church with the same fundamental structure. It remains the center of the Church's life.
Như vậy, từ cử hành này sang cử hành khác để loan báo mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu, “cho tới khi Chúa đến” (1 Cr 11,26), dân Thiên Chúa trên đường lữ hành, “qua đường hẹp của thập giá”, đang tiến về bàn tiệc thiên quốc, nơi tất cả mọi người được tuyển chọn sẽ ngồi vào bàn tiệc của Nước Thiên Chúa.
Thus from celebration to celebration, as they proclaim the Paschal mystery of Jesus "until he comes," the pilgrim People of God advances, "following the narrow way of the cross," toward the heavenly banquet, when all the elect will be seated at the table of the kingdom.
Từ thế kỷ II, chúng ta có chứng từ của thánh Giustinô tử đạo về những nét chính của việc cử hành thánh lễ. Những nét chính đó vẫn được giữ nguyên cho đến ngày nay, trong tất cả các truyền thống phụng vụ lớn. Để giải thích cho hoàng đế ngoại giáo Antôniô Piô (138-161) những gì các Kitô hữu đã làm, thánh Giustinô viết vào khoảng năm 155 như sau: “Vào ngày Mặt Trời như người ta thường gọi, mọi người ở thành phố hay ở nông thôn đều họp lại một nơi. Và người ta đọc ký sự của các Tông Đồ hoặc sách của các Tiên tri, tùy thời gian cho phép. Khi người đọc kết thúc, vị chủ sự lên tiếng nhắn nhủ và khuyến khích mọi người bắt chước những điều tốt lành đó. Sau đó, tất cả chúng tôi cùng đứng dậy và dâng lời cầu nguyện cho chính chúng tôi... và cho mọi người khác ở khắp nơi,... để chúng tôi sống ngay chính trong các việc làm và trong việc tuân giữ các giới răn, hầu chúng tôi đạt được ơn cứu độ vĩnh cửu. Khi kết thúc việc cầu nguyện, chúng tôi trao hôn bình an cho nhau. Tiếp đến, người ta mang đến cho vị chủ sự bánh và một chén rượu có pha nước. Vị chủ sự cầm lấy bánh rượu, dâng lời tán tụng và tôn vinh Cha của vũ trụ, nhân danh Chúa Con và Chúa Thánh Thần và đọc một kinh tạ ơn dài (tiếng Hy Lạp: eucharistian) về việc chúng tôi được coi là xứng đáng với các hồng ân này. Khi vị chủ sự kết thúc các lời nguyện và việc tạ ơn, mọi người hiện diện đồng thanh đáp: Amen. Sau khi vị chủ sự hoàn tất nghi thức tạ ơn và toàn dân đã đáp lại, thì các vị mà chúng tôi gọi là phó tế, phân phát bánh và rượu có pha nước ‘đã được thánh thể hoá’ (‘eucharistizata’) cho mỗi người hiện diện tham dự và đem đến cho những người vắng mặt.”
As early as the second century we have the witness of St. Justin Martyr for the basic lines of the order of the Eucharistic celebration. They have stayed the same until our own day for all the great liturgical families. St. Justin wrote to the pagan emperor Antoninus Pius (138-161) around the year 155, explaining what Christians did:
Phụng vụ Thánh lễ diễn tiến theo một cấu trúc căn bản đã được duy trì qua các thế kỷ cho đến thời đại chúng ta. Phụng vụ Thánh lễ được triển khai trong hai phần chính, làm thành một thể thống nhất: — Tập họp, Phụng vụ Lời Chúa với các bài đọc, bài giảng và lời nguyện phổ quát; — Phụng vụ Thánh Thể với việc tiến dâng bánh rượu; kinh tạ ơn thánh hiến [Kinh nguyện Thánh Thể] và hiệp lễ. Phụng Vụ Lời Chúa và Phụng Vụ Thánh Thể cùng tạo thành “một hành vi phụng tự duy nhất”; thật vậy, bàn tiệc được dọn ra cho chúng ta trong Thánh Lễ vừa là bàn tiệc Lời Thiên Chúa, vừa là bàn tiệc Mình Chúa.”
The liturgy of the Eucharist unfolds according to a fundamental structure which has been preserved throughout the centuries down to our own day. It displays two great parts that form a fundamental unity: - the gathering, the liturgy of the Word, with readings, homily and general intercessions; - the liturgy of the Eucharist, with the presentation of the bread and wine, the consecratory thanksgiving, and communion. The liturgy of the Word and liturgy of the Eucharist together form "one single act of worship"; The Eucharistic table set for us is the table both of the Word of God and of the Body of the Lord.
Đó không phải là diễn tiến bữa tiệc Vượt Qua của Chúa Giêsu phục sinh với các môn đệ Người sao? Khi đi đường, Người giải thích Kinh Thánh cho họ, rồi khi vào bàn ăn với họ, “Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ” (Lc 24,30).
Is this not the same movement as the Paschal meal of the risen Jesus with his disciples? Walking with them he explained the Scriptures to them; sitting with them at table "he took bread, blessed and broke it, and gave it to them."
Tất cả mọi người tập họp lại. Các Kitô hữu tập họp lại một nơi để cử hành Thánh Thể. Trong đó, chính Đức Kitô đứng đầu cộng đoàn, Người là nhân vật hoạt động chính của bí tích Thánh Thể. Người là Thượng tế của Giao Ước Mới. Chính Người chủ trì cách vô hình mọi việc cử hành Thánh Thể. Thay mặt Người, Giám mục hay linh mục (hành động trong cương vị của Đức Kitô là Đầu) chủ trì cộng đoàn, lên tiếng sau các bài đọc, đón nhận lễ vật và đọc Kinh nguyện Thánh Thể. Mọi người đều có phần chủ động của mình trong cuộc cử hành, mỗi người theo cách của mình: người thì đọc Sách Thánh, người thì mang lễ vật, người thì trao Mình Thánh Chúa và toàn dân biểu lộ sự tham dự của mình bằng lời đáp Amen.
All gather together. Christians come together in one place for the Eucharistic assembly. At its head is Christ himself, the principal agent of the Eucharist. He is high priest of the New Covenant; it is he himself who presides invisibly over every Eucharistic celebration. It is in representing him that the bishop or priest acting in the person of Christ the head (in persona Christi capitis) presides over the assembly, speaks after the readings, receives the offerings, and says the Eucharistic Prayer. All have their own active parts to play in the celebration, each in his own way: readers, those who bring up the offerings, those who give communion, and the whole people whose "Amen" manifests their participation.
Phụng vụ Lời Chúa gồm “các tác phẩm của các Tiên tri”, nghĩa là Cựu Ước, và “ký sự của các Tông Đồ”, nghĩa là các thánh thư và các sách Tin Mừng; sau đó là bài giảng để khuyến khích việc đón nhận các lời này xét như đó thật sự là Lời Chúa, và đem ra thực hành, tiếp đến là lời chuyển cầu cho mọi người, theo lời thánh Tông Đồ dạy: “Trước hết, tôi khuyên ai nấy dâng lời cầu xin, khẩn nguyện, nài van, tạ ơn cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền” (1 Tm 2,1-2).
The Liturgy of the Word includes "the writings of the prophets," that is, the Old Testament, and "the memoirs of the apostles" (their letters and the Gospels). After the homily, which is an exhortation to accept this Word as what it truly is, the Word of God, and to put it into practice, come the intercessions for all men, according to the Apostle's words: "I urge that supplications, prayers, intercessions, and thanksgivings be made for all men, for kings, and all who are in high positions."
Dâng lễ vật (offertorium). Người ta mang, hay đôi khi rước cách long trọng, bánh và rượu lên bàn thờ. Bánh rượu này sẽ được chủ tế, nhân danh Đức Kitô, dâng lên trong Hy tế Thánh Thể, để trở thành Mình Máu Đức Kitô. Đây chính là cử chỉ của Đức Kitô, trong bữa Tiệc Ly, “cầm lấy bánh và chén rượu.” “Chỉ có Hội Thánh mới dâng lên Đấng Tạo hóa lễ vật tinh tuyền này, khi dâng lên Ngài cùng với lời tạ ơn, lễ vật từ các thụ tạo của Ngài.” Việc dâng lễ vật trên bàn thờ lặp lại cử chỉ của Menkixêđê và phó dâng các tặng phẩm của Đấng Tạo hóa vào tay Đức Kitô. Trong hy tế của Người, chính Đức Kitô kiện toàn mọi cố gắng dâng hy tế của con người.
The presentation of the offerings (the Offertory). Then, sometimes in procession, the bread and wine are brought to the altar; they will be offered by the priest in the name of Christ in the Eucharistic sacrifice in which they will become his body and blood. It is the very action of Christ at the Last Supper - "taking the bread and a cup." "The Church alone offers this pure oblation to the Creator, when she offers what comes forth from his creation with thanksgiving." The presentation of the offerings at the altar takes up the gesture of Melchizedek and commits the Creator's gifts into the hands of Christ who, in his sacrifice, brings to perfection all human attempts to offer sacrifices.
Từ thuở ban đầu, khi mang bánh và rượu đến cử hành thánh lễ, các Kitô hữu cũng mang theo tặng phẩm của mình để chia sẻ với những người túng thiếu. Tục lệ quyên góp này, nay vẫn còn, được gợi hứng từ gương mẫu của Đức Kitô, Đấng trở nên nghèo để làm cho chúng ta nên giàu có: “Những ai sung túc mà muốn thì cho tùy ý mình, và những gì quyên góp được, sẽ được trao cho vị chủ sự, và ngài sẽ giúp đỡ cho các cô nhi quả phụ, những người vì bệnh tật hay vì một lý do nào khác phải thiếu thốn, các tù nhân, các di dân, tắt một lời, ngài cứu giúp cho tất cả những ai đang túng thiếu.”
From the very beginning Christians have brought, along with the bread and wine for the Eucharist, gifts to share with those in need. This custom of the collection, ever appropriate, is inspired by the example of Christ who became poor to make us rich:
Kinh nguyện Thánh Thể. Với kinh nguyện Thánh Thể, lời kinh tạ ơn và thánh hiến, chúng ta bước vào trung tâm và tột đỉnh của cuộc cử hành: Trong Kinh Tiền Tụng, Hội Thánh dâng lời tạ ơn Chúa Cha, nhờ Đức Kitô, trong Chúa Thánh Thần, về tất cả các công trình của Ngài, các công trình tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa. Lúc đó toàn thể cộng đoàn kết hợp với lời ca vô tận của Hội Thánh trên trời, các Thiên thần và toàn thể các Thánh, tán tụng Thiên Chúa ba lần thánh.
The anaphora: with the Eucharistic Prayer - the prayer of thanksgiving and consecration - we come to the heart and summit of the celebration:
Trong Kinh Epiclesis, Hội Thánh khẩn cầu Chúa Cha sai Thần Khí của Ngài (hay quyền năng chúc lành của Ngài ) xuống trên bánh rượu để nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, bánh rượu trở nên Mình Máu Chúa Giêsu Kitô, và để những ai tham dự bí tích Thánh Thể được trở thành một thân thể và một tinh thần duy nhất (một số truyền thống phụng vụ đặt lời kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần sau Kinh Tưởng Niệm). Trong phần tường thuật việc Chúa thiết lập bí tích Thánh Thể, sức mạnh của lời nói và hành động của Đức Kitô, và quyền năng của Chúa Thánh Thần, làm cho Mình và Máu Đức Kitô, là hy tế Người đã dâng trên thập giá một lần cho mãi mãi, hiện diện cách bí tích dưới hình bánh hình rượu.
In the epiclesis, the Church asks the Father to send his Holy Spirit (or the power of his blessing) on the bread and wine, so that by his power they may become the body and blood of Jesus Christ and so that those who take part in the Eucharist may be one body and one spirit (some liturgical traditions put the epiclesis after the anamnesis). In the institution narrative, the power of the words and the action of Christ, and the power of the Holy Spirit, make sacramentally present under the species of bread and wine Christ's body and blood, his sacrifice offered on the cross once for all.
Trong Kinh Tưởng Niệm tiếp theo sau đó, Hội Thánh kính nhớ cuộc khổ nạn, sự phục sinh và sự quang lâm vinh hiển của Đức Kitô Giêsu; Hội Thánh trình lên Chúa Cha hy tế là Con của Ngài, Đấng giao hòa chúng ta với Ngài. Trong các lời chuyển cầu, Hội Thánh cho thấy bí tích Thánh Thể được cử hành trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh trên trời dưới thế, với kẻ sống và người chết, và trong sự hiệp thông với các vị mục tử của Hội Thánh, Đức Giáo Hoàng, Đức Giám mục giáo phận, hàng linh mục và phó tế của ngài và tất cả các Giám mục toàn cầu cùng với các Giáo Hội của các ngài.
In the anamnesis that follows, the Church calls to mind the Passion, resurrection, and glorious return of Christ Jesus; she presents to the Father the offering of his Son which reconciles us with him. In the intercessions, the Church indicates that the Eucharist is celebrated in communion with the whole Church in heaven and on earth, the living and the dead, and in communion with the pastors of the Church, the Pope, the diocesan bishop, his presbyterium and his deacons, and all the bishops of the whole world together with their Churches.
Trong phần Hiệp lễ, trước đó có kinh Lạy Cha và nghi thức bẻ bánh, các tín hữu lãnh nhận “bánh bởi trời” và “chén cứu độ”, là Mình và Máu Thánh Đức Kitô, Đấng tự hiến “để cho thế gian được sống” (Ga 6,51): “Bởi vì bánh này và rượu này, theo cách nói xưa là ‘đã được thánh thể hoá’ (‘eucharistizata’), nên chúng tôi gọi lương thực này là Thánh Thể, không ai được chia sẻ lương thực này, ngoài kẻ tin rằng giáo lý của chúng tôi là chân thật, và đã được Rửa Tội để được tha thứ tội lỗi và được tái sinh, và sống như Đức Kitô đã dạy.”
In the communion, preceded by the Lord's prayer and the breaking of the bread, the faithful receive "the bread of heaven" and "the cup of salvation," the body and blood of Christ who offered himself "for the life of the world":
Nếu ngay từ ban đầu, các Kitô hữu đã cử hành thánh lễ với một hình thức về căn bản không thay đổi, dù trải qua nhiều khác biệt lớn về thời đại và các nền phụng vụ, thì chính là bởi vì chúng ta biết mình bị ràng buộc bởi mệnh lệnh Chúa đã ban, hôm trước ngày Người chịu khổ hình: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11,24-25).
If from the beginning Christians have celebrated the Eucharist and in a form whose substance has not changed despite the great diversity of times and liturgies, it is because we know ourselves to be bound by the command the Lord gave on the eve of his Passion: "Do this in remembrance of me."
Chúng ta chu toàn mệnh lệnh này của Chúa, khi chúng ta cử hành việc tưởng niệm hy tế của Người. Khi làm điều này, chúng ta dâng lên Chúa Cha những gì mà chính Ngài đã ban cho chúng ta: các tặng phẩm từ cuộc tạo dựng của Ngài, là bánh và rượu, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần và các lời của Đức Kitô, trở nên Mình và Máu Đức Kitô: như thế, Đức Kitô hiện diện một cách thật sự và mầu nhiệm.
We carry out this command of the Lord by celebrating the memorial of his sacrifice. In so doing, we offer to the Father what he has himself given us: the gifts of his creation, bread and wine which, by the power of the Holy Spirit and by the words of Christ, have become the body and blood of Christ. Christ is thus really and mysteriously made present.
Vì vậy, chúng ta phải khảo sát bí tích Thánh Thể với tính cách là: — việc tạ ơn và ca ngợi Chúa Cha; — việc tưởng niệm hy tế của Đức Kitô và của thân thể Người; — sự hiện diện của Đức Kitô, nhờ quyền năng của Lời Người và quyền năng của Thần Khí Người.
We must therefore consider the Eucharist as: - thanksgiving and praise to the Father; - the sacrificial memorial of Christ and his Body; - the presence of Christ by the power of his word and of his Spirit.
Thánh Thể, là bí tích của ơn cứu độ được Đức Kitô thực hiện trên thập giá, cũng là hy tế ca ngợi để tạ ơn vì công trình tạo dựng. Trong hy tế Thánh Thể, toàn bộ công trình tạo dựng được Thiên Chúa yêu thương được trình lên Chúa Cha qua cái Chết và sự Sống lại của Đức Kitô. Nhờ Đức Kitô, Hội Thánh có thể dâng hy tế ca ngợi để tạ ơn vì tất cả những gì là tốt, là đẹp, là đúng mà Thiên Chúa đã thực hiện trong công trình tạo dựng và trong nhân loại.
The Eucharist, the sacrament of our salvation accomplished by Christ on the cross, is also a sacrifice of praise in thanksgiving for the work of creation. In the Eucharistic sacrifice the whole of creation loved by God is presented to the Father through the death and the Resurrection of Christ. Through Christ the Church can offer the sacrifice of praise in thanksgiving for all that God has made good, beautiful, and just in creation and in humanity.
Bí tích Thánh Thể là hy tế để tạ ơn Chúa Cha, là lời chúc tụng qua đó Hội Thánh diễn tả lòng tri ân của mình đối với Thiên Chúa vì mọi điều Ngài ban, vì mọi điều Ngài đã thực hiện trong công trình tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa. Bí tích Thánh Thể trước hết có nghĩa là tạ ơn.
The Eucharist is a sacrifice of thanksgiving to the Father, a blessing by which the Church expresses her gratitude to God for all his benefits, for all that he has accomplished through creation, redemption, and sanctification. Eucharist means first of all "thanksgiving."
Bí tích Thánh Thể cũng là hy tế ca ngợi, qua đó Hội Thánh nhân danh toàn thể thụ tạo ca tụng vinh quang Thiên Chúa. Hy tế ca ngợi này chỉ có thể được thực hiện nhờ Đức Kitô: Người kết hợp các tín hữu vào bản thân Người, vào lời ca ngợi của Người, vào sự chuyển cầu của Người, và như vậy, hy tế ca ngợi được dâng lên Chúa Cha nhờ Đức Kitô, với Người, để được chấp nhận trong Người.
The Eucharist is also the sacrifice of praise by which the Church sings the glory of God in the name of all creation. This sacrifice of praise is possible only through Christ: he unites the faithful to his person, to his praise, and to his intercession, so that the sacrifice of praise to the Father is offered through Christ and with him, to be accepted in him.
Bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, là hiện tại hóa hy tế duy nhất của Người, và dâng hy tế duy nhất đó cách bí tích, trong phụng vụ của Hội Thánh là Thân Thể Người. Trong tất cả các Kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta đều thấy, sau các lời tường thuật về việc Chúa thiết lập Thánh Thể, một kinh nguyện được gọi là kinh Tưởng Niệm (anamnesis hoặc memoriale).
The Eucharist is the memorial of Christ's Passover, the making present and the sacramental offering of his unique sacrifice, in the liturgy of the Church which is his Body. In all the Eucharistic Prayers we find after the words of institution a prayer called the anamnesis or memorial.
Theo ý nghĩa của Thánh Kinh, tưởng niệm không chỉ là nhớ lại những biến cố của quá khứ, nhưng còn là công bố các kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện cho loài người. Khi cử hành phụng vụ về các biến cố này, chúng hiện diện và được hiện tại hóa một cách nào đó. Dân Ítraen hiểu về việc mình được giải thoát khỏi Ai Cập theo cách như vậy: Mỗi lần lễ Vượt Qua được cử hành, các biến cố thời Xuất Hành lại hiện diện trong ký ức của các tín hữu, để họ điều chỉnh cuộc sống của mình cho phù hợp với các biến cố đó.
In the sense of Sacred Scripture the memorial is not merely the recollection of past events but the proclamation of the mighty works wrought by God for men. In the liturgical celebration of these events, they become in a certain way present and real. This is how Israel understands its liberation from Egypt: every time Passover is celebrated, the Exodus events are made present to the memory of believers so that they may conform their lives to them.
Việc tưởng niệm trong Giao Ước mới mang một ý nghĩa mới. Khi cử hành bí tích Thánh Thể, Hội Thánh tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, thì cuộc Vượt Qua này trở nên hiện tại: Hy tế mà Đức Kitô dâng lên một lần cho mãi mãi trên thập giá, luôn luôn được hiện tại hóa. “Mỗi lần hy tế thập giá, qua đó ‘Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta’ (1 Cr 5,7), được cử hành trên bàn thờ, thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện.”
In the New Testament, the memorial takes on new meaning. When the Church celebrates the Eucharist, she commemorates Christ's Passover, and it is made present the sacrifice Christ offered once for all on the cross remains ever present. "As often as the sacrifice of the Cross by which 'Christ our Pasch has been sacrificed' is celebrated on the altar, the work of our redemption is carried out."
Bởi vì là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, nên bí tích Thánh Thể cũng là một hy tế. Tính chất hy tế của bí tích Thánh Thể được biểu lộ trong chính các lời thiết lập bí tích này: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,19-20). Trong bí tích Thánh Thể, Đức Kitô ban chính thân mình đã bị nộp vì chúng ta trên thập giá, ban chính máu mà Người đã đổ ra “cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).
Because it is the memorial of Christ's Passover, the Eucharist is also a sacrifice. the sacrificial character of the Eucharist is manifested in the very words of institution: "This is my body which is given for you" and "This cup which is poured out for you is the New Covenant in my blood." In the Eucharist Christ gives us the very body which he gave up for us on the cross, the very blood which he "poured out for many for the forgiveness of sins."
Vì vậy, bí tích Thánh Thể là một Hy tế bởi vì bí tích này làm cho Hy tế thập giá hiện diện, bởi vì bí tích này là việc tưởng niệm Hy tế đó, và bởi vì bí tích này áp dụng hiệu quả của Hy tế đó: Đức Kitô “là Thiên Chúa và Chúa chúng ta,... đã tự hiến cho Chúa Cha bằng cái chết trên bàn thờ thập giá một lần cho mãi mãi, để thực hiện ơn cứu chuộc muôn đời cho loài người. Tuy nhiên, bởi vì cái chết của Người không chấm dứt chức tư tế của Người [Hr 7,24.27], nên trong bữa Tiệc Ly, ‘trong đêm bị nộp’ [1 Cr 11,23],... Người đã để lại cho Hiền Thê yêu dấu của Người là Hội Thánh một hy tế hữu hình (như bản tính con người đòi hỏi); trong hy tế hữu hình này, hy tế đẫm máu được thực hiện một lần duy nhất trên thập giá được hiện diện, và việc tưởng niệm hy tế đẫm máu đó sẽ còn mãi cho đến ngày tận thế, và sức mạnh cứu độ của hy tế đó sẽ được áp dụng để tha thứ các tội lỗi chúng ta phạm hằng ngày.”
The Eucharist is thus a sacrifice because it re-presents (makes present) the sacrifice of the cross, because it is its memorial and because it applies its fruit:
Hy tế của Đức Kitô và hy tế Thánh Thể là một hy tế duy nhất. “Cũng cùng một hiến vật, cũng cùng một Đấng xưa đã tự hiến trên thập giá, nay cũng chính Người dâng lên qua thừa tác vụ tư tế, chỉ khác biệt về cách tiến dâng”: “Vì trong hy tế thần linh được thực hiện trong thánh lễ, cũng chính Đức Kitô Đấng đã tự hiến một lần bằng cách đổ máu trên bàn thờ thập giá, nay được hiến dâng và sát tế một cách không đổ máu, nên hy tế này thật sự có giá trị đền tội.”
The sacrifice of Christ and the sacrifice of the Eucharist are one single sacrifice: "The victim is one and the same: the same now offers through the ministry of priests, who then offered himself on the cross; only the manner of offering is different." "In this divine sacrifice which is celebrated in the Mass, the same Christ who offered himself once in a bloody manner on the altar of the cross is contained and is offered in an unbloody manner."
Bí tích Thánh Thể cũng là hy tế của Hội Thánh. Hội Thánh, là Thân Thể của Đức Kitô, tham dự vào lễ tế của Đấng là Đầu của mình. Cùng với Người, toàn thể Hội Thánh được dâng lên. Hội Thánh kết hợp mình với việc chuyển cầu của Người bên Chúa Cha, để cầu cho tất cả mọi người. Trong bí tích Thánh Thể, hy tế của Đức Kitô cũng trở thành hy tế của các chi thể trong Thân Thể Người. Đời sống của các tín hữu, lời ca ngợi, sự đau khổ, lời cầu nguyện, việc lao động của họ, được kết hợp với cùng những khía cạnh đó trong đời sống của Đức Kitô và với toàn bộ lễ tế của Người, và như vậy, chúng có một giá trị mới. Hy tế của Đức Kitô hiện diện trên bàn thờ đem lại cho mọi thế hệ Kitô hữu khả năng được kết hợp với lễ tế của Người. Trong các hang toại đạo, Hội Thánh thường được diễn tả như một người nữ đang cầu nguyện, hai tay giang ra trong cử chỉ cầu nguyện. Như Đức Kitô giang tay trên thập giá, thì nhờ Người, với Người và trong Người, Hội Thánh dâng chính mình và chuyển cầu cho tất cả mọi người.
The Eucharist is also the sacrifice of the Church. the Church which is the Body of Christ participates in the offering of her Head. With him, she herself is offered whole and entire. She unites herself to his intercession with the Father for all men. In the Eucharist the sacrifice of Christ becomes also the sacrifice of the members of his Body. the lives of the faithful, their praise, sufferings, prayer, and work, are united with those of Christ and with his total offering, and so acquire a new value. Christ's sacrifice present on the altar makes it possible for all generations of Christians to be united with his offering.
Toàn thể Hội Thánh được kết hợp với lễ tế và lời chuyển cầu của Đức Kitô. Đảm nhận thừa tác vụ của thánh Phêrô trong Hội Thánh, Đức Giáo Hoàng được liên kết với mọi cử hành Thánh lễ, trong đó, ngài được nhắc đến với tư cách là dấu chỉ và thừa tác viên của sự hợp nhất của Hội Thánh toàn cầu. Giám mục địa phương luôn có trách nhiệm về Thánh lễ, cả khi một linh mục cử hành; tên ngài được đọc lên trong Thánh lễ để nói lên rằng ngài đứng đầu Giáo Hội địa phương, giữa hàng linh mục và với sự trợ giúp của các phó tế. Cộng đoàn cũng chuyển cầu cho tất cả các thừa tác viên đang dâng lễ cho cộng đoàn và cùng với cộng đoàn: “Bí tích Thánh Thể chỉ được coi là thành sự khi được cử hành dưới sự chủ tọa của Giám mục hay của người được ngài giao trách nhiệm.” “Qua thừa tác vụ của các linh mục, hy tế thiêng liêng của các tín hữu được hoàn tất trong sự kết hợp với hy tế của Đức Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất, hy tế này nhờ tay các linh mục, nhân danh toàn thể Hội Thánh, được dâng lên trong thánh lễ một cách bí tích và không đổ máu, cho tới khi Chúa đến.”
The whole Church is united with the offering and intercession of Christ. Since he has the ministry of Peter in the Church, the Pope is associated with every celebration of the Eucharist, wherein he is named as the sign and servant of the unity of the universal Church. the bishop of the place is always responsible for the Eucharist, even when a priest presides; the bishop's name is mentioned to signify his presidency over the particular Church, in the midst of his presbyterium and with the assistance of deacons. the community intercedes also for all ministers who, for it and with it, offer the Eucharistic sacrifice:
Không những các chi thể của Đức Kitô còn ở trần gian, mà cả những vị đang hưởng vinh quang trên trời cũng được kết hợp với lễ tế của Đức Kitô: Hội Thánh dâng hy tế Thánh Thể trong sự hiệp thông với Đức Trinh Nữ Maria rất thánh, và nhớ đến ngài cũng như đến tất cả các Thánh nam nữ. Trong Thánh lễ, Hội Thánh một cách nào đó đứng dưới Thánh Giá, cùng với Mẹ Maria, kết hợp với lễ tế và lời chuyển cầu của Đức Kitô.
To the offering of Christ are united not only the members still here on earth, but also those already in the glory of heaven. In communion with and commemorating the Blessed Virgin Mary and all the saints, the Church offers the Eucharistic sacrifice. In the Eucharist the Church is as it were at the foot of the cross with Mary, united with the offering and intercession of Christ.
Hy tế Thánh Thể cũng được dâng lên để cầu cho các tín hữu đã qua đời, “cho những người đã chết trong Đức Kitô mà chưa được thanh luyện trọn vẹn”, để họ được vào hưởng ánh sáng và bình an của Đức Kitô: “Các con hãy chôn xác này ở bất cứ nơi đâu: đừng lo lắng gì về chuyện đó; mẹ chỉ xin các con điều này, là bất cứ các con ở đâu, các con hãy nhớ tới mẹ nơi bàn thờ của Chúa.” “Sau đó [trong Kinh nguyện Thánh Thể] chúng ta cầu cho các Giáo hoàng và các Giám mục đã an nghỉ, và cách chung, cho các tín hữu đã qua đời giữa chúng ta, vì chúng ta tin rằng các linh hồn sẽ được trợ giúp tối đa nhờ lời cầu nguyện cho họ, khi Của Lễ hiến tế thánh và đáng kính sợ đang hiện diện... Khi dâng lên Thiên Chúa những lời chuyển cầu của chúng ta cho những người đã an giấc, dù họ là những tội nhân, chúng ta dâng chính Đức Kitô bị sát tế vì tội lỗi chúng ta, để xin ơn giao hòa với Thiên Chúa, Bạn của loài người, cho họ và cho chúng ta.”
The Eucharistic sacrifice is also offered for the faithful departed who "have died in Christ but are not yet wholly purified," so that they may be able to enter into the light and peace of Christ:
Thánh Augustinô tóm tắt một cách tuyệt vời giáo lý này, một giáo lý thúc giục chúng ta tham dự ngày càng trọn vẹn hơn vào hy tế của Đấng Cứu Chuộc chúng ta mà chúng ta cử hành trong Thánh lễ: “Chính toàn thể đô thành đã được cứu chuộc, tức là cộng đoàn và tập thể các Thánh, là một hy tế phổ quát được dâng lên Thiên Chúa nhờ vị Thượng Tế, Đấng trong hình dạng một kẻ nô lệ, đã tự hiến mình chịu khổ nạn vì chúng ta, để chúng ta trở thành Thân thể của Đấng là Đầu cao cả dường ấy... Đây là hy tế của các Kitô hữu: ‘Chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô’ (Rm 12,5). Hy tế này được Hội Thánh tiếp tục cử hành qua bí tích bàn thờ mà các tín hữu đã biết, trong đó Hội Thánh hiến dâng chính mình trong Hy tế mà Hội Thánh tiến dâng.”
St. Augustine admirably summed up this doctrine that moves us to an ever more complete participation in our Redeemer's sacrifice which we celebrate in the Eucharist:
“Đức Kitô Giêsu, Đấng đã chết, hơn nữa đã sống lại, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta” (Rm 8,34) đang hiện diện trong Hội Thánh Người dưới nhiều hình thức: trong Lời của Người, trong kinh nguyện của Hội Thánh Người, “ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20), trong những người nghèo khổ, những bệnh nhân, những người bị cầm tù, trong các bí tích mà chính Người là tác giả, trong Hy tế Thánh lễ và trong con người thừa tác viên. Nhưng “nhất là Người hiện diện dưới các hình dạng Thánh Thể” .
"Christ Jesus, who died, yes, who was raised from the dead, who is at the right hand of God, who indeed intercedes for us," is present in many ways to his Church: in his word, in his Church's prayer, "where two or three are gathered in my name," in the poor, the sick, and the imprisoned, in the sacraments of which he is the author, in the sacrifice of the Mass, and in the person of the minister. But "he is present . . . most especially in the Eucharistic species."
Cách thức hiện diện của Đức Kitô dưới các hình dạng Thánh Thể là độc nhất vô nhị. Người nâng bí tích Thánh Thể vượt lên trên các bí tích khác và vì vậy, bí tích này là “như sự trọn hảo của đời sống thiêng liêng và cùng đích của mọi bí tích.” Trong bí tích Thánh Thể cực thánh, Mình và Máu cùng với linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và như vậy, là Đức Kitô toàn thể (totus Christus), hiện diện một cách đích thực, thật sự, và theo bản thể . “Sự hiện diện này được gọi là ‘thật sự’, không theo nghĩa loại trừ, nghĩa là không coi các hình thức hiện diện khác như không ‘thật sự’, nhưng theo nghĩa đặc biệt, bởi vì đây là cách hiện diện theo bản thể, và qua đó Đức Kitô toàn thể và trọn vẹn (totus atque integer Christus), vừa là Thiên Chúa vừa là con người, hiện diện một cách chắc chắn.”
The mode of Christ's presence under the Eucharistic species is unique. It raises the Eucharist above all the sacraments as "the perfection of the spiritual life and the end to which all the sacraments tend." In the most blessed sacrament of the Eucharist "the body and blood, together with the soul and divinity, of our Lord Jesus Christ and, therefore, the whole Christ is truly, really, and substantially contained." "This presence is called 'real' - by which is not intended to exclude the other types of presence as if they could not be 'real' too, but because it is presence in the fullest sense: that is to say, it is a substantial presence by which Christ, God and man, makes himself wholly and entirely present."
Trong bí tích này, Đức Kitô hiện diện nhờ sự biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Đức Kitô. Các Giáo phụ mạnh mẽ khẳng định đức tin của Hội Thánh vào hiệu lực của lời Đức Kitô và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần trong việc thực hiện sự biến đổi này. Thánh Gioan Kim Khẩu tuyên bố: “Không phải người ta, nhưng chính Đức Kitô, Đấng đã chịu đóng đinh vì chúng ta, làm cho các lễ vật trở thành Mình và Máu Đức Kitô. Vị tư tế, hình ảnh của Đức Kitô, đọc các lời này, nhưng hiệu quả và ân sủng là do Thiên Chúa. Ngài đọc ‘Này là Mình Thầy’. Lời này biến đổi các lễ vật.” Và thánh Ambrôsiô nói về sự biến đổi như sau: Chúng ta hãy tin chắc rằng: “Đây không phải là vấn đề bản chất đã tạo ra, nhưng là điều lời chúc lành đã thánh hiến. Sức mạnh của lời chúc lành vượt trên sức mạnh của bản chất, vì nhờ lời chúc lành mà chính bản chất đã biến đổi.” “Lời Đức Kitô có khả năng làm ra, từ hư không, cái trước đó chưa từng hiện hữu, chẳng lẽ lời đó lại không thể biến đổi những sự vật đang hiện hữu thành những sự vật trước đó chưa có hay sao? Việc ban bản chất đầu tiên cho sự vật cũng tương đương như biến đổi bản chất của chúng.”
It is by the conversion of the bread and wine into Christ's body and blood that Christ becomes present in this sacrament. the Church Fathers strongly affirmed the faith of the Church in the efficacy of the Word of Christ and of the action of the Holy Spirit to bring about this conversion. Thus St. John Chrysostom declares:
Công đồng Triđentinô đã tóm tắt đức tin công giáo bằng lời tuyên bố: “Vì Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc chúng ta, đã phán dạy: Điều Người dâng lên dưới hình bánh, đích thực là Thân Mình Người, nên Hội Thánh luôn luôn xác tín như vậy, và thánh Công đồng này một lần nữa tuyên bố: Nhờ lời thánh hiến bánh và rượu đã diễn ra sự biến đổi trọn vẹn bản thể bánh thành bản thể Mình Thánh Đức Kitô, Chúa chúng ta, và biến đổi trọn vẹn bản thể rượu thành bản thể Máu Thánh Người; Hội Thánh công giáo gọi việc biến đổi này một cách thích hợp và chính xác là sự biến đổi bản thể (transsubstantiatio).
The Council of Trent summarizes the Catholic faith by declaring: "Because Christ our Redeemer said that it was truly his body that he was offering under the species of bread, it has always been the conviction of the Church of God, and this holy Council now declares again, that by the consecration of the bread and wine there takes place a change of the whole substance of the bread into the substance of the body of Christ our Lord and of the whole substance of the wine into the substance of his blood. This change the holy Catholic Church has fittingly and properly called transubstantiation."
Sự hiện diện Thánh Thể của Đức Kitô bắt đầu từ lúc thánh hiến [a momento consecrationis, quen gọi là lúc truyền phép] và kéo dài bao lâu các hình dạng Thánh Thể còn tồn tại. Đức Kitô hiện diện trọn vẹn trong mỗi hình bánh và rượu, và trong mỗi phần nhỏ của hình bánh và rượu, như vậy việc bẻ bánh không phân chia Đức Kitô.
The Eucharistic presence of Christ begins at the moment of the consecration and endures as long as the Eucharistic species subsist. Christ is present whole and entire in each of the species and whole and entire in each of their parts, in such a way that the breaking of the bread does not divide Christ.
Việc tôn thờ Thánh Thể. Trong phụng vụ Thánh lễ, chúng ta bày tỏ đức tin vào sự hiện diện thật sự của Đức Kitô trong các hình bánh và rượu bằng nhiều cách, như bái gối hay cúi mình sâu để tỏ dấu tôn thờ Chúa. “Hội Thánh Công Giáo đã và vẫn luôn tôn thờ Thánh Thể, không chỉ trong mà còn ngoài Thánh lễ nữa, bằng cách bảo quản hết sức cẩn thận Bánh đã được thánh hiến (consecratas Hostias), đặt lên cho các tín hữu tôn thờ cách long trọng, và rước kiệu Thánh Thể với đông đảo dân chúng vui mừng tham dự.”
Worship of the Eucharist. In the liturgy of the Mass we express our faith in the real presence of Christ under the species of bread and wine by, among other ways, genuflecting or bowing deeply as a sign of adoration of the Lord. "The Catholic Church has always offered and still offers to the sacrament of the Eucharist the cult of adoration, not only during Mass, but also outside of it, reserving the consecrated hosts with the utmost care, exposing them to the solemn veneration of the faithful, and carrying them in procession."
Nhà Tạm, trước hết được dùng để lưu giữ Thánh Thể cách xứng đáng để có thể mang đến cho các bệnh nhân và những người vắng mặt rước lễ ngoài thánh lễ. Nhờ đào sâu đức tin vào sự hiện diện thật sự của Đức Kitô trong bí tích Thánh Thể, Hội Thánh ý thức về ý nghĩa của việc thinh lặng tôn thờ Đức Kitô hiện diện trong các hình dạng Thánh Thể. Vì vậy, Nhà Tạm phải đặt nơi đặc biệt xứng đáng trong nhà thờ, và phải được thiết kế như thế nào để nêu cao và bày tỏ chân lý về sự hiện diện thật sự của Đức Kitô trong Bí tích Cực thánh này.
The tabernacle was first intended for the reservation of the Eucharist in a worthy place so that it could be brought to the sick and those absent outside of Mass. As faith in the real presence of Christ in his Eucharist deepened, the Church became conscious of the meaning of silent adoration of the Lord present under the Eucharistic species. It is for this reason that the tabernacle should be located in an especially worthy place in the church and should be constructed in such a way that it emphasizes and manifests the truth of the real presence of Christ in the Blessed Sacrament.
Thật rất thích hợp, việc Đức Kitô đã muốn hiện diện với Hội Thánh của Người theo cách thức độc nhất vô nhị này. Bởi vì Đức Kitô dưới hình dạng hữu hình, đã rời bỏ những kẻ thuộc về Người, nên Người muốn ban cho chúng ta sự hiện diện cách bí tích của Người; bởi vì Người đã tự hiến trên thập giá để cứu độ chúng ta, nên Người muốn chúng ta tưởng niệm tình yêu mà Người đã yêu thương ta “đến cùng” (Ga 13,1), đến độ ban cả mạng sống mình. Thật vậy, trong sự hiện diện bí tích của Người, Người vẫn ở giữa chúng ta cách mầu nhiệm với tư cách là Đấng đã yêu mến và nộp mình vì chúng ta, và Người hiện diện dưới những dấu chỉ diễn tả và truyền thông tình yêu này: “Quả thật, Hội Thánh và trần gian rất cần sự tôn thờ bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu đang chờ đợi chúng ta trong bí tích tình yêu này. Đừng từ chối thời gian đến gặp Người để tôn thờ, để chiêm ngắm tràn đầy đức tin và sẵn sàng đền tạ những tội lỗi và tội ác nặng nề của trần gian. Chúng ta hãy không ngừng tôn thờ Thánh Thể.”
It is highly fitting that Christ should have wanted to remain present to his Church in this unique way. Since Christ was about to take his departure from his own in his visible form, he wanted to give us his sacramental presence; since he was about to offer himself on the cross to save us, he wanted us to have the memorial of the love with which he loved us "to the end," even to the giving of his life. In his Eucharistic presence he remains mysteriously in our midst as the one who loved us and gave himself up for us, and he remains under signs that express and communicate this love:
Thánh Tôma đã nói: “Không thể nhận biết bằng giác quan Mình thật và Máu thật của Đức Kitô hiện diện trong bí tích này, nhưng chỉ bằng đức tin, một đức tin dựa vào thẩm quyền của Thiên Chúa. Vì thế, khi chú giải câu Luca 22,19: ‘Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con’, thánh Cyrillô đã nói: ‘Bạn đừng hồ nghi điều này có thật hay không, nhưng tốt hơn nên đón nhận bằng đức tin các lời của Đấng Cứu Độ, bởi vì Người là chân lý, Người không lừa dối bao giờ’”: “Con sốt sắng thờ lạy Chúa, ôi Thần tính ẩn mình đang thật sự hiện diện dưới các hình dạng này; trọn vẹn tâm hồn con suy phục Chúa, bởi vì khi chiêm ngắm Chúa, trọn hồn con biến tan. Thị giác, vị giác và xúc giác không chạm được đến Chúa, nhưng chỉ tin vững điều đã được nghe dạy; con tin tất cả những gì Con Thiên Chúa đã nói, không gì thật hơn lời chân lý này.”
"That in this sacrament are the true Body of Christ and his true Blood is something that 'cannot be apprehended by the senses,' says St. Thomas, 'but only by faith, which relies on divine authority.' For this reason, in a commentary on Luke 22:19 ('This is my body which is given for you.'), St. Cyril says: 'Do not doubt whether this is true, but rather receive the words of the Savior in faith, for since he is the truth, he cannot lie.'"
Thánh lễ, một cách không thể tách biệt, vừa là việc tưởng niệm Hy tế thập giá muôn đời tồn tại, vừa là bàn tiệc thánh thiêng để hiệp thông với Mình và Máu Chúa. Nhưng việc cử hành hy tế Thánh Thể hoàn toàn hướng đến sự kết hợp mật thiết của các tín hữu với Đức Kitô qua việc rước lễ. Rước lễ là lãnh nhận chính Đức Kitô, Đấng đã tự hiến vì chúng ta.
The Mass is at the same time, and inseparably, the sacrificial memorial in which the sacrifice of the cross is perpetuated and the sacred banquet of communion with the Lord's body and blood. But the celebration of the Eucharistic sacrifice is wholly directed toward the intimate union of the faithful with Christ through communion. To receive communion is to receive Christ himself who has offered himself for us.
Bàn thờ, quanh đó Hội Thánh được quy tụ để cử hành bí tích Thánh Thể, nói lên hai phương diện của cùng một mầu nhiệm: bàn thờ hy tế và bàn tiệc của Chúa; hơn nữa, bàn thờ Kitô Giáo là biểu tượng của chính Đức Kitô đang hiện diện giữa cộng đoàn các tín hữu, vừa như lễ vật được dâng lên để chúng ta được giao hòa, vừa như lương thực trên trời trao ban chính mình cho chúng ta. Thánh Ambrôsiô nói: “Bàn thờ của Đức Kitô là gì, nếu không phải là hình ảnh Thân thể của Đức Kitô?”, và trong đoạn văn khác, thánh nhân nói: “Bàn thờ tượng trưng Thân thể của Đức Kitô và Thân thể của Đức Kitô thì ở trên bàn thờ.” Phụng vụ diễn tả tính thống nhất này của hy tế và rước lễ trong nhiều lời nguyện. Giáo Hội Rôma cầu nguyện trong Kinh nguyện Thánh Thể như sau: “Lạy Chúa toàn năng, chúng con nài xin Chúa sai Sứ thần dâng lễ vật này lên bàn thờ cao sang trước tôn nhan uy linh Chúa, để hết thảy khi tham dự bàn tiệc này là rước Mình và Máu cực thánh Con Chúa, chúng con được tràn đầy ân phúc bởi trời.”
The altar, around which the Church is gathered in the celebration of the Eucharist, represents the two aspects of the same mystery: the altar of the sacrifice and the table of the Lord. This is all the more so since the Christian altar is the symbol of Christ himself, present in the midst of the assembly of his faithful, both as the victim offered for our reconciliation and as food from heaven who is giving himself to us. "For what is the altar of Christ if not the image of the Body of Christ?" asks St. Ambrose. He says elsewhere, "The altar represents the body [of Christ] and the Body of Christ is on the altar." The liturgy expresses this unity of sacrifice and communion in many prayers. Thus the Roman Church prays in its anaphora:
Chúa tha thiết mời chúng ta đón rước Người trong bí tích Thánh Thể: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6,53).
The Lord addresses an invitation to us, urging us to receive him in the sacrament of the Eucharist: "Truly, I say to you, unless you eat the flesh of the Son of man and drink his blood, you have no life in you."
Để đáp lại lời mời đó, chúng ta phải dọn mình cho giây phút cực trọng cực thánh này. Thánh Phaolô khuyên ta nên tự vấn lương tâm: “Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình” (1 Cr 11,27-29). Ai biết mình đang mắc tội trọng, thì phải lãnh nhận bí tích Hòa Giải trước khi đi lên rước lễ.
To respond to this invitation we must prepare ourselves for so great and so holy a moment. St. Paul urges us to examine our conscience: "Whoever, therefore, eats the bread or drinks the cup of the Lord in an unworthy manner will be guilty of profaning the body and blood of the Lord. Let a man examine himself, and so eat of the bread and drink of the cup. For any one who eats and drinks without discerning the body eats and drinks judgment upon himself." Anyone conscious of a grave sin must receive the sacrament of Reconciliation before coming to communion.
Trước sự cao trọng của bí tích này, tín hữu chỉ có thể lặp lại, một cách khiêm tốn và với đức tin sốt sắng, lời viên đại đội trưởng: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ lành mạnh.” Trong phụng vụ thánh của thánh Gioan Kim Khẩu, các tín hữu cầu nguyện cũng trong tinh thần ấy: “Lạy Con Thiên Chúa, hôm nay xin cho con được hiệp thông vào bàn tiệc huyền nhiệm của Chúa. Bởi vì con không tiết lộ cho các kẻ thù điều kín nhiệm của Chúa, cũng không tặng Chúa cái hôn của Giuđa. Nhưng như người trộm lành, con kêu lên cùng Chúa: Lạy Chúa, xin nhớ đến con trong Nước Chúa.”
Before so great a sacrament, the faithful can only echo humbly and with ardent faith the words of the Centurion: "Domine, non sum dignus ut intres sub tectum meum, sed tantum dic verbo, et sanabitur anima mea" ("Lord, I am not worthy that you should enter under my roof, but only say the word and my soul will be healed."). and in the Divine Liturgy of St. John Chrysostom the faithful pray in the same spirit:
Để dọn mình đón nhận bí tích này cách xứng đáng, các tín hữu phải giữ chay theo quy định của Hội Thánh. Thái độ bên ngoài (cử chỉ, cách ăn mặc) phải biểu lộ lòng tôn kính, sự trang trọng và niềm vui của giây phút được Chúa là thượng khách của chúng ta.
To prepare for worthy reception of this sacrament, the faithful should observe the fast required in their Church. Bodily demeanor (gestures, clothing) ought to convey the respect, solemnity, and joy of this moment when Christ becomes our guest.
Căn cứ vào ý nghĩa của bí tích Thánh Thể, các tín hữu, nếu hội đủ các điều kiện cần thiết, rước lễ khi tham dự Thánh lễ. “Việc tham dự Thánh lễ cách hoàn hảo hơn, được nồng nhiệt khuyến khích, đó là sau khi vị chủ tế rước lễ, các tín hữu rước Mình Chúa bởi cùng một hy tế.”
It is in keeping with the very meaning of the Eucharist that the faithful, if they have the required dispositions, receive communion each time they participate in the Mass. As the Second Vatican Council says: "That more perfect form of participation in the Mass whereby the faithful, after the priest's communion, receive the Lord's Body from the same sacrifice, is warmly recommended."
Hội Thánh buộc các tín hữu phải tham dự Thánh lễ vào các ngày Chúa nhật và các lễ buộc và rước lễ mỗi năm ít là một lần, nếu có thể được trong mùa Phục Sinh, sau khi đã chuẩn bị tâm hồn bằng bí tích Hòa Giải. Nhưng Hội Thánh tha thiết khuyến khích các tín hữu rước lễ vào các ngày Chúa Nhật và các lễ khá long trọng, hay thường xuyên hơn nữa, kể cả việc rước lễ hằng ngày.
The Church obliges the faithful "to take part in the Divine Liturgy on Sundays and feast days" and, prepared by the sacrament of Reconciliation, to receive the Eucharist at least once a year, if possible during the Easter season. But the Church strongly encourages the faithful to receive the holy Eucharist on Sundays and feast days, or more often still, even daily.
Vì Đức Kitô hiện diện cách bí tích dưới mỗi hình dạng, nên việc rước lễ dưới hình bánh mà thôi vẫn nhận được trọn vẹn hiệu quả ân sủng của bí tích Thánh Thể. Vì các lý do mục vụ, cách rước lễ này đã được quy định cách hợp pháp trong nghi lễ Latinh, như là hình thức thông thường nhất. Nhưng “dấu chỉ của việc rước lễ được đầy đủ hơn khi được trao ban dưới hai hình dạng. Vì theo cách này, dấu chỉ của bàn tiệc Thánh Thể trở nên rõ nét hơn.” Đây là cách rước lễ thông thường trong các nghi lễ Đông phương.
Since Christ is sacramentally present under each of the species, communion under the species of bread alone makes it possible to receive all the fruit of Eucharistic grace. For pastoral reasons this manner of receiving communion has been legitimately established as the most common form in the Latin rite. But "the sign of communion is more complete when given under both kinds, since in that form the sign of the Eucharistic meal appears more clearly." This is the usual form of receiving communion in the Eastern rites.
Việc rước lễ làm tăng trưởng sự hiệp thông của chúng ta với Đức Kitô. Lãnh nhận bí tích Thánh Thể khi rước lễ mang lại hiệu quả chính yếu là kết hợp thân mật với Đức Kitô Giêsu. Thật vậy, Chúa nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56). Sự sống trong Đức Kitô có nền tảng nơi bàn tiệc Thánh Thể: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57). “Trong các ngày lễ của Chúa, khi lãnh nhận Mình của Chúa Con, các tín hữu công bố cho nhau Tin Mừng: bảo chứng của sự sống đã được trao ban, cũng như xưa kia Thiên thần báo cho bà Maria Mađalêna: ‘Đức Kitô đã phục sinh!’ Giờ đây cũng vậy, sự sống và sự phục sinh cũng được trao ban cho ai lãnh nhận Đức Kitô.”
Holy Communion augments our union with Christ. the principal fruit of receiving the Eucharist in Holy Communion is an intimate union with Christ Jesus. Indeed, the Lord said: "He who eats my flesh and drinks my blood abides in me, and I in him." Life in Christ has its foundation in the Eucharistic banquet: "As the living Father sent me, and I live because of the Father, so he who eats me will live because of me."
Những gì lương thực vật chất mang lại cho sự sống thể xác, thì việc rước lễ thực hiện điều này cách kỳ diệu cho đời sống thiêng liêng của chúng ta. Việc hiệp thông với thân mình Đức Kitô phục sinh, một thân mình “nhờ Chúa Thánh Thần, đã được sống và có sức ban sự sống”, bảo toàn, phát triển và canh tân đời sống ân sủng đã nhận được trong bí tích Rửa Tội. Sự tăng trưởng như vậy của đời sống Kitô hữu cần được nuôi dưỡng bằng việc rước Thánh Thể, là Bánh cho cuộc lữ hành của chúng ta, mãi cho đến giờ chết; lúc đó Bánh sẽ được ban cho chúng ta như Của ăn đàng.
What material food produces in our bodily life, Holy Communion wonderfully achieves in our spiritual life. Communion with the flesh of the risen Christ, a flesh "given life and giving life through the Holy Spirit," preserves, increases, and renews the life of grace received at Baptism. This growth in Christian life needs the nourishment of Eucharistic Communion, the bread for our pilgrimage until the moment of death, when it will be given to us as viaticum.
Việc rước lễ ngăn cách chúng ta khỏi tội lỗi. Mình Đức Kitô chúng ta lãnh nhận khi rước lễ, là thân mình “bị nộp vì chúng ta” và Máu chúng ta uống, là máu “đổ ra cho nhiều người được tha tội.” Vì vậy, bí tích Thánh Thể không thể kết hợp chúng ta với Đức Kitô, nếu đồng thời không thanh tẩy chúng ta khỏi các tội đã phạm và gìn giữ chúng ta khỏi các tội trong tương lai: “Mỗi lần chúng ta rước lễ, chúng ta loan truyền Chúa đã chịu chết. Nếu chúng ta loan truyền cái chết của Chúa, thì cũng loan truyền ơn tha tội. Nếu mỗi lần Máu Người đổ ra, là đổ ra để tha tội, thì tôi phải luôn lãnh nhận Máu Người, để Người luôn tha tội cho tôi. Tôi là kẻ luôn phạm tội, nên tôi luôn phải có một phương dược.”
Holy Communion separates us from sin. the body of Christ we receive in Holy Communion is "given up for us," and the blood we drink "shed for the many for the forgiveness of sins." For this reason the Eucharist cannot unite us to Christ without at the same time cleansing us from past sins and preserving us from future sins:
Như lương thực vật chất dùng để phục hồi sức lực bị tiêu hao, thì bí tích Thánh Thể cũng tăng sức mạnh cho đức mến của chúng ta, vốn có xu hướng bị suy yếu trong đời sống hằng ngày; và đức mến sống động này xóa bỏ các tội nhẹ. Khi tự hiến cho chúng ta, Đức Kitô một lần nữa ban sự sống cho tình yêu của chúng ta và ban cho chúng ta khả năng phá hủy những đam mê vô trật tự của chúng ta đối với các thụ tạo và khả năng gắn bó với Người: “Vì yêu thương, Đức Kitô đã chết cho chúng ta, nên mỗi khi tưởng niệm cuộc tử nạn của Người trong Thánh lễ, chúng ta xin Người ban tình yêu cho chúng ta nhờ Chúa Thánh Thần ngự đến; chúng ta khiêm tốn khẩn nguyện rằng, nhờ tình yêu mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, và nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã lãnh nhận, chúng ta có thể coi thế gian như đã bị đóng đinh, và chúng ta bị đóng đinh cho thế gian;... khi đã lãnh nhận hồng ân tình yêu, chúng ta hãy chết cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa.”
As bodily nourishment restores lost strength, so the Eucharist strengthens our charity, which tends to be weakened in daily life; and this living charity wipes away venial sins. By giving himself to us Christ revives our love and enables us to break our disordered attachments to creatures and root ourselves in him:
Nhờ tình yêu mà bí tích Thánh Thể đã đốt lên trong chúng ta, bí tích này gìn giữ chúng ta khỏi các tội trọng trong tương lai. Chúng ta càng tham dự vào sự sống của Đức Kitô, và càng tiến thêm trong tình bằng hữu với Người, thì càng khó phạm tội trọng mà cắt đứt sự liên kết với Người. Bí tích Thánh Thể không được thiết lập để tha các tội trọng. Đó là chức năng riêng của bí tích Hòa Giải. Bí tích Thánh Thể có chức năng riêng, là bí tích của những người đang sống trong sự hiệp thông đầy đủ với Hội Thánh.
By the same charity that it enkindles in us, the Eucharist preserves us from future mortal sins. the more we share the life of Christ and progress in his friendship, the more difficult it is to break away from him by mortal sin. the Eucharist is not ordered to the forgiveness of mortal sins - that is proper to the sacrament of Reconciliation. the Eucharist is properly the sacrament of those who are in full communion with the Church.
Sự hợp nhất của Nhiệm Thể: Bí tích Thánh Thể làm nên Hội Thánh. Những ai đã lãnh nhận Thánh Thể, đều được kết hợp cách chặt chẽ hơn với Đức Kitô. Nhờ đó, Đức Kitô kết hợp mọi tín hữu thành một thân thể duy nhất là Hội Thánh. Việc tháp nhập vào Hội Thánh như vậy, vốn đã được bí tích Rửa Tội thực hiện, nay được việc rước lễ canh tân, củng cố và làm cho thâm sâu hơn. Trong bí tích Rửa Tội, chúng ta đã được kêu gọi để làm thành một thân thể duy nhất. Bí tích Thánh Thể thực hiện lời kêu gọi này: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10,16-17): “Nếu anh em là Thân Thể và là các chi thể của Đức Kitô, thì mầu nhiệm của anh em đang được đặt trên Bàn của Chúa: anh em lãnh nhận mầu nhiệm của anh em. Anh em đáp Amen (Vâng, đúng như thế) đối với điều anh em là, và anh em xác nhận bằng câu đáp đó. Anh em nghe: ‘Mình Thánh Chúa Kitô’ và anh em đáp: ‘Amen’. Vậy hãy là chi thể của Thân Thể Đức Kitô, để lời đáp Amen của anh em là chân thật.”
The unity of the Mystical Body: the Eucharist makes the Church. Those who receive the Eucharist are united more closely to Christ. Through it Christ unites them to all the faithful in one body - the Church. Communion renews, strengthens, and deepens this incorporation into the Church, already achieved by Baptism. In Baptism we have been called to form but one body. The Eucharist fulfills this call: "The cup of blessing which we bless, is it not a participation in the blood of Christ? the bread which we break, is it not a participation in the body of Christ? Because there is one bread, we who are many are one body, for we all partake of the one bread:"
Bí tích Thánh Thể đòi buộc dấn thân cho người nghèo: Để lãnh nhận trong sự thật Mình và Máu Đức Kitô bị nộp vì chúng ta, chúng ta phải nhận ra Đức Kitô trong những kẻ nghèo nhất, là các anh em của Người. “Bạn nếm Máu Thánh Chúa, vậy mà bạn lại không nhận ra người anh em;... Bạn làm hổ thẹn Bàn tiệc này, khi người được coi là xứng đáng tham dự Bàn tiệc này, lại bị bạn coi là không xứng đáng được chia phần ăn của bạn. Thiên Chúa đã giải thoát bạn khỏi mọi tội lỗi và cho bạn vào bàn tiệc, vậy mà quả thật bạn đã chẳng nhân hậu hơn chút nào.”
The Eucharist commits us to the poor. To receive in truth the Body and Blood of Christ given up for us, we must recognize Christ in the poorest, his brethren:
Bí tích Thánh Thể và sự hợp nhất các Kitô hữu. Trước sự cao cả của mầu nhiệm này, thánh Augustinô đã thốt lên: “Ôi bí tích tình yêu! Ôi dấu chỉ hợp nhất! Ôi mối dây bác ái!” Người ta càng đau lòng vì sự chia rẽ trong Hội Thánh vốn làm cho các Kitô hữu không thể tham dự chung với nhau bàn tiệc của Chúa, thì những lời nguyện dâng lên Chúa càng khẩn thiết hơn, để những ngày hợp nhất trọn vẹn, của mọi kẻ tin vào Người, được trở lại.
The Eucharist and the unity of Christians. Before the greatness of this mystery St. Augustine exclaims, "O sacrament of devotion! O sign of unity! O bond of charity!" The more painful the experience of the divisions in the Church which break the common participation in the table of the Lord, the more urgent are our prayers to the Lord that the time of complete unity among all who believe in him may return.
Các Giáo Hội Đông phương, dù không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo, vẫn cử hành bí tích Thánh Thể với một tình yêu cao cả. “Các Giáo Hội ấy, mặc dù ly khai, vẫn có các bí tích đích thực, chủ yếu là chức tư tế và bí tích Thánh Thể, nhờ sự kế nhiệm các Tông Đồ, nên vẫn liên kết rất chặt chẽ với chúng ta.” Vì vậy, “một hiệp thông nào đó trong các sự thánh, trong những trường hợp thuận lợi và với sự chấp thuận của giáo quyền, không những là có thể, mà còn được khuyến khích.”
The Eastern churches that are not in full communion with the Catholic Church celebrate the Eucharist with great love. "These Churches, although separated from us, yet possess true sacraments, above all - by apostolic succession - the priesthood and the Eucharist, whereby they are still joined to us in closest intimacy." A certain communion in sacris, and so in the Eucharist, "given suitable circumstances and the approval of Church authority, is not merely possible but is encouraged."
Các Cộng đoàn Giáo hội phát sinh từ cuộc Cải Cách, đã ly khai khỏi Hội Thánh Công Giáo, “đặc biệt là vì thiếu bí tích Truyền Chức Thánh, nên không còn giữ được bản chất đích thực và nguyên vẹn của mầu nhiệm Thánh Thể.” Vì vậy, đối với Hội Thánh Công Giáo, việc rước lễ chung với những Cộng đoàn này là không thể được. Nhưng khi các cộng đoàn này “tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa trong Tiệc Thánh, họ tuyên xưng rằng sự sống chỉ có nghĩa trong sự hiệp thông với Đức Kitô và họ mong đợi ngày trở lại vinh quang của Người.”
Ecclesial communities derived from the Reformation and separated from the Catholic Church, "have not preserved the proper reality of the Eucharistic mystery in its fullness, especially because of the absence of the sacrament of Holy Orders." It is for this reason that Eucharistic intercommunion with these communities is not possible for the Catholic Church. However these ecclesial communities, "when they commemorate the Lord's death and resurrection in the Holy Supper . . . profess that it signifies life in communion with Christ and await his coming in glory."
Khi có nhu cầu khẩn cấp, theo phán đoán của Đấng Bản Quyền địa phương, các thừa tác viên Công Giáo được phép ban các bí tích (Thánh Thể, Hòa Giải, Xức Dầu bệnh nhân) cho các Kitô hữu không hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh Công Giáo, nhưng họ phải tự ý xin lãnh nhận các bí tích đó: lúc đó, họ phải tuyên xưng đức tin công giáo về các bí tích này và có sự chuẩn bị đầy đủ.
When, in the Ordinary's judgment, a grave necessity arises, Catholic ministers may give the sacraments of Eucharist, Penance, and Anointing of the Sick to other Christians not in full communion with the Catholic Church, who ask for them of their own will, provided they give evidence of holding the Catholic faith regarding these sacraments and possess the required dispositions.
Trong một kinh nguyện cổ xưa, Hội Thánh tung hô mầu nhiệm Thánh Thể như sau: “Ôi Tiệc Thánh, trong đó Đức Kitô được rước lấy làm lương thực, việc tưởng niệm cuộc khổ nạn của Người được nhắc lại, tâm trí được tràn đầy ân sủng, và bảo chứng cho vinh quang mai sau được ban cho chúng ta.” Nếu bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa, nếu nhờ việc rước lễ tại bàn thờ mà chúng ta được “tràn đầy ân phúc bởi trời”, thì bí tích Thánh Thể cũng là sự tham dự trước vào vinh quang thiên quốc.
In an ancient prayer the Church acclaims the mystery of the Eucharist: "O sacred banquet in which Christ is received as food, the memory of his Passion is renewed, the soul is filled with grace and a pledge of the life to come is given to us." If the Eucharist is the memorial of the Passover of the Lord Jesus, if by our communion at the altar we are filled "with every heavenly blessing and grace," then the Eucharist is also an anticipation of the heavenly glory.
Trong bữa Tiệc ly, chính Chúa hướng các môn đệ Người đến sự hoàn tất lễ Vượt Qua trong Nước Thiên Chúa: “Thầy bảo cho anh em biết: từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26,29). Mỗi lần cử hành bí tích Thánh Thể, Hội Thánh nhớ lại lời hứa này và hướng trông “Đấng đang đến” (Kh 1,4). Trong kinh nguyện, Hội Thánh kêu cầu Người ngự đến: “Marana tha” (1 Cr 16,22), “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20), “Ước gì ân sủng của Ngài đến và trần gian này qua đi.”
At the Last Supper the Lord himself directed his disciples' attention toward the fulfillment of the Passover in the kingdom of God: "I tell you I shall not drink again of this fruit of the vine until that day when I drink it new with you in my Father's kingdom." Whenever the Church celebrates the Eucharist she remembers this promise and turns her gaze "to him who is to come." In her prayer she calls for his coming: "Marana tha!" "Come, Lord Jesus!" "May your grace come and this world pass away!"
Hội Thánh biết rằng giờ đây Chúa đã đến trong bí tích Thánh Thể của Người, và Người ở đó giữa chúng ta. Tuy nhiên, sự hiện diện này còn bị che phủ. Chính vì vậy, chúng ta cử hành bí tích Thánh Thể “đang khi chúng con mong đợi niềm hy vọng hồng phúc và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con”, trong khi chúng ta khẩn nguyện được “cùng nhau tận hưởng vinh quang Cha muôn đời, khi Cha lau sạch nước mắt chúng con, vì khi được thấy tường tận Cha là Thiên Chúa chúng con, thì muôn đời chúng con sẽ trở nên giống Cha và sẽ ca ngợi Cha khôn cùng.”
The Church knows that the Lord comes even now in his Eucharist and that he is there in our midst. However, his presence is veiled. Therefore we celebrate the Eucharist "awaiting the blessed hope and the coming of our Savior, Jesus Christ," asking "to share in your glory when every tear will be wiped away. On that day we shall see you, our God, as you are. We shall become like you and praise you for ever through Christ our Lord."
Về niềm hy vọng lớn lao này, niềm hy vọng về trời mới đất mới, nơi công lý lưu ngụ cách chắc chắn, chúng ta không có bảo chứng nào vững chắc hơn và dấu chỉ nào được biểu lộ rõ ràng hơn, là bí tích Thánh Thể. Thật vậy, mỗi khi mầu nhiệm này được cử hành, thì “công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện” và “chúng ta bẻ cùng một tấm bánh, là phương dược trường sinh bất tử, và của ăn để chúng ta không chết, nhưng đem lại sự sống muôn đời trong Chúa Giêsu Kitô.”
There is no surer pledge or dearer sign of this great hope in the new heavens and new earth "in which righteousness dwells," than the Eucharist. Every time this mystery is celebrated, "the work of our redemption is carried on" and we "break the one bread that provides the medicine of immortality, the antidote for death, and the food that makes us live for ever in Jesus Christ."
Chúa Giêsu nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời... Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời... Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,51.54.56).
Jesus said: "I am the living bread that came down from heaven; if any one eats of this bread, he will live for ever; . . . he who eats my flesh and drinks my blood has eternal life and . . . abides in me, and I in him" (Jn 6:51, 54, 56).
Bí tích Thánh Thể là trung tâm và tột đỉnh của đời sống Hội Thánh, vì trong bí tích này, Đức Kitô liên kết Hội Thánh và tất cả các chi thể của Người vào hy tế chúc tụng và tạ ơn được dâng lên Chúa Cha trên thập giá một lần cho mãi mãi. Qua hy tế này, Người tuôn đổ các ân sủng cứu độ trên Thân Thể của Người là Hội Thánh.
The Eucharist is the heart and the summit of the Church's life, for in it Christ associates his Church and all her members with his sacrifice of praise and thanksgiving offered once for all on the cross to his Father; by this sacrifice he pours out the graces of salvation on his Body which is the Church.
Việc cử hành Thánh Lễ luôn bao gồm: việc công bố Lời Chúa; việc tạ ơn Thiên Chúa Cha vì mọi ơn lành, nhất là vì Ngài đã ban Con của Ngài cho chúng ta; việc thánh hiến bánh rượu và việc tham dự vào bàn tiệc phụng vụ nhờ lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa. Các yếu tố này kết thành một hành vi phụng tự duy nhất.
The Eucharistic celebration always includes: the proclamation of the Word of God; thanksgiving to God the Father for all his benefits, above all the gift of his Son; the consecration of bread and wine; and participation in the liturgical banquet by receiving the Lord's body and blood. These elements constitute one single act of worship.
Bí tích Thánh Thể là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Đức Kitô: nghĩa là công trình cứu độ được thực hiện qua đời sống, cái Chết và sự Phục sinh của Đức Kitô. Công trình này được hành động phụng vụ làm cho hiện diện.
The Eucharist is the memorial of Christ's Passover, that is, of the work of salvation accomplished by the life, death, and resurrection of Christ, a work made present by the liturgical action.
Đức Kitô, vị thượng tế đời đời của Giao Ước Mới, Đấng đang hoạt động nhờ thừa tác vụ của các tư tế, dâng hy tế Thánh Thể. Cũng chính Đức Kitô, Đấng thật sự hiện diện trong hình bánh rượu, là lễ vật của hy tế Thánh Thể.
It is Christ himself, the eternal high priest of the New Covenant who, acting through the ministry of the priests, offers the Eucharistic sacrifice. and it is the same Christ, really present under the species of bread and wine, who is the offering of the Eucharistic sacrifice.
Chỉ các tư tế đã được phong chức thánh thành sự mới có quyền chủ tọa thánh lễ và thánh hiến (truyền phép) để bánh và rượu trở thành Mình và Máu Thánh Chúa.
Only validly ordained priests can preside at the Eucharist and consecrate the bread and the wine so that they become the Body and Blood of the Lord.
Dấu chỉ chính yếu của bí tích Thánh Thể là bánh mì và rượu nho. Lời chúc lành của Chúa Thánh Thần được khẩn cầu xuống trên bánh và rượu này và vị tư tế đọc lời thánh hiến (truyền phép) được Chúa Giêsu nói trong bữa Tiệc ly: “Này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con... Này là Chén Máu Thầy...”
The essential signs of the Eucharistic sacrament are wheat bread and grape wine, on which the blessing of the Holy Spirit is invoked and the priest pronounces the words of consecration spoken by Jesus during the Last Supper: "This is my body which will be given up for you.... This is the cup of my blood...."
Nhờ lời thánh hiến (truyền phép), đã có sự biến đổi bản thể bánh và rượu thành Mình và Máu Thánh Chúa. Trong hình bánh rượu đã được truyền phép, chính Đức Kitô, hằng sống và vinh hiển, hiện diện cách đích thực, thật sự và theo bản thể, với trọn mình, máu, linh hồn và thần tính của Người.
By the consecration the transubstantiation of the bread and wine into the Body and Blood of Christ is brought about. Under the consecrated species of bread and wine Christ himself, living and glorious, is present in a true, real, and substantial manner: his Body and his Blood, with his soul and his divinity (cf. Council of Trent: DS 1640; 1651).
Với tính cách là một hy tế, bí tích Thánh Thể được dâng lên để đền tội cho người sống cũng như kẻ chết và để đạt được những ơn lành hồn xác từ Thiên Chúa.
As sacrifice, the Eucharist is also offered in reparation for the sins of the living and the dead and to obtain spiritual or temporal benefits from God.
Ai muốn đón nhận Đức Kitô qua việc hiệp lễ, phải ở trong tình trạng ân sủng. Ai biết mình đang mắc tội trọng, không được rước lễ nếu chưa lãnh nhận ơn tha tội trong bí tích Hòa Giải.
Anyone who desires to receive Christ in Eucharistic communion must be in the state of grace. Anyone aware of having sinned mortally must not receive communion without having received absolution in the sacrament of penance.
Việc rước Mình và Máu Thánh Đức Kitô gia tăng sự kết hợp của người rước lễ với Chúa, tha thứ cho họ các tội nhẹ và gìn giữ họ khỏi các tội trọng. Vì việc rước lễ củng cố mối liên hệ tình yêu giữa người rước lễ với Đức Kitô, nên việc lãnh nhận bí tích này cũng củng cố sự hiệp nhất của Hội Thánh là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô.
Communion with the Body and Blood of Christ increases the communicant's union with the Lord, forgives his venial sins, and preserves him from grave sins. Since receiving this sacrament strengthens the bonds of charity between the communicant and Christ, it also reinforces the unity of the Church as the Mystical Body of Christ.
Hội Thánh tha thiết khuyên tín hữu nên rước lễ mỗi khi tham dự Thánh lễ. Hội Thánh buộc tín hữu rước lễ mỗi năm ít là một lần.
The Church warmly recommends that the faithful receive Holy Communion each time they participate in the celebration of the Eucharist; she obliges them to do so at least once a year.
Vì Đức Kitô hiện diện thật sự trong bí tích bàn thờ, nên chúng ta phải tôn vinh Người bằng một phụng tự tôn thờ. “Việc viếng Thánh Thể là một bằng chứng bày tỏ lòng biết ơn, một dấu chỉ tình yêu và một bổn phận thờ lạy đối với Đức Kitô, Chúa chúng ta.”
Because Christ himself is present in the sacrament of the altar, he is to be honored with the worship of adoration. "To visit the Blessed Sacrament is . . . a proof of gratitude, an expression of love, and a duty of adoration toward Christ our Lord" (Paul VI, MF 66).
Trước khi lìa bỏ thế gian mà về cùng Cha, Đức Kitô ban cho chúng ta, trong bí tích Thánh Thể, bảo chứng vinh quang nơi Người: việc tham dự Thánh lễ uốn lòng chúng ta nên giống trái tim Chúa, nâng đỡ sức lực chúng ta trên đường lữ thứ trần gian, làm cho chúng ta khao khát cuộc sống vĩnh cửu và ngay từ bây giờ kết hợp chúng ta với Hội Thánh trên trời, với Đức Trinh Nữ diễm phúc và với tất cả các Thánh.
Having passed from this world to the Father, Christ gives us in the Eucharist the pledge of glory with him. Participation in the Holy Sacrifice identifies us with his Heart, sustains our strength along the pilgrimage of this life, makes us long for eternal life, and unites us even now to the Church in heaven, the Blessed Virgin Mary, and all the saints.