Hỏi Đáp Công Giáo
Cử Hành Mầu Nhiệm Kitô Giáo · Bảy bí tích của Hội Thánh · Các bí tích chữa lành
MỤC 5

Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân

Số 1499–1532
1499

“Qua việc xức dầu bệnh nhân và lời cầu nguyện của các linh mục, toàn thể Hội Thánh phó thác các bệnh nhân cho Chúa chịu nạn và vinh hiển để Người nâng đỡ và cứu chữa họ; hơn nữa, Hội Thánh còn khuyên bảo họ tự nguyện kết hợp với cuộc khổ nạn và sự chết của Đức Kitô, để mưu ích cho dân Thiên Chúa.”

"By the sacred anointing of the sick and the prayer of the priests the whole Church commends those who are ill to the suffering and glorified Lord, that he may raise them up and save them. and indeed she exhorts them to contribute to the good of the People of God by freely uniting themselves to the Passion and death of Christ."

1500

Bệnh tật và đau khổ luôn luôn là những vấn đề nghiêm trọng nhất ảnh hưởng trên đời sống con người. Trong cơn bệnh, con người cảm nghiệm sự bất lực, các giới hạn và sự hữu hạn của mình. Mọi bệnh tật đều có thể khiến chúng ta nhìn xa đến cái chết.

Illness and suffering have always been among the gravest problems confronted in human life. In illness, man experiences his powerlessness, his limitations, and his finitude. Every illness can make us glimpse death.

1501

Bệnh tật có thể đưa đến sự lo lắng, tự khép kín, đôi khi tuyệt vọng và nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Nhưng nó cũng có thể làm cho con người chín chắn hơn, giúp họ phân định điều gì không phải là chính yếu trong đời họ, để quay về với điều chính yếu. Bệnh tật rất thường gợi lên sự tìm hiểu về Thiên Chúa, gợi lên sự trở lại với Ngài.

Illness can lead to anguish, self-absorption, sometimes even despair and revolt against God. It can also make a person more mature, helping him discern in his life what is not essential so that he can turn toward that which is. Very often illness provokes a search for God and a return to him.

1502

Con người thời Cựu Ước sống trong bệnh tật trước tôn nhan Thiên Chúa. Họ than thở với Thiên Chúa về bệnh tật của mình và xin Ngài, là Chúa sự sống và sự chết, chữa lành. Bệnh tật trở thành con đường hối cải, và ơn tha thứ của Thiên Chúa là khởi đầu việc chữa lành. Dân Ítraen cảm nghiệm rằng, bệnh tật có liên hệ cách bí nhiệm với tội lỗi và sự dữ, và sự trung thành với Thiên Chúa, theo Lề Luật của Ngài, sẽ trả lại sự sống: “vì Ta là Chúa, Đấng chữa lành ngươi” (Xh 15,26). Có Tiên tri đã thoáng nhận ra rằng đau khổ có thể có giá trị cứu chuộc đối với tội lỗi của những người khác. Sau cùng, tiên tri Isaia loan báo rằng Thiên Chúa sẽ đem đến cho Xion một thời đại, lúc đó Ngài sẽ tha thứ mọi tội lỗi và chữa lành mọi bệnh tật.

The man of the Old Testament lives his sickness in the presence of God. It is before God that he laments his illness, and it is of God, Master of life and death, that he implores healing. Illness becomes a way to conversion; God's forgiveness initiates the healing. It is the experience of Israel that illness is mysteriously linked to sin and evil, and that faithfulness to God according to his law restores life: "For I am the Lord, your healer." The prophet intuits that suffering can also have a redemptive meaning for the sins of others. Finally Isaiah announces that God will usher in a time for Zion when he will pardon every offense and heal every illness.

1503

Lòng thương cảm của Đức Kitô đối với các bệnh nhân và nhiều việc chữa lành mọi thứ bệnh tật Người đã thực hiện là một dấu chỉ hiển nhiên cho thấy rằng Thiên Chúa đã viếng thăm Dân Ngài và Nước Thiên Chúa đã gần kề. Chúa Giêsu không những có quyền chữa lành mà còn có quyền tha tội: Người đến để chữa lành con người toàn diện, cả xác cả hồn; Người là thầy thuốc mà các bệnh nhân cần đến. Lòng thương cảm của Người đối với tất cả những người chịu đau khổ, đã đi đến chỗ Người tự nên một với họ: “Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng” (Mt 25,36). Tình yêu đặc biệt của Người đối với những người đau yếu, trải qua các thế kỷ, đã không ngừng khơi dậy sự quan tâm đặc biệt của các Kitô hữu đối với tất cả những ai chịu đau khổ phần xác hay phần hồn. Tình yêu này làm phát sinh những cố gắng không mệt mỏi để nâng đỡ những người đau khổ đó.

Christ's compassion toward the sick and his many healings of every kind of infirmity are a resplendent sign that "God has visited his people" and that the Kingdom of God is close at hand. Jesus has the power not only to heal, but also to forgive sins; he has come to heal the whole man, soul and body; he is the physician the sick have need of. His compassion toward all who suffer goes so far that he identifies himself with them: "I was sick and you visited me." His preferential love for the sick has not ceased through the centuries to draw the very special attention of Christians toward all those who suffer in body and soul. It is the source of tireless efforts to comfort them.

1504

Chúa Giêsu thường đòi buộc các bệnh nhân phải tin. Người dùng những dấu chỉ để chữa lành: nước miếng và việc đặt tay, bùn đất và việc rửa sạch. Các bệnh nhân tìm cách chạm đến Người “vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người” (Lc 6,19). Vì vậy, trong các bí tích, Đức Kitô tiếp tục “chạm” đến chúng ta để chữa lành chúng ta.

Often Jesus asks the sick to believe. He makes use of signs to heal: spittle and the laying on of hands, mud and washing. The sick try to touch him, "for power came forth from him and healed them all." and so in the sacraments Christ continues to "touch" us in order to heal us.

1505

Xúc động trước quá nhiều đau khổ, Đức Kitô không những cho phép các bệnh nhân chạm đến Người, mà còn lấy những đau khổ của chúng ta làm của Người: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17). Tuy nhiên, Người đã không chữa lành tất cả các bệnh nhân. Những việc chữa lành của Người là những dấu chỉ rằng Nước Thiên Chúa đang đến. Chúng loan báo một sự chữa lành triệt để hơn: đó là sự chiến thắng tội lỗi và sự chết, nhờ cuộc Vượt Qua của Người. Trên thập giá, Đức Kitô đã mang vào thân thể Người tất cả gánh nặng của sự dữ và Người đã xóa “tội trần gian” (Ga 1,29), mà bệnh tật của trần gian chỉ là một hậu quả. Bằng cuộc khổ nạn và cái chết trên thập giá của Người, Đức Kitô đem lại cho đau khổ một ý nghĩa mới: từ nay đau khổ có thể làm cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Người và kết hợp chúng ta vào cuộc khổ nạn sinh ơn cứu chuộc của Người.

Moved by so much suffering Christ not only allows himself to be touched by the sick, but he makes their miseries his own: "He took our infirmities and bore our diseases." But he did not heal all the sick. His healings were signs of the coming of the Kingdom of God. They announced a more radical healing: the victory over sin and death through his Passover. On the cross Christ took upon himself the whole weight of evil and took away the "sin of the world," of which illness is only a consequence. By his passion and death on the cross Christ has given a new meaning to suffering: it can henceforth configure us to him and unite us with his redemptive Passion.

1506

Đức Kitô mời gọi các môn đệ vác thánh giá của mình mà theo Người. Khi theo Người, các môn đệ có được một tầm nhìn mới về các bệnh tật và các bệnh nhân. Chúa Giêsu đã cho họ dự phần vào đời sống nghèo khó và phục vụ của Người. Người cho họ tham dự vào thừa tác vụ cảm thương và chữa lành của Người: “Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh” (Mc 6,12-13).

Christ invites his disciples to follow him by taking up their cross in their turn. By following him they acquire a new outlook on illness and the sick. Jesus associates them with his own life of poverty and service. He makes them share in his ministry of compassion and healing: "So they went out and preached that men should repent. and they cast out many demons, and anointed with oil many that were sick and healed them."

1507

Chúa phục sinh đã lặp lại sứ vụ này (“Nhân danh Thầy... họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khỏe”: Mc 16,17-18) và xác nhận sứ vụ đó qua các dấu chỉ Hội Thánh thực hiện trong khi kêu cầu Danh Người. Các dấu chỉ này biểu lộ cách đặc biệt Chúa Giêsu thật sự là “Thiên Chúa cứu độ.”

The risen Lord renews this mission ("In my name . . . they will lay their hands on the sick, and they will recover.") and confirms it through the signs that the Church performs by invoking his name. These signs demonstrate in a special way that Jesus is truly "God who saves."

1508

Chúa Thánh Thần ban cách đặc biệt cho một số người đoàn sủng chữa lành để biểu lộ sức mạnh của ân sủng của Đấng phục sinh. Tuy nhiên, những lời cầu nguyện sốt sắng nhất cũng không luôn luôn chữa lành tất cả mọi bệnh tật. Thánh Phaolô phải học nơi Chúa điều này: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9); và những đau khổ phải chịu có thể có ý nghĩa này: “Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho Thân Thể Người là Hội Thánh” (Cl 1,24).

The Holy Spirit gives to some a special charism of healing so as to make manifest the power of the grace of the risen Lord. But even the most intense prayers do not always obtain the healing of all illnesses. Thus St. Paul must learn from the Lord that "my grace is sufficient for you, for my power is made perfect in weakness," and that the sufferings to be endured can mean that "in my flesh I complete what is lacking in Christ's afflictions for the sake of his Body, that is, the Church."

1509

“Hãy chữa lành người đau yếu!” (Mt 10,8). Hội Thánh đã nhận nơi Chúa mệnh lệnh này và cố gắng thi hành mệnh lệnh đó qua việc chăm sóc các bệnh nhân và việc nguyện cầu để đồng hành với họ. Hội Thánh tin vào sự hiện diện sống động của Đức Kitô, vị thầy thuốc của cả phần hồn phần xác. Sự hiện diện này đặc biệt tác động trong các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, là bánh ban sự sống đời đời và liên hệ của bánh này với sự chữa lành phần xác đã được thánh Phaolô nói đến.

"Heal the sick!" The Church has received this charge from the Lord and strives to carry it out by taking care of the sick as well as by accompanying them with her prayer of intercession. She believes in the life-giving presence of Christ, the physician of souls and bodies. This presence is particularly active through the sacraments, and in an altogether special way through the Eucharist, the bread that gives eternal life and that St. Paul suggests is connected with bodily health.

1510

Hội Thánh từ thời các Tông Đồ đã biết đến một nghi thức riêng dành cho các bệnh nhân. Thánh Giacôbê đã làm chứng về điều này: “Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha” (Gc 5,14-15). Truyền thống đã nhìn nhận nghi thức này là một trong bảy bí tích của Hội Thánh.

However, the apostolic Church has its own rite for the sick, attested to by St. James: "Is any among you sick? Let him call for the elders [presbyters] of the Church and let them pray over him, anointing him with oil in the name of the Lord; and the prayer of faith will save the sick man, and the Lord will raise him up; and if he has committed sins, he will be forgiven." Tradition has recognized in this rite one of the seven sacraments.

1511

Hội Thánh tin và tuyên xưng, trong bảy bí tích, có một bí tích đặc biệt dành để củng cố những người bị thử thách vì bệnh tật: đó là bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân: “Việc xức dầu thánh cho các bệnh nhân đã được Đức Kitô Chúa chúng ta thiết lập một cách thật sự và đúng nghĩa như là một bí tích của Giao Ước Mới, được thánh Marcô nhắc đến, và được giới thiệu và công bố cho các tín hữu nhờ thánh Giacôbê, vị Tông Đồ và là người anh em của Chúa.”

The Church believes and confesses that among the seven sacraments there is one especially intended to strengthen those who are being tried by illness, the Anointing of the Sick:

1512

Trong truyền thống phụng vụ của Đông cũng như Tây phương, từ xa xưa, đã có những bằng chứng về bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân với dầu đã được làm phép. Qua các thế kỷ, bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, càng ngày càng ít được sử dụng, chỉ được ban cho những người sắp chết. Vì vậy, bí tích này có tên gọi là việc “Xức dầu cuối cùng.” Mặc dù có sự chuyển biến này, phụng vụ không bao giờ bỏ qua việc cầu xin Chúa cho bệnh nhân được hồi phục sức khỏe, nếu điều này phù hợp với ơn cứu độ của họ.

From ancient times in the liturgical traditions of both East and West, we have testimonies to the practice of anointings of the sick with blessed oil. Over the centuries the Anointing of the Sick was conferred more and more exclusively on those at the point of death. Because of this it received the name "Extreme Unction." Notwithstanding this evolution the liturgy has never failed to beg the Lord that the sick person may recover his health if it would be conducive to his salvation.

1513

Tông Hiến Sacram unctionem infirmorum (Việc Xức Dầu Thánh cho bệnh nhân) ban hành ngày 30.11.1972, theo đường hướng Công đồng Vaticanô II, xác định từ nay, trong nghi lễ Rôma, phải thực hành như sau: “Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân được ban cho những ai bệnh tật nguy kịch, bằng việc xức trên trán và trên hai bàn tay với dầu ô liu hoặc, tùy nghi, dầu thực vật khác, đã được làm phép đúng luật, và chỉ đọc một lần: ‘Nhờ việc xức dầu thánh này và nhờ lòng từ bi nhân hậu của Chúa, xin Chúa dùng ơn Chúa Thánh Thần mà giúp đỡ con, để Ngài giải thoát con khỏi mọi tội lỗi, cứu chữa con và thương làm cho con thuyên giảm’.”

The Apostolic Constitution Sacram unctionem infirmorum, following upon the Second Vatican Council, established that henceforth, in the Roman Rite, the following be observed:

1514

Xức Dầu Bệnh Nhân “không phải là bí tích chỉ dành cho những người hấp hối. Do đó, thời gian thích hợp để lãnh nhận bí tích này là khi tín hữu bắt đầu lâm cơn nguy tử vì bệnh tật hay già yếu.”

The Anointing of the Sick "is not a sacrament for those only who are at the point of death. Hence, as soon as anyone of the faithful begins to be in danger of death from sickness or old age, the fitting time for him to receive this sacrament has certainly already arrived."

1515

Nếu bệnh nhân đã lãnh bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân và được hồi phục, rồi sau đó trở bệnh nặng, thì có thể lãnh bí tích này lần nữa. Trong cùng một cơn bệnh kéo dài, bí tích này có thể được tái ban nếu cơn bệnh trở nên trầm trọng hơn. Trước khi chịu một cuộc giải phẫu quan trọng, tín hữu nên lãnh nhận bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Cũng vậy, người lớn tuổi cũng nên lãnh nhận khi sức lực họ suy yếu dần.

If a sick person who received this anointing recovers his health, he can in the case of another grave illness receive this sacrament again. If during the same illness the person's condition becomes more serious, the sacrament may be repeated. It is fitting to receive the Anointing of the Sick just prior to a serious operation. the same holds for the elderly whose frailty becomes more pronounced.

1516

Chỉ có các tư tế (giám mục và linh mục) là thừa tác viên bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Các mục tử có trách nhiệm phải dạy cho các tín hữu về những ơn ích của bí tích này. Các tín hữu phải động viên bệnh nhân để mời tư tế đến ban bí tích. Các bệnh nhân phải chuẩn bị tâm hồn để lãnh nhận bí tích này, với sự trợ giúp của mục tử và toàn thể giáo xứ, những người được mời đến hỗ trợ bệnh nhân, một cách đặc biệt, bằng lời cầu nguyện và sự quan tâm huynh đệ.

Only priests (bishops and presbyters) are ministers of the Anointing of the Sick. It is the duty of pastors to instruct the faithful on the benefits of this sacrament. the faithful should encourage the sick to call for a priest to receive this sacrament. the sick should prepare themselves to receive it with good dispositions, assisted by their pastor and the whole ecclesial community, which is invited to surround the sick in a special way through their prayers and fraternal attention.

1517

Cũng như mọi bí tích khác, bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân là một cử hành phụng vụ có tính cộng đoàn, dù cử hành ở gia đình, ở bệnh viện hay ở nhà thờ, cho một hay một nhóm bệnh nhân. Rất nên cử hành bí tích này trong thánh lễ, là cuộc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa. Nếu hoàn cảnh cho phép, có thể cử hành bí tích Thống Hối trước khi ban bí tích Xức Dầu, và tiếp đó là bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể, là bí tích của cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, luôn luôn phải là bí tích cuối cùng của cuộc lữ hành trần thế, là “Của ăn đàng” cho việc “bước qua” đời sống vĩnh cửu.

Like all the sacraments the Anointing of the Sick is a liturgical and communal celebration, whether it takes place in the family home, a hospital or church, for a single sick person or a whole group of sick persons. It is very fitting to celebrate it within the Eucharist, the memorial of the Lord's Passover. If circumstances suggest it, the celebration of the sacrament can be preceded by the sacrament of Penance and followed by the sacrament of the Eucharist. As the sacrament of Christ's Passover the Eucharist should always be the last sacrament of the earthly journey, the "viaticum" for "passing over" to eternal life.

1518

Lời [Chúa] và bí tích làm nên một thể thống nhất bất khả phân ly. Sau nghi thức thống hối, phần phụng vụ Lời Chúa khai mở việc cử hành bí tích. Những lời của Đức Kitô, chứng từ của các Tông Đồ khơi dậy đức tin cho bệnh nhân và cho cộng đoàn, để cầu xin Chúa ban sức mạnh Thần Khí của Người.

Word and sacrament form an indivisible whole. the Liturgy of the Word, preceded by an act of repentance, opens the celebration. the words of Christ, the witness of the apostles, awaken the faith of the sick person and of the community to ask the Lord for the strength of his Spirit.

1519

Việc cử hành bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân chủ yếu gồm có các phần như sau: “Các kỳ mục của Hội Thánh” thinh lặng đặt tay trên bệnh nhân; các ngài cầu nguyện cho bệnh nhân trong đức tin của Hội Thánh, đó là kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis) đặc thù của bí tích này; rồi các ngài xức dầu cho bệnh nhân bằng dầu đã được làm phép, nếu có thể được, bởi Giám mục. Các hành động phụng vụ này cho thấy bí tích này mang lại biết bao ân sủng cho các bệnh nhân.

The celebration of the sacrament includes the following principal elements: the "priests of the Church" - in silence - lay hands on the sick; they pray over them in the faith of the Church - this is the epiclesis proper to this sacrament; they then anoint them with oil blessed, if possible, by the bishop. These liturgical actions indicate what grace this sacrament confers upon the sick.

1520

Hồng ân đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Ân sủng đầu tiên của bí tích này là ơn an ủi, bình an và can đảm cho tâm hồn để thắng vượt những khó khăn do tình trạng của cơn bệnh trầm trọng hay của tuổi già sức yếu. Ân sủng này là hồng ân của Chúa Thánh Thần, để canh tân sự phó thác và tin tưởng vào Thiên Chúa, và ban sức mạnh để chống lại các cám dỗ của Thần dữ, cám dỗ làm cho tâm hồn thất vọng và lo âu trước cái chết. Sự trợ giúp này của Chúa nhờ sức mạnh của Thần Khí Người nhằm chữa lành linh hồn bệnh nhân, nhưng cũng chữa lành cả thân xác, nếu đó là thánh ý Thiên Chúa. Ngoài ra, “nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha” (Gc 5,15).

A particular gift of the Holy Spirit. the first grace of this sacrament is one of strengthening, peace and courage to overcome the difficulties that go with the condition of serious illness or the frailty of old age. This grace is a gift of the Holy Spirit, who renews trust and faith in God and strengthens against the temptations of the evil one, the temptation to discouragement and anguish in the face of death. This assistance from the Lord by the power of his Spirit is meant to lead the sick person to healing of the soul, but also of the body if such is God's will. Furthermore, "if he has committed sins, he will be forgiven."

1521

Kết hợp với cuộc khổ nạn của Đức Kitô. Nhờ ân sủng của bí tích này, bệnh nhân lãnh nhận sức mạnh và hồng ân để kết hợp chặt chẽ hơn với cuộc khổ nạn của Đức Kitô: một cách nào đó họ được thánh hiến để mang lại hoa trái nhờ đồng hình đồng dạng với cuộc khổ nạn sinh ơn cứu chuộc của Đấng cứu độ. Đau khổ, vốn là hậu quả của tội nguyên tổ, nay mang một ý nghĩa mới: đó là dự phần vào công trình cứu độ của Chúa Giêsu.

Union with the passion of Christ. By the grace of this sacrament the sick person receives the strength and the gift of uniting himself more closely to Christ's Passion: in a certain way he is consecrated to bear fruit by configuration to the Savior's redemptive Passion. Suffering, a consequence of original sin, acquires a new meaning; it becomes a participation in the saving work of Jesus.

1522

Ân sủng có chiều kích Hội Thánh. Các tín hữu lãnh nhận bí tích này, “nhờ sẵn sàng kết hợp với sự đau khổ và cái chết của Đức Kitô”, góp phần “mưu ích cho dân Thiên Chúa.” Khi cử hành bí tích này trong mầu nhiệm các Thánh thông công, Hội Thánh cầu nguyện cho bệnh nhân; bệnh nhân, đến lượt mình, nhờ ân sủng của bí tích này, góp phần vào sự thánh hóa Hội Thánh và mưu ích cho mọi người, vì tất cả những người đó mà Hội Thánh chịu đau khổ và tự hiến cho Chúa Cha nhờ Đức Kitô.

An ecclesial grace. the sick who receive this sacrament, "by freely uniting themselves to the passion and death of Christ," "contribute to the good of the People of God." By celebrating this sacrament the Church, in the communion of saints, intercedes for the benefit of the sick person, and he, for his part, though the grace of this sacrament, contributes to the sanctification of the Church and to the good of all men for whom the Church suffers and offers herself through Christ to God the Father.

1523

Chuẩn bị cho cuộc vượt qua cuối cùng. Nếu bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân được ban cho những người đang chịu bệnh tật và đau yếu nặng, thì càng thích hợp hơn cho những người “sắp lìa đời”, nên nó cũng được gọi là “bí tích của những người ra đi” (sacramentum exeuntium). Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân hoàn tất việc làm cho chúng ta nên đồng hình đồng dạng với cái Chết và sự Sống lại của Đức Kitô, cũng như bí tích Rửa Tội đã khởi sự điều đó. Bí tích này hoàn tất các lần xức dầu thánh ghi dấu suốt cuộc đời Kitô hữu; việc xức dầu của bí tích Rửa Tội đã đóng ấn cuộc sống mới trong chúng ta; việc xức dầu của bí tích Thêm Sức tăng sức mạnh cho chúng ta để chiến đấu trong cuộc sống này. Việc xức dầu lần cuối này gìn giữ lúc kết thúc cuộc đời chúng ta bằng sự che chở vững vàng trong những trận chiến cuối cùng trước khi tiến vào Nhà Cha.

A preparation for the final journey. If the sacrament of anointing of the sick is given to all who suffer from serious illness and infirmity, even more rightly is it given to those at the point of departing this life; so it is also called sacramentum exeuntium (the sacrament of those departing). The Anointing of the Sick completes our conformity to the death and Resurrection of Christ, just as Baptism began it. It completes the holy anointings that mark the whole Christian life: that of Baptism which sealed the new life in us, and that of Confirmation which strengthened us for the combat of this life. This last anointing fortifies the end of our earthly life like a solid rampart for the final struggles before entering the Father's house.

1524

Đối với những người sắp lìa đời, ngoài bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, Hội Thánh còn ban bí tích Thánh Thể làm Của ăn đàng. Việc lãnh nhận Mình và Máu Đức Kitô, vào lúc sắp về với Chúa Cha, có một ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt. Đây là hạt giống của đời sống vĩnh cửu và là sức mạnh của sự phục sinh, theo lời Chúa nói: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54). Bí tích Thánh Thể, là bí tích của Đức Kitô đã chết và đã sống lại, giờ đây là bí tích của việc chuyển từ cõi chết đi vào cõi sống, từ trần gian này về với Chúa Cha.

In addition to the Anointing of the Sick, the Church offers those who are about to leave this life the Eucharist as viaticum. Communion in the body and blood of Christ, received at this moment of "passing over" to the Father, has a particular significance and importance. It is the seed of eternal life and the power of resurrection, according to the words of the Lord: "He who eats my flesh and drinks my blood has eternal life, and I will raise him up at the last day." The sacrament of Christ once dead and now risen, the Eucharist is here the sacrament of passing over from death to life, from this world to the Father.

1525

Cũng như các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể hợp thành một thể thống nhất được gọi là “các bí tích khai tâm Kitô Giáo”, người ta có thể nói các bí tích Thống Hối, Xức Dầu Bệnh Nhân và Thánh Thể như Của ăn đàng, vào lúc cuối đời Kitô hữu, hợp thành “các bí tích chuẩn bị về Quê trời” hay là các bí tích hoàn tất cuộc lữ hành trần thế.

Thus, just as the sacraments of Baptism, Confirmation, and the Eucharist form a unity called "the sacraments of Christian initiation," so too it can be said that Penance, the Anointing of the Sick and the Eucharist as viaticum constitute at the end of Christian life "the sacraments that prepare for our heavenly homeland" or the sacraments that complete the earthly pilgrimage.

1526

“Ai trong anh em đau yếu ư? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến, họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha” (Gc 5,14-15).

"Is any among you sick? Let him call for the presbyters of the Church, and let them pray over him, anointing him with oil in the name of the Lord; and the prayer of faith will save the sick man, and the Lord will raise him up; and if he has committed sins, he will be forgiven" (Jas 5:14-15).

1527

Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân có mục đích ban ân sủng đặc biệt cho tín hữu đang bị thử thách vì những khó khăn do tình trạng bệnh nặng hay tuổi già sức yếu.

The sacrament of Anointing of the Sick has as its purpose the conferral of a special grace on the Christian experiencing the difficulties inherent in the condition of grave illness or old age.

1528

Thời gian thích hợp để lãnh nhận bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân là khi tín hữu bắt đầu lâm cơn nguy tử vì bệnh tật hay già yếu.

The proper time for receiving this holy anointing has certainly arrived when the believer begins to be in danger of death because of illness or old age.

1529

Mỗi khi lâm trọng bệnh, Kitô hữu có thể lãnh nhận bí tích Xức Dầu, và khi bệnh tình trở nên nguy kịch, có thể nhận lại bí tích này.

Each time a Christian falls seriously ill, he may receive the Anointing of the Sick, and also when, after he has received it, the illness worsens.

1530

Chỉ các tư tế (linh mục và Giám mục) mới có thể ban bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Để trao ban, các ngài sử dụng dầu do Giám mục làm phép, hay trong trường hợp khẩn cấp, do chính linh mục đang cử hành làm phép.

Only priests (presbyters and bishops) can give the sacrament of the Anointing of the Sick, using oil blessed by the bishop, or if necessary by the celebrating presbyter himself.

1531

Nghi thức chính yếu của bí tích này gồm việc xức dầu trên trán và hai tay của bệnh nhân (theo nghi lễ Rôma) hoặc trên các phần thân thể khác (theo nghi lễ Đông phương), việc xức dầu có kèm theo lời cầu nguyện phụng vụ của tư tế cử hành, cầu xin ân sủng đặc biệt của bí tích này.

The celebration of the Anointing of the Sick consists essentially in the anointing of the forehead and hands of the sick person (in the Roman Rite) or of other parts of the body (in the Eastern rite), the anointing being accompanied by the liturgical prayer of the celebrant asking for the special grace of this sacrament.

1532

Ân sủng đặc biệt của bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân có những hiệu quả như sau: — giúp bệnh nhân được kết hợp với cuộc khổ nạn của Đức Kitô, để mưu ích cho bản thân và cho toàn thể Hội Thánh; — mang lại cho bệnh nhân sự an ủi, bình an và lòng can đảm, để chịu đựng theo tinh thần Kitô Giáo những đau khổ do bệnh tật hay tuổi già; — ban ơn tha tội, nếu bệnh nhân không thể xưng tội được; — đem lại sự hồi phục sức khỏe, nếu điều đó hữu ích cho ơn cứu độ thiêng liêng; — chuẩn bị để bước vào đời sống vĩnh cửu.

The special grace of the sacrament of the Anointing of the Sick has as its effects: - the uniting of the sick person to the passion of Christ, for his own good and that of the whole Church; - the strengthening, peace, and courage to endure in a Christian manner the sufferings of illness or old age; - the forgiveness of sins, if the sick person was not able to obtain it through the sacrament of Penance; - the restoration of health, if it is conducive to the salvation of his soul; - the preparation for passing over to eternal life.