Hỏi Đáp Công Giáo
Cử Hành Mầu Nhiệm Kitô Giáo · Bảy bí tích của Hội Thánh · Những cử hành phụng vụ khác
MỤC 2

An táng theo nghi thức Kitô Giáo

Số 1680–1690
1680

Tất cả các bí tích, nhất là các bí tích khai tâm Kitô Giáo, đều hướng tới mục tiêu là cuộc Vượt Qua cuối cùng của con cái Thiên Chúa; cuộc Vượt Qua này, nhờ cái chết, dẫn đưa họ vào cuộc sống trong Nước Trời. Lúc đó sẽ hoàn tất điều họ tuyên xưng trong đức tin và niềm hy vọng: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại, và sự sống đời sau.”

All the sacraments, and principally those of Christian initiation, have as their goal the last Passover of the child of God which, through death, leads him into the life of the Kingdom. Then what he confessed in faith and hope will be fulfilled: "I look for the resurrection of the dead, and the life of the world to come."

1681

Ý nghĩa cái chết trong Kitô Giáo được mặc khải dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua là sự Chết và sự Sống lại của Đức Kitô, niềm hy vọng duy nhất của chúng ta. Kitô hữu chết trong Đức Kitô Giêsu, là lìa bỏ thân xác này để được ở bên Chúa.

The Christian meaning of death is revealed in the light of the Paschal mystery of the death and resurrection of Christ in whom resides our only hope. the Christian who dies in Christ Jesus is "away from the body and at home with the Lord."

1682

Đối với Kitô hữu, ngày chết, lúc kết thúc đời sống bí tích của họ, là lúc bắt đầu hoàn tất cuộc tái sinh vốn đã khởi sự trong bí tích Rửa Tội, là lúc bắt đầu vĩnh viễn nên “giống hình ảnh Chúa Con” vốn đã được ban cho họ nhờ việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, và là lúc bắt đầu được tham dự bàn tiệc Nước Trời, vốn đã được tham dự trước trong bí tích Thánh Thể, mặc dù họ còn cần đến những thanh luyện cuối cùng để được mặc áo cưới.

For the Christian the day of death inaugurates, at the end of his sacramental life, the fulfillment of his new birth begun at Baptism, the definitive "conformity" to "the image of the Son" conferred by the anointing of the Holy Spirit, and participation in the feast of the Kingdom which was anticipated in the Eucharist - even if final purifications are still necessary for him in order to be clothed with the nuptial garment.

1683

Hội Thánh, như một người Mẹ, đã mang Kitô hữu trong lòng mình một cách bí tích trong suốt cuộc lữ thứ trần gian của họ, nay đồng hành với họ đến cuối đường để trao họ “vào tay Chúa Cha.” Trong Đức Kitô, Hội Thánh dâng lên Chúa Cha đứa con của ân sủng của Ngài, và trong niềm hy vọng, gửi vào lòng đất hạt giống thân xác sẽ sống lại trong vinh quang. Sự hiến dâng này được cử hành đầy đủ trong Hy lễ Thánh Thể; những lời chúc lành trước hoặc sau Thánh lễ là những á bí tích.

The Church who, as Mother, has borne the Christian sacramentally in her womb during his earthly pilgrimage, accompanies him at his journey's end, in order to surrender him "into the Father's hands." She offers to the Father, in Christ, the child of his grace, and she commits to the earth, in hope, the seed of the body that will rise in glory. This offering is fully celebrated in the Eucharistic sacrifice; the blessings before and after Mass are sacramentals.

1684

Lễ nghi an táng theo Kitô Giáo là một cử hành phụng vụ của Hội Thánh. Qua đó, thừa tác vụ Hội Thánh vừa muốn diễn tả sự hiệp thông hữu hiệu với người đã qua đời, vừa giúp cộng đoàn có mặt trong lễ an táng tham dự sự hiệp thông này và loan báo cho họ về đời sống vĩnh cửu.

The Christian funeral confers on the deceased neither a sacrament nor a sacramental since he has "passed" beyond the sacramental economy. It is nonetheless a liturgical celebration of the Church. The ministry of the Church aims at expressing efficacious communion with the deceased, at the participation in that communion of the community gathered for the funeral and at the proclamation of eternal life to the community.

1685

Các nghi thức khác nhau của lễ an táng diễn tả đặc tính Vượt Qua của cái chết theo Kitô Giáo và đáp ứng những hoàn cảnh và truyền thống của từng miền, cả trong vấn đề màu sắc phụng vụ.

The different funeral rites express the Paschal character of Christian death and are in keeping with the situations and traditions of each region, even as to the color of the liturgical vestments worn.

1686

Sách Nghi Thức An Táng (Ordo exsequiarum) của phụng vụ Rôma trình bày ba mẫu cử hành, tương ứng với ba nơi diễn ra các nghi thức (tại nhà tang, tại nhà thờ và tại nghĩa trang), và theo tầm quan trọng mà gia đình, các phong tục địa phương, văn hóa và lòng đạo đức bình dân, dành cho các nơi đó. Tuy nhiên, thứ tự việc cử hành là chung cho mọi truyền thống phụng vụ, và gồm bốn giai đoạn chính:

The Order of Christian Funerals (Ordo exsequiarum) of the Roman liturgy gives three types of funeral celebrations, corresponding to the three places in which they are conducted (the home, the church, and the cemetery), and according to the importance attached to them by the family, local customs, the culture, and popular piety. This order of celebration is common to all the liturgical traditions and comprises four principal elements:

1687

Đón tiếp cộng đoàn. Một lời chào trong đức tin mở đầu cuộc cử hành. Các thân nhân người quá cố được đón nhận bằng một lời “an ủi” (theo nghĩa của Tân Ước: Sức mạnh của Chúa Thánh Thần trong niềm hy vọng ). Cộng đoàn cầu nguyện được quy tụ, cũng đang mong đợi “những lời đem lại sự sống đời đời.” Cái chết của một thành viên trong cộng đoàn (hay ngày giáp năm, giỗ bảy ngày, giỗ ba mươi ngày) phải là một dịp khiến người ta vượt quá những viễn cảnh của “thế gian này” và các tín hữu được lôi cuốn đến những viễn cảnh chân thật của đức tin vào Đức Kitô Phục Sinh.

The greeting of the community. A greeting of faith begins the celebration. Relatives and friends of the deceased are welcomed with a word of "consolation" (in the New Testament sense of the Holy Spirit's power in hope). The community assembling in prayer also awaits the "words of eternal life." the death of a member of the community (or the anniversary of a death, or the seventh or fortieth day after death) is an event that should lead beyond the perspectives of "this world" and should draw the faithful into the true perspective of faith in the risen Christ.

1688

Phụng vụ Lời Chúa trong nghi thức an táng cần được chuẩn bị chu đáo, vì cộng đoàn hiện diện có thể gồm những tín hữu ít khi tham dự phụng vụ, và những thân hữu của người quá cố không phải là Kitô hữu. Đặc biệt, bài giảng không được theo hình thức điếu văn và phải làm sáng tỏ mầu nhiệm cái chết theo Kitô Giáo bằng ánh sáng của Đức Kitô phục sinh.

The liturgy of the Word during funerals demands very careful preparation because the assembly present for the funeral may include some faithful who rarely attend the liturgy, and friends of the deceased who are not Christians. the homily in particular must "avoid the literary genre of funeral eulogy" and illumine the mystery of Christian death in the light of the risen Christ.

1689

Hy lễ Thánh Thể. Khi nghi thức an táng cử hành trong nhà thờ, bí tích Thánh Thể là tâm điểm của thực tại Vượt Qua của cái chết theo Kitô Giáo. Lúc đó, Hội Thánh bày tỏ sự hiệp thông hữu hiệu của mình với người quá cố: khi dâng lên Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần, hy lễ là cái Chết và sự Sống lại của Đức Kitô, Hội Thánh khẩn cầu cho người con của mình được thanh luyện khỏi mọi tội lỗi và các hậu quả của tội, và được đón nhận vào sự viên mãn của cuộc Vượt Qua nơi bàn tiệc Nước Trời. Nhờ bí tích Thánh Thể được cử hành như vậy, cộng đoàn tín hữu, đặc biệt là gia đình người quá cố, học sống hiệp thông với người “đã an nghỉ trong Chúa”, bằng việc hiệp thông với thân thể của Đức Kitô mà người quá cố là một chi thể sống động, rồi bằng việc cầu nguyện cho người ấy và với người ấy.

The Eucharistic Sacrifice. When the celebration takes place in church the Eucharist is the heart of the Paschal reality of Christian death. In the Eucharist, the Church expresses her efficacious communion with the departed: offering to the Father in the Holy Spirit the sacrifice of the death and resurrection of Christ, she asks to purify his child of his sins and their consequences, and to admit him to the Paschal fullness of the table of the Kingdom. It is by the Eucharist thus celebrated that the community of the faithful, especially the family of the deceased, learn to live in communion with the one who "has fallen asleep in the Lord," by communicating in the Body of Christ of which he is a living member and, then, by praying for him and with him.

1690

Nghi thức từ biệt người quá cố lần cuối cùng (trong một số ngôn ngữ gốc la tinh, “adieu”, “addio”, “adiĩs” = ad Deum, nghĩa là “đến với Thiên Chúa”) là lời Hội Thánh “phó dâng người này cho Chúa.” “Cộng đoàn Kitô hữu chào từ biệt lần cuối cùng một chi thể của mình, trước khi xác người đó được mai táng.” Truyền thống Byzantin diễn tả ý nghĩa này bằng cái hôn từ biệt người quá cố: “Với lời chào cuối cùng này, chúng ta hát tiễn người ra đi khỏi cuộc đời này và lìa xa chúng ta, nhưng đây cũng là cuộc hiệp thông và đoàn tụ, vì dầu phải chết, chúng ta cũng không bao giờ phải chia lìa nhau; quả thật, tất cả chúng ta đang đi cùng một đường và sẽ gặp lại nhau ở cùng một nơi. Chúng ta sẽ không bao giờ bị chia lìa, vì chúng ta đang sống cho Đức Kitô và giờ đây chúng ta đang được kết hợp với Người, đang đi đến với Người... Tất cả các tín hữu chúng ta sẽ được cùng nhau ở với Đức Kitô.”

A farewell to the deceased is his final "commendation to God" by the Church. It is "the last farewell by which the Christian community greets one of its members before his body is brought to its tomb." The Byzantine tradition expresses this by the kiss of farewell to the deceased: