Hỏi Đáp Công Giáo
Cử Hành Mầu Nhiệm Kitô Giáo · Bảy bí tích của Hội Thánh · Các bí tích chữa lành
MỤC 4

Bí tích Thống Hối và Giao Hòa

Số 1420–1498
1420

Nhờ các bí tích khai tâm Kitô Giáo, con người lãnh nhận được sự sống mới trong Đức Kitô. Nhưng chúng ta mang sự sống này “trong những bình sành” (2 Cr 4,7). Sự sống này hiện nay còn “đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa” (Cl 3,3). Chúng ta còn sống trong ngôi nhà ở dưới đất của chúng ta, vẫn còn gánh chịu khổ đau, bệnh tật và cái chết. Sự sống mới này của con cái Thiên Chúa có thể bị suy yếu và thậm chí bị mất đi do tội lỗi.

Through the sacraments of Christian initiation, man receives the new life of Christ. Now we carry this life "in earthen vessels," and it remains "hidden with Christ in God." We are still in our "earthly tent," subject to suffering, illness, and death. This new life as a child of God can be weakened and even lost by sin.

1421

Chúa Giêsu Kitô, vị thầy thuốc chữa lành linh hồn và thân xác chúng ta, Đấng đã tha tội cho người bại liệt và ban ơn cứu độ cho cả thân xác của người ấy, đã muốn Hội Thánh Người, bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần, tiếp tục công cuộc chữa lành và cứu độ của Người, cả cho các chi thể của Người. Đó là mục đích của hai bí tích chữa lành: bí tích Thống Hối và bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân.

The Lord Jesus Christ, physician of our souls and bodies, who forgave the sins of the paralytic and restored him to bodily health, has willed that his Church continue, in the power of the Holy Spirit, his work of healing and salvation, even among her own members. This is the purpose of the two sacraments of healing: the sacrament of Penance and the sacrament of Anointing of the Sick.

1422

“Những ai đến với bí tích Thống Hối đều nhận được, do lòng khoan dung của Thiên Chúa, sự tha thứ cho việc họ đã xúc phạm đến Ngài và đồng thời, được giao hòa với Hội Thánh, vốn đã bị tội lỗi làm tổn thương, nhưng vẫn nỗ lực lấy tình yêu, gương mẫu và kinh nguyện mà làm cho họ được hối cải.”

"Those who approach the sacrament of Penance obtain pardon from God's mercy for the offense committed against him, and are, at the same time, reconciled with the Church which they have wounded by their sins and which by charity, by example, and by prayer labors for their conversion."

1423

Bí tích này được gọi là bí tích của sự hối cải: bởi vì nó thực hiện cách bí tích lời kêu gọi hối cải của Chúa Giêsu, sự trở về với Chúa Cha, Đấng mà người ta đã lìa xa khi phạm tội. Bí tích này được gọi là bí tích Thống Hối, bởi vì nó cống hiến một tiến trình hối cải, có chiều kích cá nhân và giáo hội, cho tội nhân Kitô hữu thống hối và đền tội.

It is called the sacrament of conversion because it makes sacramentally present Jesus' call to conversion, the first step in returning to the Father from whom one has strayed by sin. It is called the sacrament of Penance, since it consecrates the Christian sinner's personal and ecclesial steps of conversion, penance, and satisfaction.

1424

Bí tích này được gọi là bí tích xưng tội: bởi vì việc thú nhận, xưng thú các tội lỗi trước một tư tế là yếu tố căn bản của bí tích này. Theo một ý nghĩa thâm sâu hơn, bí tích này cũng là một việc “tuyên xưng”, nhận biết và ca ngợi sự thánh thiện của Thiên Chúa và lòng khoan dung của Ngài đối với con người là tội nhân. Bí tích này được gọi là bí tích ban ơn tha thứ, vì nhờ lời xá giải bí tích của vị tư tế, Thiên Chúa ban cho hối nhân ơn “tha thứ và bình an.” Bí tích này được gọi là bí tích Giao Hòa, vì ban cho tội nhân tình yêu của Thiên Chúa, Đấng giao hoà: “Anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa” (2 Cr 5,20). Ai sống bởi tình yêu thương xót của Thiên Chúa, sẽ sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa mời gọi: “Hãy đi làm hòa với người anh em ấy đã” (Mt 5,24).

It is called the sacrament of confession, since the disclosure or confession of sins to a priest is an essential element of this sacrament. In a profound sense it is also a "confession" - acknowledgment and praise - of the holiness of God and of his mercy toward sinful man. It is called the sacrament of forgiveness, since by the priest's sacramental absolution God grants the penitent "pardon and peace." It is called the sacrament of Reconciliation, because it imparts to the sinner the love of God who reconciles: "Be reconciled to God." He who lives by God's merciful love is ready to respond to the Lord's call: "Go; first be reconciled to your brother."

1425

“Anh em đã được tẩy rửa, được thánh hóa, được nên công chính nhờ danh Chúa Giêsu Kitô và nhờ Thần Khí của Thiên Chúa chúng ta” (1 Cr 6,11). Phải ý thức sự cao cả của hồng ân Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trong các bí tích khai tâm Kitô Giáo, thì mới hiểu được rằng tội lỗi là một điều đối nghịch lại với một người đã mặc lấy Đức Kitô. Nhưng thánh Gioan Tông Đồ đã nói: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta” (1 Ga 1,8). Chính Chúa cũng đã dạy chúng ta cầu nguyện: “Xin tha tội cho chúng con” (Lc 11,4), và Người kết hợp việc chúng ta tha thứ cho nhau những xúc phạm lẫn nhau với ơn Thiên Chúa tha thứ các tội lỗi chúng ta.

"YOU were washed, you were sanctified, you were justified in the name of the Lord Jesus Christ and in the Spirit of our God." One must appreciate the magnitude of the gift God has given us in the sacraments of Christian initiation in order to grasp the degree to which sin is excluded for him who has "put on Christ." But the apostle John also says: "If we say we have no sin, we deceive ourselves, and the truth is not in us." and the Lord himself taught us to pray: "Forgive us our trespasses," linking our forgiveness of one another's offenses to the forgiveness of our sins that God will grant us.

1426

Việc hối cải trở về với Đức Kitô, việc tái sinh trong bí tích Rửa Tội, hồng ân của Chúa Thánh Thần, Mình và Máu Đức Kitô được lãnh nhận làm lương thực, làm cho chúng ta trở nên “tinh tuyền thánh thiện trước thánh nhan Thiên Chúa” (Ep 1,4), cũng như chính Hội Thánh, là Hiền Thê của Đức Kitô, cũng “thánh thiện và tinh tuyền” trước mặt Người (Ep 5,27). Tuy nhiên, sự sống mới được lãnh nhận trong cuộc khai tâm Kitô Giáo không tiêu hủy sự mỏng giòn và yếu đuối của bản tính con người, cũng như sự hướng chiều theo tội lỗi, mà truyền thống gọi là dục vọng (concupiscentia), vốn tồn tại nơi những người đã chịu Phép Rửa, để với sự trợ lực của ân sủng của Đức Kitô, họ vượt qua được những thử thách trong cuộc chiến đấu của đời sống Kitô hữu. Đây là cuộc chiến đấu của sự hối cải nhằm đạt tới sự thánh thiện và đời sống vĩnh cửu mà Chúa không ngừng mời gọi chúng ta.

Conversion to Christ, the new birth of Baptism, the gift of the Holy Spirit and the Body and Blood of Christ received as food have made us "holy and without blemish," just as the Church herself, the Bride of Christ, is "holy and without blemish." Nevertheless the new life received in Christian initiation has not abolished the frailty and weakness of human nature, nor the inclination to sin that tradition calls concupiscence, which remains in the baptized such that with the help of the grace of Christ they may prove themselves in the struggle of Christian life. This is the struggle of conversion directed toward holiness and eternal life to which the Lord never ceases to call us.

1427

Chúa Giêsu kêu gọi hối cải. Lời kêu gọi này là một phần cốt yếu của việc loan báo Nước Thiên Chúa: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Trong việc rao giảng của Hội Thánh, lời kêu gọi này trước hết nhằm đến những người chưa biết Đức Kitô và Tin Mừng của Người. Như vậy, bí tích Rửa Tội là vị trí đầu tiên và căn bản của việc hối cải. Chính nhờ tin vào Tin Mừng và nhờ bí tích Rửa Tội mà người ta từ bỏ sự dữ và đạt được ơn cứu độ, nghĩa là được ơn tha thứ mọi tội lỗi và được hưởng hồng ân sự sống mới.

Jesus calls to conversion. This call is an essential part of the proclamation of the kingdom: "The time is fulfilled, and the kingdom of God is at hand; repent, and believe in the gospel." In the Church's preaching this call is addressed first to those who do not yet know Christ and his Gospel. Also, Baptism is the principal place for the first and fundamental conversion. It is by faith in the Gospel and by Baptism that one renounces evil and gains salvation, that is, the forgiveness of all sins and the gift of new life.

1428

Lời kêu gọi hối cải của Đức Kitô vẫn tiếp tục vang vọng trong đời sống các Kitô hữu. Cuộc hối cải thứ hai này là một nhiệm vụ liên tục của toàn thể Hội Thánh vì “mang trong lòng mình những tội nhân, vừa thánh thiện vừa luôn cần được thanh luyện, Hội Thánh phải không ngừng thống hối và canh tân.” Nỗ lực hối cải này không chỉ là công việc của con người. Việc thống hối là hành động của một “tâm hồn tan nát” được ân sủng lôi kéo và thúc đẩy, để đáp lại tình yêu thương xót của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước.

Christ's call to conversion continues to resound in the lives of Christians. This second conversion is an uninterrupted task for the whole Church who, "clasping sinners to her bosom, (is) at once holy and always in need of purification, (and) follows constantly the path of penance and renewal." This endeavor of conversion is not just a human work. It is the movement of a "contrite heart," drawn and moved by grace to respond to the merciful love of God who loved us first.

1429

Có thể lấy cuộc hối cải của thánh Phêrô, sau khi chối Thầy mình ba lần, làm bằng chứng cho điều đó. Cái nhìn của lòng thương xót vô biên của Chúa Giêsu khiến ông khóc lóc thống hối và, sau khi Chúa sống lại, ông đã ba lần khẳng định tình yêu của ông đối với Người. Cuộc hối cải thứ hai cũng mang chiều kích cộng đoàn. Điều này được thấy rõ trong lời kêu gọi của Chúa với toàn thể Hội Thánh: “Hãy hối cải!” (Kh 2,5.16). Thánh Ambrôsiô nói về hai cuộc hối cải: “Hội Thánh có nước và nước mắt, nước của bí tích Rửa Tội, và nước mắt của bí tích Thống Hối.”

St. Peter's conversion after he had denied his master three times bears witness to this. Jesus' look of infinite mercy drew tears of repentance from Peter and, after the Lord's resurrection, a threefold affirmation of love for him. The second conversion also has a communitarian dimension, as is clear in the Lord's call to a whole Church: "Repent!"

1430

Cũng như các tiên tri thuở trước, lời kêu gọi hối cải và thống hối của Chúa Giêsu không nhằm trước tiên đến những việc bên ngoài, “mặc áo vải thô, rắc tro trên đầu”, giữ chay và khổ chế, nhưng nhằm đến sự hối cải tâm hồn, sự thống hối nội tâm. Nếu không có sự hối cải nội tâm, các việc thống hối bên ngoài sẽ vô hiệu và dối trá; ngược lại, sự hối cải nội tâm thúc đẩy diễn tả tâm tình ấy bằng những dấu chỉ hữu hình, bằng những cử chỉ và những việc làm thống hối.

Jesus' call to conversion and penance, like that of the prophets before him, does not aim first at outward works, "sackcloth and ashes," fasting and mortification, but at the conversion of the heart, interior conversion. Without this, such penances remain sterile and false; however, interior conversion urges expression in visible signs, gestures and works of penance.

1431

Thống hối nội tâm là định hướng mới cách triệt để cho cả cuộc đời, là trở về, là trở lại cùng Thiên Chúa với cả tâm hồn, đoạn tuyệt với tội lỗi, quay lưng với sự dữ, và ghê tởm những hành động xấu xa chúng ta đã phạm. Đồng thời thống hối nội tâm cũng bao gồm ước muốn và quyết tâm thay đổi đời sống, với niềm hy vọng vào lòng thương xót của Thiên Chúa và lòng tin tưởng vào sự trợ giúp của ân sủng của Ngài. Cuộc hối cải nội tâm này được kèm theo bằng sự đau khổ và buồn phiền hữu ích được các Giáo phụ gọi là nỗi thống khổ của tâm hồn, sự cắn rứt của trái tim.

Interior repentance is a radical reorientation of our whole life, a return, a conversion to God with all our heart, an end of sin, a turning away from evil, with repugnance toward the evil actions we have committed. At the same time it entails the desire and resolution to change one's life, with hope in God's mercy and trust in the help of his grace. This conversion of heart is accompanied by a salutary pain and sadness which the Fathers called animi cruciatus (affliction of spirit) and compunctio cordis (repentance of heart).

1432

Lòng người nặng nề và cứng cỏi. Con người phải được Thiên Chúa ban cho một trái tim mới. Hối cải trước hết là công trình của ân sủng của Thiên Chúa, Đấng làm cho lòng chúng ta trở lại với Ngài: “Xin đưa chúng con về với Ngài, lạy Chúa, để chúng con trở về” (Ac 5,21). Thiên Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để chúng ta bắt đầu lại. Tâm hồn chúng ta, một khi khám phá ra sự cao cả của tình yêu Thiên Chúa, sẽ bị chấn động vì sự khủng khiếp và nặng nề của tội lỗi và bắt đầu sợ không dám phạm tội xúc phạm Thiên Chúa và sợ bị xa lìa Ngài. Lòng người hối cải, khi nhìn lên Đấng đã bị tội lỗi chúng ta đâm thâu. “Hãy chiêm ngắm Máu Đức Kitô và nhận biết rằng Máu ấy quý giá biết bao đối với Thiên Chúa là Cha Người, Máu ấy, khi đổ ra để cứu độ chúng ta, đã mang lại cho toàn thế giới ơn thống hối.”

The human heart is heavy and hardened. God must give man a new heart. Conversion is first of all a work of the grace of God who makes our hearts return to him: "Restore us to thyself, O LORD, that we may be restored!" God gives us the strength to begin anew. It is in discovering the greatness of God's love that our heart is shaken by the horror and weight of sin and begins to fear offending God by sin and being separated from him. the human heart is converted by looking upon him whom our sins have pierced:

1433

Khởi từ cuộc Vượt Qua, Chúa Thánh Thần tố cáo thế gian về tội lỗi, vì thế gian đã không tin vào Đấng Chúa Cha đã sai đến. Nhưng cũng chính Chúa Thánh Thần, Đấng tố cáo tội lỗi, lại là Đấng An Ủi, Đấng ban cho tâm hồn con người ân sủng để họ thống hối và hối cải.

Since Easter, the Holy Spirit has proved "the world wrong about sin," i.e., proved that the world has not believed in him whom the Father has sent. But this same Spirit who brings sin to light is also the Consoler who gives the human heart grace for repentance and conversion.

1434

Việc thống hối nội tâm của Kitô hữu có thể được biểu lộ bằng nhiều cách rất khác nhau. Kinh Thánh và các Giáo phụ nhấn mạnh nhất ba hình thức: giữ chay, cầu nguyện và bố thí là những cách diễn tả sự hối cải đối với bản thân, đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Bên cạnh sự thanh tẩy triệt để bằng bí tích Rửa Tội hoặc bằng việc tử đạo, các ngài còn nói đến những phương thế để đạt được ơn tha thứ tội lỗi, đó là cố gắng giao hòa với anh em, những giọt lệ thống hối, chăm lo cho ơn cứu độ của tha nhân, khẩn cầu các thánh và thực hành bác ái, “vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi” (1 Pr 4,8).

The interior penance of the Christian can be expressed in many and various ways. Scripture and the Fathers insist above all on three forms, fasting, prayer, and almsgiving, which express conversion in relation to oneself, to God, and to others. Alongside the radical purification brought about by Baptism or martyrdom they cite as means of obtaining forgiveness of sins: effort at reconciliation with one's neighbor, tears of repentance, concern for the salvation of one's neighbor, the intercession of the saints, and the practice of charity "which covers a multitude of sins."

1435

Việc hối cải được thực hiện trong đời sống hằng ngày bằng những hành động giao hòa, quan tâm đến người nghèo, thực thi và bảo vệ công lý và lẽ phải, bằng việc thú nhận lỗi lầm với anh em, sửa lỗi cho nhau, kiểm điểm đời sống, tự vấn lương tâm, linh hướng, chấp nhận đau khổ, kiên trì khi bị bách hại vì lẽ công chính. Con đường chắc chắn nhất của sự thống hối là vác thập giá mình hằng ngày mà đi theo Chúa Giêsu.

Conversion is accomplished in daily life by gestures of reconciliation, concern for the poor, the exercise and defense of justice and right, by the admission of faults to one's brethren, fraternal correction, revision of life, examination of conscience, spiritual direction, acceptance of suffering, endurance of persecution for the sake of righteousness. Taking up one's cross each day and following Jesus is the surest way of penance.

1436

Bí tích Thánh Thể và bí tích Thống Hối. Việc hối cải và thống hối hằng ngày gặp được nguồn mạch và lương thực của mình nơi bí tích Thánh Thể, bởi vì nơi Thánh Thể, hy lễ của Đức Kitô hiện diện, hy lễ này giao hòa chúng ta với Thiên Chúa; nhờ bí tích Thánh Thể, những ai sống bởi sức sống của Đức Kitô sẽ được nuôi dưỡng và được bổ sức; bí tích này là “thuốc giải độc, giải thoát chúng ta khỏi các lỗi phạm hằng ngày và gìn giữ chúng ta khỏi các tội trọng.”

Eucharist and Penance. Daily conversion and penance find their source and nourishment in the Eucharist, for in it is made present the sacrifice of Christ which has reconciled us with God. Through the Eucharist those who live from the life of Christ are fed and strengthened. "It is a remedy to free us from our daily faults and to preserve us from mortal sins."

1437

Việc đọc Kinh Thánh, đọc các Giờ Kinh phụng vụ và kinh Lạy Cha, bất cứ hành vi chân thành nào trong việc phụng tự và đạo đức, đều khơi dậy nơi chúng ta tinh thần hối cải và thống hối và góp phần đem lại ơn tha tội cho chúng ta.

Reading Sacred Scripture, praying the Liturgy of the Hours and the Our Father - every sincere act of worship or devotion revives the spirit of conversion and repentance within us and contributes to the forgiveness of our sins.

1438

Những thời gian và những ngày thống hối trong năm phụng vụ (mùa Chay, mỗi ngày thứ sáu tưởng niệm Chúa chịu chết), là những thời điểm đặc biệt để thực hành việc thống hối trong Hội Thánh. Những thời gian này đặc biệt thích hợp cho các cuộc linh thao, các buổi cử hành phụng vụ thống hối, các cuộc hành hương thống hối, những việc hãm mình tự nguyện như giữ chay và bố thí, chia sẻ huynh đệ (các công tác từ thiện và truyền giáo).

The seasons and days of penance in the course of the liturgical year (Lent, and each Friday in memory of the death of the Lord) are intense moments of the Church's penitential practice. These times are particularly appropriate for spiritual exercises, penitential liturgies, pilgrimages as signs of penance, voluntary self-denial such as fasting and almsgiving, and fraternal sharing (charitable and missionary works).

1439

Chúa Giêsu đã mô tả tiến trình hối cải và thống hối một cách tuyệt vời trong dụ ngôn quen được gọi là dụ ngôn “Đứa con hoang đàng” mà trọng tâm của nó là “Người cha nhân hậu”: sự quyến rũ của một thứ tự do sai lạc, việc rời bỏ nhà cha; sự đau khổ cùng cực sau khi phung phí tất cả tài sản; sự nhục nhã sâu xa khi thấy mình phải đi chăn heo, và còn tệ hơn nữa, ước muốn ăn cám heo mà không được; việc suy nghĩ lại về những điều thiện hảo đã bị đánh mất; sự hối hận và quyết định nhận mình có lỗi trước mặt cha; con đường trở về; việc đón nhận bao dung của người cha; niềm vui của người cha: Đó là những nét tiêu biểu của tiến trình hối cải. Áo đẹp, nhẫn và tiệc mừng là những biểu tượng của một đời sống mới, thanh sạch. xứng đáng, tràn ngập niềm vui, đó là đời sống của người trở về cùng Thiên Chúa, giữa lòng gia đình của Ngài, là Hội Thánh. Chỉ trái tim Đức Kitô, Đấng thấu suốt các tầng sâu thẳm của tình yêu của Cha Người, mới có thể mặc khải cho chúng ta tận đáy lòng thương xót của Thiên Chúa một cách đơn sơ và đầy vẻ đẹp như vậy.

The process of conversion and repentance was described by Jesus in the parable of the prodigal son, the center of which is the merciful father: The fascination of illusory freedom, the abandonment of the father's house; the extreme misery in which the son finds himself after squandering his fortune; his deep humiliation at finding himself obliged to feed swine, and still worse, at wanting to feed on the husks the pigs ate; his reflection on all he has lost; his repentance and decision to declare himself guilty before his father; the journey back; the father's generous welcome; the father's joy - all these are characteristic of the process of conversion. the beautiful robe, the ring, and the festive banquet are symbols of that new life - pure worthy, and joyful - of anyone who returns to God and to the bosom of his family, which is the Church. Only the heart of Christ Who knows the depths of his Father's love could reveal to us the abyss of his mercy in so simple and beautiful a way.

1440

Trước hết, tội là sự xúc phạm đến Thiên Chúa, là cắt đứt sự hiệp thông với Ngài. Đồng thời tội làm tổn thương cho sự hiệp thông với Hội Thánh. Vì vậy, việc hối cải vừa mang lại ơn tha thứ của Thiên Chúa và đồng thời, vừa mang lại sự giao hòa với Hội Thánh, đó là điều bí tích Thống Hối và Giao hòa diễn tả và thực hiện trong phụng vụ.

Sin is before all else an offense against God, a rupture of communion with him. At the same time it damages communion with the Church. For this reason conversion entails both God's forgiveness and reconciliation with the Church, which are expressed and accomplished liturgically by the sacrament of Penance and Reconciliation.

1441

Chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội. Bởi vì Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, nên Người nói về mình: “Ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội” (Mc 2,10), và Người thực thi quyền thần linh này: “Con đã được tha tội rồi” (Mc 2,5). Hơn nữa, dựa vào quyền bính thần linh của mình, Đức Kitô còn ban quyền đó cho những con người để họ thực thi quyền tha tội nhân danh Người.

Only God forgives sins. Since he is the Son of God, Jesus says of himself, "The Son of man has authority on earth to forgive sins" and exercises this divine power: "Your sins are forgiven." Further, by virtue of his divine authority he gives this power to men to exercise in his name.

1442

Đức Kitô đã muốn toàn thể Hội Thánh của Người, trong kinh nguyện, đời sống và các hoạt động của mình, là dấu chỉ và dụng cụ cho ơn tha thứ và giao hòa mà Người đã thủ đắc cho chúng ta, bằng máu châu báu của Người. Tuy nhiên, Người đã ủy thác việc thực thi quyền tha tội cho thừa tác vụ Tông Đồ. Chính thừa tác vụ này đã lãnh nhận “chức vụ giao hoà” (2 Cr 5,18). Vị Tông Đồ được sai đi nhân danh Đức Kitô; và chính Thiên Chúa, qua vị Tông Đồ, khuyên bảo và nài xin: “Hãy làm hòa với Thiên Chúa” (2 Cr 5,20).

Christ has willed that in her prayer and life and action his whole Church should be the sign and instrument of the forgiveness and reconciliation that he acquired for us at the price of his blood. But he entrusted the exercise of the power of absolution to the apostolic ministry which he charged with the "ministry of reconciliation." The apostle is sent out "on behalf of Christ" with "God making his appeal" through him and pleading: "Be reconciled to God."

1443

Trong đời sống công khai của Người, Chúa Giêsu không những đã tha tội, mà còn biểu lộ hiệu quả của việc tha tội này: Người đã đưa các tội nhân được tha thứ về lại với cộng đoàn dân Thiên Chúa, cộng đoàn mà tội lỗi đã khiến họ phải xa lìa, hay thậm chí khiến họ bị loại trừ. Một dấu chỉ tỏ tường của việc này là, Chúa Giêsu đã đón nhận các tội nhân vào bàn tiệc của Người, hơn nữa, chính Người ngồi đồng bàn với họ, cử chỉ này, một cách hùng hồn, vừa diễn tả ơn tha thứ của Thiên Chúa và đồng thời, vừa nói lên sự trở về giữa lòng dân Thiên Chúa.

During his public life Jesus not only forgave sins, but also made plain the effect of this forgiveness: he reintegrated forgiven sinners into the community of the People of God from which sin had alienated or even excluded them. A remarkable sign of this is the fact that Jesus receives sinners at his table, a gesture that expresses in an astonishing way both God's forgiveness and the return to the bosom of the People of God.

1444

Khi Chúa ban cho các Tông Đồ được tham dự vào quyền riêng của Người là quyền tha tội, Người cũng ban cho họ quyền giao hòa các tội nhân với Hội Thánh. Chiều kích giáo hội của nhiệm vụ này của các Tông Đồ được diễn tả cách đặc biệt trong những lời long trọng Đức Kitô nói với ông Phêrô: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,19). “Nhiệm vụ cầm buộc và tháo cởi, đã được ban cho thánh Phêrô, cũng được ban cho tập thể các Tông Đồ, kết hợp với vị thủ lãnh của mình (x. Mt 18,18; 28,16-20).”

In imparting to his apostles his own power to forgive sins the Lord also gives them the authority to reconcile sinners with the Church. This ecclesial dimension of their task is expressed most notably in Christ's solemn words to Simon Peter: "I will give you the keys of the kingdom of heaven, and whatever you bind on earth shall be bound in heaven, and whatever you loose on earth shall be loosed in heaven." "The office of binding and loosing which was given to Peter was also assigned to the college of the apostles united to its head."

1445

Các thuật ngữ cầm buộc và tháo cởi có nghĩa là: ai bị anh em loại ra khỏi sự hiệp thông với anh em, thì người ấy cũng bị loại ra khỏi sự hiệp thông với Thiên Chúa; ai được anh em đón nhận lại vào sự hiệp thông với anh em, thì Thiên Chúa cũng đón nhận lại người ấy vào sự hiệp thông với Ngài. Việc giao hòa với Hội Thánh không thể tách biệt khỏi sự giao hòa với Thiên Chúa.

The words bind and loose mean: whomever you exclude from your communion, will be excluded from communion with God; whomever you receive anew into your communion, God will welcome back into his. Reconciliation with the Church is inseparable from reconciliation with God.

1446

Đức Kitô đã thiết lập bí tích Thống Hối này cho tất cả các chi thể của Hội Thánh Người, là những tội nhân, trước hết cho những kẻ, sau bí tích Rửa Tội, lại rơi vào tội trọng, và như thế, đánh mất ân sủng Phép Rửa và làm tổn thương cho sự hiệp thông của Hội Thánh. Bí tích Thống Hối cho những người này cơ hội mới để hối cải và tìm lại được ơn công chính hóa. Các Giáo phụ trình bày bí tích này như “cái phao (cứu độ) thứ hai sau khi đắm tàu, tức là sau khi đánh mất ân sủng.”

Christ instituted the sacrament of Penance for all sinful members of his Church: above all for those who, since Baptism, have fallen into grave sin, and have thus lost their baptismal grace and wounded ecclesial communion. It is to them that the sacrament of Penance offers a new possibility to convert and to recover the grace of justification. the Fathers of the Church present this sacrament as "the second plank [of salvation] after the shipwreck which is the loss of grace."

1447

Qua các thế kỷ, hình thức cụ thể, qua đó Hội Thánh thực thi quyền tha tội đã lãnh nhận từ Chúa, đã có nhiều thay đổi. Trong các thế kỷ đầu, việc giao hòa cho các Kitô hữu nào đã phạm những tội đặc biệt nghiêm trọng sau khi họ đã lãnh Phép Rửa (thí dụ thờ ngẫu tượng, giết người hay ngoại tình), được liên kết với một kỷ luật rất khắt khe; theo kỷ luật này, hối nhân phải làm việc đền tội công khai vì các tội lỗi của họ, thường kéo dài nhiều năm, trước khi họ được lãnh nhận ơn giao hòa. Thật ra cũng rất ít người bị liệt vào “hàng hối nhân” (chỉ liên quan tới một số tội nặng nề) và trong một số miền, hối nhân chỉ được nhận ơn giao hòa một lần trong đời. Vào thế kỷ thứ 7, các nhà truyền giáo người Ailen, dựa theo truyền thống các đan viện Đông phương, đã mang vào lục địa Châu Âu hình thức “thống hối riêng”, không đòi hỏi những việc thống hối công khai và kéo dài trước khi được giao hòa với Hội Thánh. Từ đó, bí tích được thực hiện cách kín đáo giữa hối nhân và tư tế. Cách thực hành mới này dự liệu người ta có thể được giao hòa nhiều lần và như vậy, mở đường cho việc năng lãnh nhận bí tích này. Cách thực hành này cũng cho phép gom vào trong cùng một cử hành bí tích, việc tha thứ các tội trọng và các tội nhẹ. Trong những nét chính, Hội Thánh vẫn còn thực hành hình thức thống hối này cho tới ngày nay.

Over the centuries the concrete form in which the Church has exercised this power received from the Lord has varied considerably. During the first centuries the reconciliation of Christians who had committed particularly grave sins after their Baptism (for example, idolatry, murder, or adultery) was tied to a very rigorous discipline, according to which penitents had to do public penance for their sins, often for years, before receiving reconciliation. To this "order of penitents" (which concerned only certain grave sins), one was only rarely admitted and in certain regions only once in a lifetime. During the seventh century Irish missionaries, inspired by the Eastern monastic tradition, took to continental Europe the "private" practice of penance, which does not require public and prolonged completion of penitential works before reconciliation with the Church. From that time on, the sacrament has been performed in secret between penitent and priest. This new practice envisioned the possibility of repetition and so opened the way to a regular frequenting of this sacrament. It allowed the forgiveness of grave sins and venial sins to be integrated into one sacramental celebration. In its main lines this is the form of penance that the Church has practiced down to our day.

1448

Mặc dầu có những thay đổi về kỷ luật và việc cử hành qua các thế kỷ, người ta nhận thấy bí tích này vẫn giữ nguyên một cấu trúc căn bản. Bí tích này gồm hai yếu tố cốt yếu như nhau: một đàng, là các hành động của con người hối cải dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần: thống hối, thú tội và đền tội; đàng khác, là hành động của Thiên Chúa qua sự can thiệp của Hội Thánh. Hội Thánh, qua Giám mục và các linh mục của ngài, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, ban ơn tha tội và ấn định việc đền tội, Hội Thánh cũng cầu nguyện cho tội nhân và cùng làm việc thống hối với họ. Như vậy, tội nhân được chữa lành và được hiệp thông lại với Hội Thánh.

Beneath the changes in discipline and celebration that this sacrament has undergone over the centuries, the same fundamental structure is to be discerned. It comprises two equally essential elements: on the one hand, the acts of the man who undergoes conversion through the action of the Holy Spirit: namely, contrition, confession, and satisfaction; on the other, God's action through the intervention of the Church. the Church, who through the bishop and his priests forgives sins in the name of Jesus Christ and determines the manner of satisfaction, also prays for the sinner and does penance with him. Thus the sinner is healed and re-established in ecclesial communion.

1449

Công thức giải tội trong Giáo Hội Latinh diễn tả những yếu tố cốt yếu của bí tích này: Chúa Cha hay thương xót là nguồn mạch của ơn tha thứ. Ngài thực hiện việc giao hòa với các tội nhân nhờ cuộc Vượt Qua của Con Ngài và nhờ hồng ân của Chúa Thánh Thần, qua lời cầu nguyện và thừa tác vụ của Hội Thánh: “Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa, mà giao hòa thế gian với Chúa và ban Thánh Thần để tha tội; xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh, mà ban cho anh (chị) ơn tha thứ và bình an. Vậy, tôi tha tội cho anh (chị) nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.”

The formula of absolution used in the Latin Church expresses the essential elements of this sacrament: the Father of mercies is the source of all forgiveness. He effects the reconciliation of sinners through the Passover of his Son and the gift of his Spirit, through the prayer and ministry of the Church:

1450

“Việc thống hối đòi buộc tội nhân tự nguyện chịu đựng mọi sự; ăn năn tội trong trái tim, xưng tội ra ngoài miệng, khiêm tốn trong việc làm và đền tội một cách có hiệu quả.”

"Penance requires . . . the sinner to endure all things willingly, be contrite of heart, confess with the lips, and practice complete humility and fruitful satisfaction."

1451

Trong các hành vi của hối nhân, đầu tiên là ăn năn tội. Đó là “đau đớn trong lòng và chê ghét tội đã phạm, dốc lòng chừa từ nay không phạm tội nữa.”

Among the penitent's acts contrition occupies first place. Contrition is "sorrow of the soul and detestation for the sin committed, together with the resolution not to sin again."

1452

Khi sự ăn năn tội xuất phát từ lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự, thì được gọi là ăn năn tội “cách trọn” (ăn năn do đức mến). Cách ăn năn tội này xóa bỏ các tội nhẹ; và cũng đem lại ơn tha thứ các tội trọng, nếu hối nhân quyết tâm đi xưng tội càng sớm càng tốt.

When it arises from a love by which God is loved above all else, contrition is called "perfect" (contrition of charity). Such contrition remits venial sins; it also obtains forgiveness of mortal sins if it includes the firm resolution to have recourse to sacramental confession as soon as possible.

1453

Ăn năn tội “cách chẳng trọn” (hoặc hối hận) cũng là một hồng ân của Thiên Chúa, một thúc đẩy của Chúa Thánh Thần. Nó phát sinh khi thấy sự xấu xa của tội lỗi hoặc vì sợ bị luận phạt đời đời và sợ các hình phạt khác mà kẻ tội lỗi phải chịu (ăn năn do sợ hãi). Sự khích động lương tâm như vậy có thể là khởi đầu của một tiến trình nội tâm, tiến trình này sẽ được hoàn tất dưới tác động của ân sủng nhờ ơn xá giải bí tích. Việc ăn năn tội cách chẳng trọn tự nó không đem lại ơn tha thứ các tội trọng, nhưng chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn tha tội trong bí tích Thống Hối.

The contrition called "imperfect" (or "attrition") is also a gift of God, a prompting of the Holy Spirit. It is born of the consideration of sin's ugliness or the fear of eternal damnation and the other penalties threatening the sinner (contrition of fear). Such a stirring of conscience can initiate an interior process which, under the prompting of grace, will be brought to completion by sacramental absolution. By itself however, imperfect contrition cannot obtain the forgiveness of grave sins, but it disposes one to obtain forgiveness in the sacrament of Penance.

1454

Để lãnh nhận bí tích Giao Hòa, hối nhân cần chuẩn bị bằng việc xét mình dưới ánh sáng Lời Chúa. Những bản văn thích hợp nhất cho việc này được tìm thấy trong Mười Điều Răn và trong giáo huấn luân lý của các sách Tin Mừng và các Thư Tông Đồ: trong Bài giảng trên núi, trong những giáo huấn của các Tông Đồ.

The reception of this sacrament ought to be prepared for by an examination of conscience made in the light of the Word of God. the passages best suited to this can be found in the moral catechesis of the Gospels and the apostolic Letters, such as the Sermon on the Mount and the apostolic teachings.

1455

Việc xưng tội (cáo mình), ngay trên bình diện thuần túy nhân loại, giải thoát chúng ta và làm cho chúng ta giao hòa với người khác cách dễ dàng hơn. Qua việc xưng tội, con người nhìn thẳng vào tội lỗi mình đã phạm, nhận lấy trách nhiệm về các tội đó, và từ đó một lần nữa mở lòng cho Thiên Chúa và cho sự hiệp thông với Hội Thánh để có thể có một tương lai mới.

The confession (or disclosure) of sins, even from a simply human point of view, frees us and facilitates our reconciliation with others. Through such an admission man looks squarely at the sins he is guilty of, takes responsibility for them, and thereby opens himself again to God and to the communion of the Church in order to make a new future possible.

1456

Việc xưng tội với một tư tế là phần cốt yếu của bí tích Thống Hối: “Khi xưng tội, các hối nhân phải kể tất cả các tội trọng mà họ ý thức được sau khi xét mình kỹ lưỡng, dù những tội trọng này rất thầm kín và chỉ phạm đến hai điều cuối của Thập Giới, vì những tội này làm tổn thương linh hồn cách trầm trọng hơn, và chúng còn nguy hiểm hơn những tội phạm cách tỏ tường”: “Mỗi khi các Kitô hữu cố gắng xưng thú tất cả các tội lỗi mà họ nhớ được, chắc chắn là họ đã trình bày tất cả cho lòng thương xót Chúa để được tha thứ. Còn những ai làm khác đi và cố tình giấu một số tội, thì họ đã chẳng trình bày điều gì cho lòng nhân hậu Chúa để được tha thứ qua vị tư tế. ‘Vì nếu bệnh nhân xấu hổ không cho thầy thuốc coi vết thương, thì thuốc không chữa được điều mà nó không biết’.”

Confession to a priest is an essential part of the sacrament of Penance: "All mortal sins of which penitents after a diligent self-examination are conscious must be recounted by them in confession, even if they are most secret and have been committed against the last two precepts of the Decalogue; for these sins sometimes wound the soul more grievously and are more dangerous than those which are committed openly."

1457

Theo luật Hội Thánh, “mọi tín hữu, sau khi đến tuổi khôn, buộc phải xưng các tội trọng của mình một cách trung thực, một năm ít là một lần.” Ai ý thức mình đã phạm tội trọng, thì không được rước lễ, mặc dầu đã hết sức ăn năn, trước khi lãnh nhận ơn xá giải bí tích, trừ khi có lý do hệ trọng để rước lễ và không thể đến với một cha giải tội. Trẻ em phải lãnh nhận bí tích Thống Hối trước khi rước lễ lần đầu.

According to the Church's command, "after having attained the age of discretion, each of the faithful is bound by an obligation faithfully to confess serious sins at least once a year." Anyone who is aware of having committed a mortal sin must not receive Holy Communion, even if he experiences deep contrition, without having first received sacramental absolution, unless he has a grave reason for receiving Communion and there is no possibility of going to confession. Children must go to the sacrament of Penance before receiving Holy Communion for the first time.

1458

Việc xưng các lỗi phạm hằng ngày (các tội nhẹ), tuy không thật sự cần thiết, vẫn được Hội Thánh thiết tha khuyến khích. Quả thật, việc năng xưng các tội nhẹ giúp chúng ta rèn luyện lương tâm, để chiến đấu chống lại các khuynh hướng xấu, để cho Đức Kitô chữa lành chúng ta, và để chúng ta tiến tới trong đời sống theo Chúa Thánh Thần. Năng hưởng nhờ hồng ân của lòng thương xót của Chúa Cha qua bí tích này, chúng ta được thúc đẩy để trở nên hay thương xót như Ngài: “Ai thú nhận và xưng tội mình là đã cộng tác với Thiên Chúa. Thiên Chúa tố cáo các tội của bạn; nếu chính bạn cũng cáo tội mình, thì bạn được kết hợp với Thiên Chúa. Con người và tội nhân là như hai thực tại: khi nói về con người, thì đó là việc Thiên Chúa làm; khi nói về tội nhân, thì đó là chuyện chính con người làm. Bạn hãy phá đi điều bạn đã làm, để Thiên Chúa cứu độ điều Ngài đã làm... Khi bạn bắt đầu ghét điều bạn đã làm, lúc đó những việc tốt đẹp của bạn khởi sự, bởi vì bạn đã cáo mình về các việc xấu của bạn. Xưng thú các việc xấu là bắt đầu các việc tốt. Bạn đang thực hiện sự thật và bạn đang đến cùng Ánh sáng.”

Without being strictly necessary, confession of everyday faults (venial sins) is nevertheless strongly recommended by the Church. Indeed the regular confession of our venial sins helps us form our conscience, fight against evil tendencies, let ourselves be healed by Christ and progress in the life of the Spirit. By receiving more frequently through this sacrament the gift of the Father's mercy, we are spurred to be merciful as he is merciful:

1459

Có nhiều tội gây thiệt hại cho tha nhân. Phải làm hết sức có thể, để sửa sai lại (thí dụ, trả lại đồ vật đã lấy cắp, phục hồi danh dự cho người mình đã vu khống, bồi thường các thương tích). Riêng đức công bằng đã đòi hỏi điều đó. Nhưng hơn nữa, tội lỗi gây thương tổn và làm suy yếu chính tội nhân, và cả mối liên hệ giữa họ với Thiên Chúa và với tha nhân. Việc xá giải xóa bỏ tội lỗi, nhưng không mang lại phương dược cho mọi xáo trộn do tội lỗi gây nên. Được giải thoát khỏi tội lỗi, tội nhân còn phải hồi phục đầy đủ sức khỏe thiêng liêng. Vì vậy, họ còn phải làm một việc gì đó để sửa lại tội lỗi của họ: phải “đền bù” cách thích hợp hoặc “đền tạ” về các tội lỗi của mình. Việc đền tội này cũng được gọi là “thống hối.”

Many sins wrong our neighbor. One must do what is possible in order to repair the harm (e.g., return stolen goods, restore the reputation of someone slandered, pay compensation for injuries). Simple justice requires as much. But sin also injures and weakens the sinner himself, as well as his relationships with God and neighbor. Absolution takes away sin, but it does not remedy all the disorders sin has caused. Raised up from sin, the sinner must still recover his full spiritual health by doing something more to make amends for the sin: he must "make satisfaction for" or "expiate" his sins. This satisfaction is also called "penance."

1460

Việc đền tội, mà vị giải tội ấn định, phải chú ý đến tình trạng riêng của hối nhân và mưu cầu điều thiện hảo thiêng liêng cho họ. Bao nhiêu có thể, việc đền tội phải tương xứng với sự trầm trọng và bản chất của các tội đã phạm. Có thể đền tội bằng cách cầu nguyện, dâng cúng, bằng những việc từ thiện, phục vụ tha nhân, bằng các việc hãm mình, hy sinh, và nhất là kiên trì đón nhận thánh giá chúng ta phải vác. Những việc đền tội như thế giúp chúng ta nên giống Đức Kitô, Đấng duy nhất, đã đền bù tội lỗi chúng ta một lần cho mãi mãi. Chúng sẽ làm cho chúng ta trở nên đồng thừa tự với Đức Kitô phục sinh, bởi vì “chúng ta cùng chịu đau khổ với Người” (Rm 8,17): “Chúng ta không thể làm việc đền tội để đền vì tội lỗi chúng ta, nếu không nhờ Chúa Giêsu Kitô: tự sức mình chúng ta không thể làm được gì, nhưng cùng với Người là ‘Đấng ban sức mạnh cho chúng ta, chúng ta làm được mọi việc’. Con người không có gì để tự phụ, nhưng tất cả vinh quang của chúng ta là ở nơi Đức Kitô,... trong Người, chúng ta đền tội, bằng cách ‘làm ra những hoa quả xứng đáng của lòng thống hối’, do Người, những hoa quả ấy có sức mạnh; bởi Người, chúng được dâng lên Chúa Cha; và nhờ Người, chúng được Chúa Cha chấp nhận.”

The penance the confessor imposes must take into account the penitent's personal situation and must seek his spiritual good. It must correspond as far as possible with the gravity and nature of the sins committed. It can consist of prayer, an offering, works of mercy, service of neighbor, voluntary self-denial, sacrifices, and above all the patient acceptance of the cross we must bear. Such penances help configure us to Christ, who alone expiated our sins once for all. They allow us to become co-heirs with the risen Christ, "provided we suffer with him."

1461

Bởi vì Đức Kitô đã trao cho các Tông Đồ của Người thừa tác vụ giao hòa, nên các giám mục, những người kế nhiệm các ngài, và các linh mục, là những cộng sự viên của các giám mục, tiếp tục thi hành thừa tác vụ này. Thật vậy, các giám mục và các linh mục, nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, có quyền tha tất cả tội lỗi “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.”

Since Christ entrusted to his apostles the ministry of reconciliation, bishops who are their successors, and priests, the bishops' collaborators, continue to exercise this ministry. Indeed bishops and priests, by virtue of the sacrament of Holy Orders, have the power to forgive all sins "in the name of the Father, and of the Son, and of the Holy Spirit."

1462

Việc xá giải tội lỗi giao hòa chúng ta với Thiên Chúa và cũng giao hòa với Hội Thánh. Vì vậy, Giám mục, vị thủ lãnh hữu hình của Giáo Hội địa phương, từ rất xa xưa, vẫn được coi là người có quyền và có thừa tác vụ giao hòa một cách chính yếu: ngài là người điều phối kỷ luật thống hối. Các linh mục, là cộng sự viên của ngài, thi hành thừa tác vụ này trong phạm vi năng quyền mà họ lãnh nhận hoặc do giám mục của mình (hay do bề trên dòng tu) hoặc do Đức Giáo Hoàng, theo luật Hội Thánh.

Forgiveness of sins brings reconciliation with God, but also with the Church. Since ancient times the bishop, visible head of a particular Church, has thus rightfully been considered to be the one who principally has the power and ministry of reconciliation: he is the moderator of the penitential discipline. Priests, his collaborators, exercise it to the extent that they have received the commission either from their bishop (or religious superior) or the Pope, according to the law of the Church.

1463

Có một số tội nặng đặc biệt, ai phạm sẽ bị vạ tuyệt thông, là hình phạt nặng nhất theo giáo luật, cấm không cho nhận lãnh các bí tích và không được thi hành một số tác vụ trong Hội Thánh, và việc xá giải hình phạt này chỉ có thể được ban, theo giáo luật, do Đức Giáo Hoàng, do Giám mục giáo phận hay do các linh mục được các vị trên ủy quyền. Trong trường hợp nguy tử, bất cứ linh mục nào, dù không có năng quyền giải tội, vẫn có thể tha hết mọi tội và mọi vạ tuyệt thông.

Certain particularly grave sins incur excommunication, the most severe ecclesiastical penalty, which impedes the reception of the sacraments and the exercise of certain ecclesiastical acts, and for which absolution consequently cannot be granted, according to canon law, except by the Pope, the bishop of the place or priests authorized by them. In danger of death any priest, even if deprived of faculties for hearing confessions, can absolve from every sin and excommunication.

1464

Các tư tế phải khuyến khích các tín hữu đến với bí tích Thống Hối, và phải tỏ ra luôn sẵn sàng cử hành bí tích này mỗi khi các Kitô hữu yêu cầu một cách hợp lý.

Priests must encourage the faithful to come to the sacrament of Penance and must make themselves available to celebrate this sacrament each time Christians reasonably ask for it.

1465

Khi cử hành bí tích Thống Hối, tư tế chu toàn thừa tác vụ của vị Mục tử nhân lành đi tìm chiên lạc, của người Samaritanô nhân hậu băng bó các vết thương, của người Cha chờ đợi đứa con hoang đàng và đón nhận nó khi nó trở về, của vị thẩm phán công chính không thiên vị ai, và xét xử vừa công bằng vừa hay thương xót. Tắt một lời, tư tế là dấu chỉ và là dụng cụ của tình yêu thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân.

When he celebrates the sacrament of Penance, the priest is fulfilling the ministry of the Good Shepherd who seeks the lost sheep, of the Good Samaritan who binds up wounds, of the Father who awaits the prodigal son and welcomes him on his return, and of the just and impartial judge whose judgment is both just and merciful. the priest is the sign and the instrument of God's merciful love for the sinner.

1466

Vị giải tội không phải là chủ nhân, nhưng là thừa tác viên của ơn tha thứ của Thiên Chúa. Thừa tác viên của bí tích này phải gắn bó mình với ý hướng và tình yêu của Đức Kitô. Ngài phải có một sự hiểu biết đã được kiểm chứng về luân lý Kitô Giáo, có kinh nghiệm về các vấn đề nhân bản, biết tôn trọng và dịu dàng đối với người sa ngã; ngài phải yêu mến sự thật, trung thành với Huấn Quyền của Hội Thánh và kiên trì giúp hối nhân được chữa lành và trưởng thành đầy đủ. Ngài phải cầu nguyện và đền tội cho hối nhân, trong khi phó thác họ cho lòng thương xót của Chúa.

The confessor is not the master of God's forgiveness, but its servant. the minister of this sacrament should unite himself to the intention and charity of Christ. He should have a proven knowledge of Christian behavior, experience of human affairs, respect and sensitivity toward the one who has fallen; he must love the truth, be faithful to the Magisterium of the Church, and lead the penitent with patience toward healing and full maturity. He must pray and do penance for his penitent, entrusting him to the Lord's mercy.

1467

Vì sự thánh thiêng và cao cả rất hiển nhiên của thừa tác vụ này và vì sự tôn trọng phải có đối với con người, Hội Thánh tuyên bố rằng mọi tư tế nghe xưng tội, bắt buộc phải giữ bí mật tuyệt đối về các tội mà hối nhân đã xưng với họ, nếu lỗi phạm sẽ bị những hình phạt nghiêm khắc nhất. Các linh mục cũng không được sử dụng những hiểu biết do việc xưng tội cung cấp cho họ về đời sống của các hối nhân. Bí mật này, không chấp nhận các luật trừ, được gọi là “ấn tín bí tích”, bởi vì tất cả những gì hối nhân đã bày tỏ với linh mục, đều được “niêm ấn” bởi bí tích.

Given the delicacy and greatness of this ministry and the respect due to persons, the Church declares that every priest who hears confessions is bound under very severe penalties to keep absolute secrecy regarding the sins that his penitents have confessed to him. He can make no use of knowledge that confession gives him about penitents' lives. This secret, which admits of no exceptions, is called the "sacramental seal," because what the penitent has made known to the priest remains "sealed" by the sacrament.

1468

“Tất cả hiệu quả của bí tích Thống Hối là đưa chúng ta về lại trong ân sủng của Thiên Chúa và kết hợp chúng ta với Ngài bằng tình thân nghĩa thắm thiết.” Vì vậy, mục đích và hiệu quả của bí tích này là sự giao hòa với Thiên Chúa. Nơi những người lãnh nhận bí tích Thống Hối với lòng ăn năn và sự chuẩn bị đạo đức, “bí tích này sẽ mang lại sự bình an và thư thái trong lương tâm, kèm theo là niềm an ủi dào dạt trong tâm hồn.” Thật vậy, bí tích Giao hòa với Thiên Chúa mang lại một “cuộc phục sinh thiêng liêng” thật sự, hoàn trả lại phẩm giá và những điều thiện hảo cho đời sống làm con Thiên Chúa, mà cao qúi nhất là tình thân nghĩa với Thiên Chúa.

"The whole power of the sacrament of Penance consists in restoring us to God's grace and joining us with him in an intimate friendship." Reconciliation with God is thus the purpose and effect of this sacrament. For those who receive the sacrament of Penance with contrite heart and religious disposition, reconciliation "is usually followed by peace and serenity of conscience with strong spiritual consolation." Indeed the sacrament of Reconciliation with God brings about a true "spiritual resurrection," restoration of the dignity and blessings of the life of the children of God, of which the most precious is friendship with God.

1469

Bí tích này giao hòa chúng ta với Hội Thánh. Tội lỗi làm suy yếu hay cắt đứt sự hiệp thông huynh đệ. Bí tích Thống Hối canh tân hoặc tái tạo sự hiệp thông đó. Theo nghĩa này, bí tích không những chữa lành hối nhân, làm cho họ được hiệp thông lại với Hội Thánh, mà còn có một hiệu quả mang lại sức sống cho đời sống Hội Thánh, vốn đã phải chịu đựng tội lỗi của một trong các chi thể của mình. Tội nhân, một khi đã được phục hồi hay được củng cố trong mầu nhiệm các thánh thông công, thì được tăng cường nhờ sự hiệp thông các gia sản thiêng liêng giữa mọi chi thể sống động của Thân Thể Đức Kitô, hoặc còn đang trên đường lữ hành, hoặc đã ở nơi quê hương thiên quốc: “Nhưng phải thêm rằng việc giao hòa này với Thiên Chúa như còn dẫn tới những sự giao hòa khác, để hàn gắn nhiều đổ vỡ khác do tội gây ra: khi được tha thứ, hối nhân giao hòa với chính mình nơi phần thâm sâu nhất của hữu thể mình, nơi người đó tìm lại được sự thật nội tại của mình; hối nhân được giao hòa với anh em mà một cách nào đó họ đã xúc phạm và gây thương tổn; hối nhân được giao hòa với Hội Thánh; hối nhân được giao hòa với tất cả các thụ tạo.”

This sacrament reconciles us with the Church. Sin damages or even breaks fraternal communion. the sacrament of Penance repairs or restores it. In this sense it does not simply heal the one restored to ecclesial communion, but has also a revitalizing effect on the life of the Church which suffered from the sin of one of her members. Re-established or strengthened in the communion of saints, the sinner is made stronger by the exchange of spiritual goods among all the living members of the Body of Christ, whether still on pilgrimage or already in the heavenly homeland:

1470

Trong bí tích này, khi phó mình cho sự phán xét đầy thương xót của Thiên Chúa, một cách nào đó, tội nhân tham dự trước vào sự phán xét mà họ phải chịu khi cuộc đời ở trần gian của họ kết thúc. Vì bây giờ, trong cuộc đời này, chúng ta còn được chọn lựa giữa cõi sống và cõi chết: nếu không nhờ con đường hối cải, chúng ta không thể vào được Nước Thiên Chúa, nơi mà vì tội trọng chúng ta bị loại trừ ra khỏi đó. Khi ăn năn trở lại với Đức Kitô nhờ Thống Hối và đức tin, tội nhân sẽ từ cõi chết bước vào cõi sống và “khỏi bị xét xử” (Ga 5,24).

In this sacrament, the sinner, placing himself before the merciful judgment of God, anticipates in a certain way the judgment to which he will be subjected at the end of his earthly life. For it is now, in this life, that we are offered the choice between life and death, and it is only by the road of conversion that we can enter the Kingdom, from which one is excluded by grave sin. In converting to Christ through penance and faith, the sinner passes from death to life and "does not come into judgment."

1471

Giáo lý và việc thực hành về các ân xá trong Hội Thánh liên hệ mật thiết với các hiệu quả của bí tích Thống Hối. “Ân xá là việc tha thứ trước mặt Thiên Chúa khỏi những hình phạt tạm đáng chịu vì những tội lỗi đã phạm, dù những tội đó đã được tha thứ. Để hưởng nhờ ân xá, Kitô hữu phải hội đủ những điều kiện được thẩm quyền của Hội Thánh quy định, vì với tư cách là thừa tác viên của Ơn cứu chuộc, Hội Thánh có thẩm quyền phân phát và chia sẻ kho tàng công phúc của Đức Kitô và các Thánh.” “Ân xá có thể là từng phần hay toàn phần, tùy theo mức độ giải thoát từng phần hay trọn vẹn các hình phạt tạm đáng phải chịu vì tội.” “Tín hữu nào cũng có thể hưởng các ân xá... cho chính mình, hay cho những người đã qua đời.”

The doctrine and practice of indulgences in the Church are closely linked to the effects of the sacrament of Penance.

1472

Để hiểu giáo lý và việc thực hành này của Hội Thánh, chúng ta phải biết tội lỗi có hậu quả kép. Tội trọng làm cho chúng ta không được hiệp thông với Thiên Chúa, và do đó làm cho chúng ta không còn khả năng hưởng sự sống muôn đời; sự mất mát này được gọi là “hình phạt đời đời” do tội lỗi. Mặt khác, bất cứ tội nào, dù là tội nhẹ, đều kéo theo nó một sự quyến luyến lệch lạc với các thụ tạo, nên cần được thanh tẩy, hoặc ngay ở đời này, hoặc sau khi chết, trong tình trạng được gọi là luyện ngục. Sự thanh tẩy này giải thoát khỏi điều được gọi là “hình phạt tạm” do tội. Hai hình phạt này không được coi như một cách báo thù nào đó do Thiên Chúa giáng xuống từ bên ngoài, nhưng đúng hơn phải coi như là xuất phát từ chính bản chất của tội. Việc hối cải do đức mến nồng nàn có thể đưa đến một sự thanh tẩy trọn vẹn cho tội nhân, đến độ không còn hình phạt nào tồn tại nữa.

To understand this doctrine and practice of the Church, it is necessary to understand that sin has a double consequence. Grave sin deprives us of communion with God and therefore makes us incapable of eternal life, the privation of which is called the "eternal punishment" of sin. On the other hand every sin, even venial, entails an unhealthy attachment to creatures, which must be purified either here on earth, or after death in the state called Purgatory. This purification frees one from what is called the "temporal punishment" of sin. These two punishments must not be conceived of as a kind of vengeance inflicted by God from without, but as following from the very nature of sin. A conversion which proceeds from a fervent charity can attain the complete purification of the sinner in such a way that no punishment would remain.

1473

Sự tha thứ tội lỗi và tái lập hiệp thông với Thiên Chúa khiến chúng ta được tha các hình phạt đời đời do tội. Nhưng những hình phạt tạm do tội vẫn còn. Kitô hữu, trong khi nhẫn nại chịu đựng những đau khổ và thử thách đủ loại, và trong việc đón nhận cái chết với tâm hồn thanh thản khi ngày đó đến, phải cố gắng đón nhận những hình phạt tạm do tội như là một ân sủng; họ phải cố gắng cởi bỏ hoàn toàn “con người cũ” và mặc lấy “con người mới”, nhờ những công việc đầy tình thương xót và bác ái, cũng như nhờ cầu nguyện và nhiều việc thống hối khác nhau.

The forgiveness of sin and restoration of communion with God entail the remission of the eternal punishment of sin, but temporal punishment of sin remains. While patiently bearing sufferings and trials of all kinds and, when the day comes, serenely facing death, the Christian must strive to accept this temporal punishment of sin as a grace. He should strive by works of mercy and charity, as well as by prayer and the various practices of penance, to put off completely the "old man" and to put on the "new man."

1474

Kitô hữu không đơn độc khi cố gắng thanh tẩy mình khỏi tội lỗi và thánh hóa bản thân với sự trợ giúp của ơn Chúa. “Đời sống của mỗi con cái Thiên Chúa được kết hợp một cách lạ lùng, trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, với đời sống của tất cả các anh em Kitô hữu trong sự hợp nhất siêu nhiên của Nhiệm Thể Đức Kitô, như trong một con người huyền nhiệm.”

The Christian who seeks to purify himself of his sin and to become holy with the help of God's grace is not alone. "The life of each of God's children is joined in Christ and through Christ in a wonderful way to the life of all the other Christian brethren in the supernatural unity of the Mystical Body of Christ, as in a single mystical person."

1475

Trong mầu nhiệm “các thánh thông công”, “giữa các tín hữu, cả những vị đã đạt tới quê hương thiên quốc, cả những người còn đền tội nơi luyện ngục, cả những người đang lữ hành trên trần gian, có một dây liên kết vững bền trong tình yêu và một sự trao đổi dồi dào tất cả các điều thiện hảo.” Trong sự trao đổi kỳ diệu này, sự thánh thiện của một người sinh lợi cho những người khác, vượt xa sự thiệt hại mà tội lỗi của một người có thể gây ra cho những người khác. Như vậy, sự trở về với mầu nhiệm “các thánh thông công” cho phép tội nhân thống hối được thanh tẩy khỏi các hình phạt do tội một cách nhanh chóng và hữu hiệu hơn.

In the communion of saints, "a perennial link of charity exists between the faithful who have already reached their heavenly home, those who are expiating their sins in purgatory and those who are still pilgrims on earth. between them there is, too, an abundant exchange of all good things." In this wonderful exchange, the holiness of one profits others, well beyond the harm that the sin of one could cause others. Thus recourse to the communion of saints lets the contrite sinner be more promptly and efficaciously purified of the punishments for sin.

1476

Chúng ta gọi những điều thiện hảo thiêng liêng của mầu nhiệm “các Thánh thông công” là kho tàng của Hội Thánh, “thật ra đây không phải là như tổng số các điều thiện hảo giống như tổng số của cải vật chất được tích lũy qua bao thế kỷ, nhưng là giá trị vô cùng vô tận trước nhan Thiên Chúa của những việc đền tội và những công phúc của Chúa Kitô, tất cả được dâng lên để toàn thể nhân loại được giải thoát khỏi tội lỗi và được hiệp thông với Chúa Cha; chính Đức Kitô là Đấng Cứu Chuộc, trong Người có, và có một cách dư dật, những việc đền tội và những công phúc do Ơn cứu chuộc của Người.”

We also call these spiritual goods of the communion of saints the Church's treasury, which is "not the sum total of the material goods which have accumulated during the course of the centuries. On the contrary the 'treasury of the Church' is the infinite value, which can never be exhausted, which Christ's merits have before God. They were offered so that the whole of mankind could be set free from sin and attain communion with the Father. In Christ, the Redeemer himself, the satisfactions and merits of his Redemption exist and find their effficacy."

1477

“Ngoài ra, kho tàng này còn bao gồm giá trị vô lượng vô biên và luôn luôn mới trước nhan Thiên Chúa của những lời cầu nguyện và những việc lành của Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc và của tất cả các Thánh. Là những người bước theo chân Chúa Kitô nhờ ân sủng của Người, các ngài đã thánh hóa bản thân, và chu toàn công việc được Chúa Cha chấp nhận; đến độ, khi hành động để chính mình được cứu độ, các ngài cũng góp phần làm cho các anh em mình được cứu độ trong sự hợp nhất của nhiệm thể.”

"This treasury includes as well the prayers and good works of the Blessed Virgin Mary. They are truly immense, unfathomable, and even pristine in their value before God. In the treasury, too, are the prayers and good works of all the saints, all those who have followed in the footsteps of Christ the Lord and by his grace have made their lives holy and carried out the mission the Father entrusted to them. In this way they attained their own salvation and at the same time cooperated in saving their brothers in the unity of the Mystical Body."

1478

“Người ta nhận được ân xá nhờ Hội Thánh; Hội Thánh, nhờ quyền cầm buộc và tháo cởi do Chúa Giêsu Kitô ban, can thiệp vì lợi ích của một Kitô hữu nào đó và mở cho họ kho tàng công phúc của Đức Kitô và của các thánh, để họ nhận được nơi Chúa Cha giàu lòng thương xót ơn tha thứ những hình phạt tạm họ đáng phải chịu do tội. Như vậy, Hội Thánh không những muốn giúp đỡ tín hữu đó, mà còn thúc đẩy họ làm những việc đạo đức, thống hối và bác ái.”

An indulgence is obtained through the Church who, by virtue of the power of binding and loosing granted her by Christ Jesus, intervenes in favor of individual Christians and opens for them the treasury of the merits of Christ and the saints to obtain from the Father of mercies the remission of the temporal punishments due for their sins. Thus the Church does not want simply to come to the aid of these Christians, but also to spur them to works of devotion, penance, and charity.

1479

Bởi vì các tín hữu đã qua đời đang chịu thanh luyện cũng là những thành viên trong mầu nhiệm các thánh thông công, nên chúng ta có thể giúp họ, ngoài các cách khác, bằng cách lãnh nhận các ân xá (để nhường) cho họ, nhờ đó, họ được tha các hình phạt tạm họ đang phải chịu do tội lỗi của họ.

Since the faithful departed now being purified are also members of the same communion of saints, one way we can help them is to obtain indulgences for them, so that the temporal punishments due for their sins may be remitted.

1480

Cũng như tất cả các bí tích, bí tích Thống Hối là một hành động phụng vụ. Đây là những yếu tố thông thường của việc cử hành: Lời chào hỏi và chúc lành của tư tế, việc đọc Lời Chúa để soi sáng lương tâm và khơi dậy lòng ăn năn, và việc khuyên nhủ thống hối; việc xưng tội gồm nhìn nhận tội lỗi và xưng ra với tư tế; tư tế ấn định và hối nhân chấp nhận việc đền tội; lời xá giải của tư tế; hối nhân ca ngợi tạ ơn và ra về với phép lành của tư tế.

Like all the sacraments, Penance is a liturgical action. the elements of the celebration are ordinarily these: a greeting and blessing from the priest, reading the word of God to illuminate the conscience and elicit contrition, and an exhortation to repentance; the confession, which acknowledges sins and makes them known to the priest; the imposition and acceptance of a penance; the priest's absolution; a prayer of thanksgiving and praise and dismissal with the blessing of the priest.

1481

Phụng vụ Byzantin có nhiều công thức xá giải, mang hình thức cầu khẩn, diễn tả cách tuyệt vời mầu nhiệm tha thứ: “Thiên Chúa đã dùng tiên tri Nathan mà tha thứ cho Đavít khi ông xưng thú tội mình. Ngài đã tha thứ cho ông Phêrô khi ông khóc lóc đau đớn, đã tha thứ cho người kỹ nữ khi cô nhỏ lệ trên chân Chúa, đã tha thứ cho người thu thuế và cho đứa con hoang đàng. Xin chính Thiên Chúa tha thứ cho bạn, qua tôi, là kẻ tội lỗi, ở đời này và đời sau, và không kết án bạn, khi đòi bạn phải ra trước tòa phán xét khủng khiếp của Ngài, Ngài là Đấng được chúc tụng muôn đời. Amen.”

The Byzantine Liturgy recognizes several formulas of absolution, in the form of invocation, which admirably express the mystery of forgiveness: "May the same God, who through the Prophet Nathan forgave David when he confessed his sins, who forgave Peter when he wept bitterly, the prostitute when she washed his feet with her tears, the Pharisee, and the prodigal son, through me, a sinner, forgive you both in this life and in the next and enable you to appear before his awe-inspiring tribunal without condemnation, he who is blessed for ever and ever. Amen."

1482

Bí tích Thống Hối cũng có thể diễn ra trong khung cảnh một cử hành cộng đoàn, trong đó các hối nhân cùng nhau chuẩn bị xưng tội và cùng nhau cảm tạ sau khi được ơn tha thứ. Ở đây, việc xưng tội cá nhân và việc xá giải từng người được chen vào trong một cử hành phụng vụ Lời Chúa, với các bài đọc và bài giảng, xét mình chung, cùng nhau xin ơn tha thứ, đọc kinh Lạy Cha và cùng nhau tạ ơn. Việc cử hành cộng đoàn này diễn tả rõ nét hơn chiều kích Hội Thánh của việc thống hối. Tuy nhiên, dầu cử hành cách nào, bí tích Thống Hối, tự bản chất của nó, vẫn luôn luôn là một hành động phụng vụ, vì vậy, luôn có chiều kích Hội Thánh và có tính công khai.

The sacrament of Penance can also take place in the framework of a communal celebration in which we prepare ourselves together for confession and give thanks together for the forgiveness received. Here, the personal confession of sins and individual absolution are inserted into a liturgy of the word of God with readings and a homily, an examination of conscience conducted in common, a communal request for forgiveness, the Our Father and a thanksgiving in common. This communal celebration expresses more clearly the ecclesial character of penance. However, regardless of its manner of celebration the sacrament of Penance is always, by its very nature, a liturgical action, and therefore an ecclesial and public action.

1483

Trong những trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng, có thể cử hành bí tích Giao hòa tập thể tức là xưng tội chung và xá giải chung. Trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng như vậy có thể xảy ra, là khi trong cơn nguy tử mà một hay nhiều tư tế không đủ thời giờ nghe từng hối nhân xưng tội. Trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng cũng có thể là, khi có đông hối nhân mà không có đủ cha giải tội để nghe từng người xưng tội đúng cách trong một thời gian thích hợp, đến nỗi các hối nhân không được lãnh ơn của bí tích hoặc không được rước lễ trong thời gian lâu dài mà không do lỗi của họ. Trong trường hợp này, để việc xá giải được thành sự, các tín hữu phải quyết tâm là sẽ đi xưng tội riêng những tội trọng của mình vào thời gian thích hợp. Giám mục giáo phận có quyền thẩm định những điều kiện cần thiết để giải tội tập thể. Số lượng đông đảo các tín hữu trong những dịp lễ lớn hay các cuộc hành hương, không được coi là trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng.

In case of grave necessity recourse may be had to a communal celebration of reconciliation with general confession and general absolution. Grave necessity of this sort can arise when there is imminent danger of death without sufficient time for the priest or priests to hear each penitent's confession. Grave necessity can also exist when, given the number of penitents, there are not enough confessors to hear individual confessions properly in a reasonable time, so that the penitents through no fault of their own would be deprived of sacramental grace or Holy Communion for a long time. In this case, for the absolution to be valid the faithful must have the intention of individually confessing their sins in the time required. The diocesan bishop is the judge of whether or not the conditions required for general absolution exist. A large gathering of the faithful on the occasion of major feasts or pilgrimages does not constitute a case of grave necessity.

1484

“Việc xưng tội riêng và xưng tội đầy đủ cùng với việc xá giải tạo thành phương cách thông thường duy nhất, nhờ đó các tín hữu được giao hòa với Thiên Chúa và với Hội Thánh; chỉ có sự bất lực thể lý hay luân lý mới miễn chuẩn việc xưng tội như trên.” Điều này có những lý do sâu xa. Đức Kitô hành động trong mỗi bí tích. Người đích thân nói với từng tội nhân: “Này con, con đã được tha tội rồi” (Mc 2,5); Người là thầy thuốc cúi mình trên từng bệnh nhân đang cần Người chữa lành; Người nâng họ dậy và dẫn họ về hiệp thông lại với anh em. Vì vậy, việc xưng tội riêng là hình thức có ý nghĩa nhất trong việc giao hòa với Thiên Chúa và với Hội Thánh.

"Individual, integral confession and absolution remain the only ordinary way for the faithful to reconcile themselves with God and the Church, unless physical or moral impossibility excuses from this kind of confession." There are profound reasons for this. Christ is at work in each of the sacraments. He personally addresses every sinner: "My son, your sins are forgiven." He is the physician tending each one of the sick who need him to cure them. He raises them up and reintegrates them into fraternal communion. Personal confession is thus the form most expressive of reconciliation with God and with the Church.

1485

Chiều ngày Phục Sinh, Chúa Giêsu hiện ra với các Tông Đồ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,22-23).

"On the evening of that day, the first day of the week," Jesus showed himself to his apostles. "He breathed on them, and said to them: 'Receive the Holy Spirit. If you forgive the sins of any, they are forgiven; if you retain the sins of any, they are retained"' (Jn 20:19, (22-23).

1486

Việc tha thứ tội lỗi đã phạm sau bí tích Rửa Tội được trao ban nhờ một bí tích riêng được gọi là bí tích Hối cải, bí tích Giải tội, bí tích Thống Hối, hoặc bí tích Giao hòa.

The forgiveness of sins committed after Baptism is conferred by a particular sacrament called the sacrament of conversion, confession, penance, or reconciliation.

1487

Ai phạm tội, đều xúc phạm đến danh dự và tình yêu của Thiên Chúa, xúc phạm đến phẩm giá riêng của mình, là người được mời gọi làm con Thiên Chúa và xúc phạm đến giá trị linh thiêng của Hội Thánh mà mỗi Kitô hữu phải là viên đá sống động.

The sinner wounds God's honor and love, his own human dignity as a man called to be a son of God, and the spiritual well-being of the Church, of which each Christian ought to be a living stone.

1488

Trong ánh sáng đức tin, không có gì xấu hơn là tội lỗi; không có hậu quả nào thảm hại hơn cho chính tội nhân, cho Hội Thánh và cho cả thế giới.

To the eyes of faith no evil is graver than sin and nothing has worse consequences for sinners themselves, for the Church, and for the whole world.

1489

Việc trở về hiệp thông với Thiên Chúa, sự hiệp thông đã bị đánh mất do tội, xuất phát từ ân sủng của Thiên Chúa, Đấng đầy lòng nhân từ luôn quan tâm cứu độ con người. Phải van xin hồng ân quý giá này cho bản thân cũng như cho mọi kẻ khác.

To return to communion with God after having lost it through sin is a process born of the grace of God who is rich in mercy and solicitous for the salvation of men. One must ask for this precious gift for oneself and for others.

1490

Động thái trở về với Thiên Chúa được gọi là hối cải và thống hối, gồm sự đau buồn và ghê tởm các tội đã phạm và quyết tâm không phạm tội nữa. Vì vậy, sự hối cải bao trùm cả quá khứ lẫn tương lai, được nuôi dưỡng bằng sự trông cậy vào lòng thương xót của Thiên Chúa.

The movement of return to God, called conversion and repentance, entails sorrow for and abhorrence of sins committed, and the firm purpose of sinning no more in the future. Conversion touches the past and the future and is nourished by hope in God's mercy.

1491

Bí tích Thống Hối bao gồm ba hành vi của hối nhân và sự xá giải của tư tế. Ba hành vi của hối nhân là: thống hối; xưng tội với tư tế; quyết tâm làm việc đền tội và các việc đền bù.

The sacrament of Penance is a whole consisting in three actions of the penitent and the priest's absolution. the penitent's acts are repentance, confession or disclosure of sins to the priest, and the intention to make reparation and do works of reparation.

1492

Thống hối (hay ăn năn tội) phải do động lực đức tin thúc đẩy. Nếu thống hối phát xuất từ lòng yêu mến Chúa, thì đó là ăn năn tội “cách trọn”; nếu phát xuất từ những động lực khác, thì đó là ăn năn tội “cách chẳng trọn.”

Repentance (also called contrition) must be inspired by motives that arise from faith. If repentance arises from love of charity for God, it is called "perfect" contrition; if it is founded on other motives, it is called "imperfect."

1493

Ai muốn được giao hòa với Thiên Chúa và với Hội Thánh, phải xưng thú cùng tư tế tất cả những tội trọng chưa xưng và nhớ được sau khi đã xét mình kỹ lưỡng. Hội Thánh tha thiết khuyên xưng các tội nhẹ, mặc dù điều này không bắt buộc.

One who desires to obtain reconciliation with God and with the Church, must confess to a priest all the unconfessed grave sins he remembers after having carefully examined his conscience. the confession of venial faults, without being necessary in itself, is nevertheless strongly recommended by the Church.

1494

Vị giải tội chỉ định cho hối nhân thi hành một số việc “đền tội” hoặc “thống hối” nào đó, để đền bù những thiệt hại do tội gây ra, và để tái lập những tập quán riêng của người môn đệ Đức Kitô.

The confessor proposes the performance of certain acts of "satisfaction" or "penance" to be performed by the penitent in order to repair the harm caused by sin and to re-establish habits befitting a disciple of Christ.

1495

Chỉ các tư tế được Hội Thánh ban năng quyền giải tội, mới có thể tha tội nhân danh Đức Kitô.

Only priests who have received the faculty of absolving from the authority of the Church can forgive sins in the name of Christ.

1496

Những hiệu quả thiêng liêng của bí tích Thống Hối là: — được giao hòa với Thiên Chúa, và như vậy, hối nhân được nhận lại ân sủng; — được giao hòa với Hội Thánh; — được tha thứ hình phạt đời đời đáng phải chịu vì các tội trọng đã phạm; — được tha thứ, ít nhất một phần, các hình phạt tạm là hậu quả của tội; — được bình an thư thái trong lương tâm và được an ủi thiêng liêng; — được gia tăng sức mạnh thiêng liêng để chiến đấu trong cuộc đời Kitô hữu.

The spiritual effects of the sacrament of Penance are: - reconciliation with God by which the penitent recovers grace; - reconciliation with the Church; - remission of the eternal punishment incurred by mortal sins; - remission, at least in part, of temporal punishments resulting from sin; - peace and serenity of conscience, and spiritual consolation; - an increase of spiritual strength for the Christian battle.

1497

Việc xưng thú cá nhân và xưng thú tất cả các tội trọng, tiếp theo là việc xá giải, là phương thức thông thường duy nhất để lãnh nhận ơn giao hòa với Thiên Chúa và với Hội Thánh.

Individual and integral confession of grave sins followed by absolution remains the only ordinary means of reconciliation with God and with the Church.

1498

Nhờ các ân xá, các tín hữu có thể đạt được cho chính mình và cả cho các linh hồn trong luyện ngục, ơn tha thứ các hình phạt tạm, là hậu quả của tội.

Through indulgences the faithful can obtain the remission of temporal punishment resulting from sin for themselves and also for the souls in Purgatory.