Hỏi Đáp Công Giáo
Đời Sống Trong Đức Kitô · Ơn gọi của con người: sống trong thần khí · Phẩm giá của nhân vị
MỤC 1

Con người là hình ảnh của Thiên Chúa

Số 1691–1715
1691

“Hỡi Kitô hữu, hãy ý thức phẩm giá của bạn, và đã được thông phần bản tính thần linh, bạn đừng quay trở lại với sự thấp hèn trước kia. Bạn hãy nhớ bạn thuộc về Đầu nào và là chi thể của ai. Bạn hãy nhớ rằng bạn đã được giải thoát khỏi quyền lực tối tăm và được đưa vào ánh sáng và Nước của Thiên Chúa.”1

"Christian, recognize your dignity and, now that you share in God's own nature, do not return to your former base condition by sinning. Remember who is your head and of whose body you are a member. Never forget that you have been rescued from the power of darkness and brought into the light of the Kingdom of God."

1692

Tín biểu tuyên xưng sự cao cả của các hồng ân Thiên Chúa đã rộng ban cho loài người trong công trình tạo dựng của Ngài và hơn nữa nhờ ơn cứu chuộc và thánh hóa. Điều đức tin tuyên xưng, được các bí tích truyền thông: nhờ các bí tích tái sinh, các Kitô hữu trở nên “con Thiên Chúa” (1 Ga 3,1),2 “được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4). Khi nhận biết phẩm giá mới của mình nhờ đức tin, các Kitô hữu được kêu gọi để từ nay ăn ở cho xứng với Tin Mừng của Đức Kitô.3 Nhờ các bí tích và kinh nguyện, họ nhận được ân sủng của Đức Kitô và các hồng ân của Thần Khí của Người, làm cho họ có khả năng thực hiện điều đó.

The Symbol of the faith confesses the greatness of God's gifts to man in his work of creation, and even more in redemption and sanctification. What faith confesses, the sacraments communicate: by the sacraments of rebirth, Christians have become "children of God," "partakers of the divine nature." Coming to see in the faith their new dignity, Christians are called to lead henceforth a life "worthy of the gospel of Christ." They are made capable of doing so by the grace of Christ and the gifts of his Spirit, which they receive through the sacraments and through prayer.

1693

Đức Kitô Giêsu luôn làm điều đẹp lòng Chúa Cha.4 Người luôn sống trong sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha. Cũng một cách đó, các môn đệ của Người được mời gọi sống trước tôn nhan Chúa Cha, “Đấng thấu suốt những gì kín đáo” (Mt 6,6), để trở nên “hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).

Christ Jesus always did what was pleasing to the Father, and always lived in perfect communion with him. Likewise Christ's disciples are invited to live in the sight of the Father "who sees in secret," in order to become "perfect as your heavenly Father is perfect."

1694

Được tháp nhập vào Đức Kitô5 nhờ Phép Rửa, các Kitô hữu đã chết cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu,6 và như vậy, họ được tham dự vào sự sống của Đấng Phục Sinh.7 Khi bước theo Đức Kitô và kết hợp với Người,8 các Kitô hữu có thể cố gắng bắt chước Thiên Chúa, như những người con rất yêu dấu và bước đi trong tình yêu,9 bằng việc uốn nắn các ý nghĩ, lời nói và hành động của mình, sao cho họ có nơi mình tâm tư như đã có trong Đức Kitô Giêsu10 và sống theo gương Người.11

Incorporated into Christ by Baptism, Christians are "dead to sin and alive to God in Christ Jesus" and so participate in the life of the Risen Lord. Following Christ and united with him, Christians can strive to be "imitators of God as beloved children, and walk in love" by conforming their thoughts, words and actions to the "mind . . . which is yours in Christ Jesus," and by following his example.

1695

Các Kitô hữu, “được nên công chính nhờ danh Chúa Giêsu Kitô và nhờ Thần Khí của Thiên Chúa chúng ta” (1 Cr 6,11), được thánh hóa và được gọi là thánh,12 họ trở thành “đền thờ của Chúa Thánh Thần” (1 Cr 6,19). Chính “Thần Khí của Chúa Con” dạy họ cầu nguyện với Chúa Cha,13 và khi đã trở nên sự sống của họ, Ngài thúc đẩy họ hành động,14 để mang lại hoa trái của Thần Khí,15 nhờ thực hiện đức mến. Khi chữa lành các vết thương của tội lỗi, Chúa Thánh Thần canh tân nội tâm chúng ta bằng sự biến đổi thiêng liêng,16 Ngài soi sáng chúng ta và củng cố để với tư cách là “con cái ánh sáng” (Ep 5,8), chúng ta sống “lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5,9).

"Justified in the name of the Lord Jesus Christ and in the Spirit of our God," "sanctified . . . (and) called to be saints," Christians have become the temple of the Holy Spirit. This "Spirit of the Son" teaches them to pray to the Father and, having become their life, prompts them to act so as to bear "the fruit of the Spirit" by charity in action. Healing the wounds of sin, the Holy Spirit renews us interiorly through a spiritual transformation. He enlightens and strengthens us to live as "children of light" through "all that is good and right and true."

1696

Con đường của Đức Kitô “đưa đến sự sống” (Mt 7,14), còn con đường đối nghịch “đưa đến diệt vong” (Mt 7,13).17 Dụ ngôn Tin Mừng về hai con đường luôn hiện diện trong việc dạy giáo lý của Hội Thánh. Nó cho thấy tầm quan trọng của các quyết định luân lý đối với ơn cứu độ của chúng ta. “Có hai con đường, một dẫn đến sự sống, một dẫn đến sự chết: hai bên khác nhau một trời một vực.”18

The way of Christ "leads to life"; a contrary way "leads to destruction." The Gospel parable of the two ways remains ever present in the catechesis of the Church; it shows the importance of moral decisions for our salvation: "There are two ways, the one of life, the other of death; but between the two, there is a great difference."

1697

Trong việc dạy giáo lý, phải trình bày hết sức rõ ràng niềm vui và những đòi hỏi của con đường của Đức Kitô.19 Việc dạy giáo lý về “đời sống mới” (Rm 6,4) trong Người sẽ là: — Dạy giáo lý về Chúa Thánh Thần, vị Thầy nội tâm của đời sống theo Đức Kitô, người khách trọ dịu hiền và người bạn linh hứng, hướng dẫn, sửa chữa và củng cố đời sống này; — Dạy giáo lý về ân sủng, bởi vì nhờ ân sủng mà chúng ta được cứu độ, và cũng nhờ ân sủng mà các công việc của chúng ta có thể mang lại hoa trái cho sự sống muôn đời; — Dạy giáo lý về các mối phúc, bởi vì con đường của Đức Kitô được tóm kết trong các mối phúc, là con đường duy nhất dẫn đến vinh phúc muôn đời mà trái tim con người hằng khao khát; — Dạy giáo lý về tội lỗi và ơn tha thứ, bởi vì con người, nếu không nhận biết mình là tội nhân, thì không thể nhận ra chân lý về bản thân mình, chân lý này là điều kiện để hành động đúng đắn, và, nếu ơn tha thứ không được ban cho họ, họ không thể chịu đựng nổi chân lý này; — Dạy giáo lý về các nhân đức nhân bản, giúp chúng ta nhận ra vẻ đẹp và sự lôi cuốn của những thái độ chân chính hướng về điều thiện; — Dạy giáo lý về các nhân đức Kitô Giáo: tin, cậy, mến, được gợi hứng rất nhiều từ mẫu gương của các Thánh; — Dạy giáo lý về giới răn mến Chúa yêu người được triển khai trong Mười Điều Răn; — Dạy giáo lý về Hội Thánh, bởi vì đời sống Kitô hữu chỉ có thể tăng trưởng, được quảng bá và được lưu truyền nhờ sự trao đổi đa dạng “các lợi ích thiêng liêng” trong mầu nhiệm “các Thánh thông công.”

Catechesis has to reveal in all clarity the joy and the demands of the way of Christ. Catechesis for the "newness of life" in him should be: -a catechesis of the Holy Spirit, the interior Master of life according to Christ, a gentle guest and friend who inspires, guides, corrects, and strengthens this life; -a catechesis of grace, for it is by grace that we are saved and again it is by grace that our works can bear fruit for eternal life; -a catechesis of the beatitudes, for the way of Christ is summed up in the beatitudes, the only path that leads to the eternal beatitude for which the human heart longs; -a catechesis of sin and forgiveness, for unless man acknowledges that he is a sinner he cannot know the truth about himself, which is a condition for acting justly; and without the offer of forgiveness he would not be able to bear this truth; -a catechesis of the human virtues which causes one to grasp the beauty and attraction of right dispositions towards goodness; -a catechesis of the Christian virtues of faith, hope, and charity, generously inspired by the example of the saints; -a catechesis of the twofold commandment of charity set forth in the Decalogue; -an ecclesial catechesis, for it is through the manifold exchanges of "spiritual goods" in the "communion of saints" that Christian life can grow, develop, and be communicated.

1698

Điểm quy chiếu đầu tiên và tối thượng của việc dạy giáo lý như vậy sẽ luôn luôn là chính Chúa Giêsu Kitô, Đấng là “con đường, là sự thật, và là sự sống” (Ga 14,6). Khi nhìn ngắm Người bằng đức tin, các Kitô hữu có thể hy vọng chính Người sẽ thực hiện nơi họ những điều Người đã hứa, và khi yêu mến Người bằng tình yêu mà Người đã yêu mến họ, họ có thể thực hiện được những việc phù hợp với phẩm giá của mình: “Tôi xin bạn hãy coi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Đầu thật của bạn và bạn là một trong các chi thể của Người... Người đối với bạn cũng như đầu đối với các chi thể; mọi sự của Người, là của bạn: tinh thần, trái tim, thân thể, linh hồn và mọi khả năng của Người,... bạn phải sử dụng tất cả như của riêng bạn để phục vụ, ca ngợi, yêu mến và tôn vinh Thiên Chúa. Nhưng bạn thuộc về Người, như chi thể thuộc về đầu, vì vậy, Người hết sức khao khát sử dụng tất cả các tài năng của bạn, như là của Người, để phục vụ và tôn vinh Cha Người.”20 “Đối với tôi, sống là Đức Kitô” (Pl 1,21).

The first and last point of reference of this catechesis will always be Jesus Christ himself, who is "the way, and the truth, and the life." It is by looking to him in faith that Christ's faithful can hope that he himself fulfills his promises in them, and that, by loving him with the same love with which he has loved them, they may perform works in keeping with their dignity:

1699

Đời sống trong Thần Khí hoàn thành ơn gọi của con người (Chương Một). Đời sống này cốt tại đức mến thần linh và sự liên đới nhân loại (Chương Hai). Đời sống này được trao ban cách nhưng không như ơn cứu độ (Chương Ba).

Life in the Holy Spirit fulfills the vocation of man (chapter one). This life is made up of divine charity and human solidarity (chapter two). It is graciously offered as salvation (chapter three).

1700

Phẩm giá của nhân vị bắt nguồn từ việc con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa (Mục 1); phẩm giá này được hoàn thành trong ơn gọi đến hưởng vinh phúc thần linh (Mục 2). Trách nhiệm của con người là tự nguyện hướng tới sự hoàn thành đó (Mục 3). Bằng những hành vi có ý thức của mình (Mục 4), nhân vị sống phù hợp hay không phù hợp với điều thiện hảo mà Thiên Chúa đã hứa và lương tâm chứng nhận (Mục 5). Người ta tự xây dựng bản thân mình và tăng trưởng nội tâm: họ sử dụng toàn bộ đời sống cảm giác và tinh thần của họ làm chất liệu cho sự tăng trưởng của mình (Mục 6). Nhờ ân sủng trợ giúp, họ tăng trưởng về nhân đức (Mục 7), xa lánh tội lỗi, và nếu đã phạm tội, họ sẽ như đứa con hoang đàng, phó thác cho lòng thương xót của Cha chúng ta trên trời (Mục 8). Như vậy, con người đạt tới sự trọn hảo của đức mến.

The dignity of the human person is rooted in his creation in the image and likeness of God (article 1); it is fulfilled in his vocation to divine beatitude (article 2). It is essential to a human being freely to direct himself to this fulfillment (article 3). By his deliberate actions (article 4), the human person does, or does not, conform to the good promised by God and attested by moral conscience (article 5). Human beings make their own contribution to their interior growth; they make their whole sentient and spiritual lives into means of this growth (article 6). With the help of grace they grow in virtue (article 7), avoid sin, and if they sin they entrust themselves as did the prodigal son to the mercy of our Father in heaven (article 8). In this way they attain to the perfection of charity.

1701

“Đức Kitô,... chính khi mặc khải về mầu nhiệm của Chúa Cha và về tình yêu của Ngài, đã biểu lộ cho con người cách rất đầy đủ về chính họ và cho họ thấy ơn gọi rất cao cả của họ.” Trong Đức Kitô, “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), con người được tạo dựng “theo hình ảnh và giống như” Đấng Tạo Hóa. Trong Đức Kitô, Đấng Cứu chuộc và Cứu độ, hình ảnh thần linh, đã bị biến dạng nơi con người vì nguyên tội, nay được phục hồi trong vẻ đẹp nguyên thủy của nó và còn được nên cao trọng nhờ ân sủng của Thiên Chúa.

"Christ, . . . in the very revelation of the mystery of the Father and of his love, makes man fully manifest to himself and brings to light his exalted vocation." It is in Christ, "the image of the invisible God," that man has been created "in the image and likeness" of the Creator. It is in Christ, Redeemer and Savior, that the divine image, disfigured in man by the first sin, has been restored to its original beauty and ennobled by the grace of God.

1702

Hình ảnh thần linh hiện diện trong từng con người. Hình ảnh đó rực sáng trong sự hiệp thông của các nhân vị, giống như sự duy nhất giữa các Ngôi Vị thần linh với nhau (x. Chương Hai).

The divine image is present in every man. It shines forth in the communion of persons, in the likeness of the union of the divine persons among themselves (cf chapter two).

1703

Được phú ban một linh hồn thiêng liêng và bất tử, nhân vị là “thụ tạo duy nhất nơi trần thế mà Thiên Chúa đã muốn vì chính nó.” Ngay từ lúc tượng thai của mình, nhân vị được định hướng tới vinh phúc vĩnh cửu.

Endowed with "a spiritual and immortal" soul, The human person is "the only creature on earth that God has willed for its own sake." From his conception, he is destined for eternal beatitude.

1704

Nhân vị được tham dự vào ánh sáng và sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa. Nhờ lý trí, nó có khả năng để hiểu biết trật tự muôn loài do Đấng Tạo hóa thiết lập. Nhờ ý chí, nó có khả năng để hướng mình tới điều thiện hảo thật của mình. Nó theo đuổi sự trọn hảo của mình bằng cách tìm kiếm và yêu mến những điều thiện hảo đích thực.

The human person participates in the light and power of the divine Spirit. By his reason, he is capable of understanding the order of things established by the Creator. By free will, he is capable of directing himself toward his true good. He finds his perfection "in seeking and loving what is true and good."

1705

Vì có linh hồn và các tài năng tinh thần là lý trí và ý chí, con người được phú ban sự tự do, là “dấu chỉ tuyệt hảo của hình ảnh thần linh.”

By virtue of his soul and his spiritual powers of intellect and will, man is endowed with freedom, an "outstanding manifestation of the divine image."

1706

Nhờ lý trí, con người nhận ra tiếng Thiên Chúa thúc đẩy mình “làm điều tốt và tránh điều xấu.” Mỗi người phải vâng theo lề luật này, một lề luật đang vang vọng trong lương tâm, một lề luật được chu toàn trong sự mến Chúa yêu người. Việc thực thi đời sống luân lý chứng tỏ phẩm giá của nhân vị.

By his reason, man recognizes the voice of God which urges him "to do what is good and avoid what is evil." Everyone is obliged to follow this law, which makes itself heard in conscience and is fulfilled in the love of God and of neighbor. Living a moral life bears witness to the dignity of the person.

1707

“Tuy nhiên, ngay từ lúc khởi đầu lịch sử, con người bị thần Dữ cám dỗ, nên đã lạm dụng tự do của mình.” Họ sa chước cám dỗ và làm điều xấu. Con người vẫn còn khát khao điều tốt, nhưng bản tính con người đã mang vết thương của nguyên tội. Con người trở thành bị nghiêng chiều về điều xấu và dễ bị sai lầm: “Con người đã bị chia rẽ trong chính bản thân mình. Vì vậy, toàn bộ đời sống con người, cả cá nhân cả tập thể, đều biểu hiện như một cuộc chiến bi thảm, giữa điều tốt và điều xấu, giữa ánh sáng và tối tăm.”

"Man, enticed by the Evil One, abused his freedom at the very beginning of history." He succumbed to temptation and did what was evil. He still desires the good, but his nature bears the wound of original sin. He is now inclined to evil and subject to error: Man is divided in himself. As a result, the whole life of men, both individual and social, shows itself to be a struggle, and a dramatic one, between good and evil, between light and darkness.

1708

Bằng cuộc khổ nạn của Người, Đức Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi Xatan và tội lỗi. Người lập công cho chúng ta có sự sống mới trong Chúa Thánh Thần. Ân sủng của Người phục hồi những gì tội lỗi đã làm hư hỏng nơi chúng ta.

By his Passion, Christ delivered us from Satan and from sin. He merited for us the new life in the Holy Spirit. His grace restores what sin had damaged in us.

1709

Ai tin vào Đức Kitô thì trở nên con cái Thiên Chúa. Ơn được làm nghĩa tử này biến đổi người ấy, giúp họ sống theo mẫu gương Đức Kitô. Ơn này ban cho họ khả năng hành động đúng đắn và thực thi điều tốt. Được kết hợp với Đấng Cứu độ của mình, người môn đệ đạt tới sự trọn hảo của đức mến, là sự thánh thiện. Được hoàn thiện trong ân sủng, đời sống luân lý sẽ được triển nở thành sự sống vĩnh cửu trong vinh quang trên trời.

He who believes in Christ becomes a son of God. This filial adoption transforms him by giving him the ability to follow the example of Christ. It makes him capable of acting rightly and doing good. In union with his Savior, the disciple attains the perfection of charity which is holiness. Having matured in grace, the moral life blossoms into eternal life in the glory of heaven.

1710

“Đức Kitô... đã biểu lộ cho con người cách rất đầy đủ về chính họ và cho họ thấy ơn gọi rất cao cả của họ.”

"Christ . . . makes man fully manifest to man himself and brings to light his exalted vocation" (GS 22 # 1).

1711

Được phú ban một linh hồn thiêng liêng, lý trí và ý chí, ngay từ lúc tượng thai, nhân vị đã được quy hướng về Thiên Chúa và được tiền định hướng tới vinh phúc muôn đời. Nó theo đuổi sự trọn hảo của mình bằng cách tìm kiếm và yêu mến những điều thiện hảo đích thực.

Endowed with a spiritual soul, with intellect and with free will, the human person is from his very conception ordered to God and destined for eternal beatitude. He pursues his perfection in "seeking and loving what is true and good" (GS 15 # 2).

1712

“Sự tự do đích thực là dấu chỉ tuyệt hảo của hình ảnh thần linh nơi con người.”

In man, true freedom is an "outstanding manifestation of the divine image" (GS 17).

1713

Con người phải vâng theo luật luân lý thúc đẩy họ “làm điều tốt và tránh điều xấu.” Luật này vang vọng trong lương tâm của họ.

Man is obliged to follow the moral law, which urges him "to do what is good and avoid what is evil" (cf GS 16). This law makes itself heard in his conscience.

1714

Con người, vì nguyên tội, đã bị tổn thương trong bản tính của mình, nên dễ bị sai lầm và nghiêng chiều về sự dữ khi sử dụng tự do của mình.

Man, having been wounded in his nature by original sin, is subject to error and inclined to evil in exercising his freedom.

1715

Ai tin vào Đức Kitô thì có sự sống mới trong Chúa Thánh Thần. Đời sống luân lý, được tăng trưởng và hoàn thiện trong ân sủng, sẽ được hoàn tất trong vinh quang trên trời.

He who believes in Christ has new life in the Holy Spirit. the moral life, increased and brought to maturity in grace, is to reach its fulfillment in the glory of heaven.