Tin Mừng là sự mặc khải, trong Chúa Giêsu Kitô, lòng thương xót của Thiên Chúa đối với các tội nhân. Thiên thần loan báo điều này cho ông Giuse: “Ông phải đặt tên con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Cũng chính điều đó được nói đến trong Thánh Thể, bí tích của Ơn cứu chuộc: “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).
The Gospel is the revelation in Jesus Christ of God's mercy to sinners. The angel announced to Joseph: "You shall call his name Jesus, for he will save his people from their sins." The same is true of the Eucharist, the sacrament of redemption: "This is my blood of the covenant, which is poured out for many for the forgiveness of sins."
Thiên Chúa, “Đấng... đã tạo dựng bạn không cần có bạn, không công chính hóa bạn nếu không có bạn.” Việc đón nhận lòng thương xót của Ngài đòi hỏi chúng ta phải thú nhận tội lỗi của chúng ta: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính, sẽ tha tội cho chúng ta và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính” (1 Ga 1,8-9).
"God created us without us: but he did not will to save us without us." To receive his mercy, we must admit our faults. "If we say we have no sin, we deceive ourselves, and the truth is not in us. If we confess our sins, he is faithful and just, and will forgive our sins and cleanse us from all unrighteousness."
Cũng như Thánh Phaolô quả quyết: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20). Nhưng để thực hiện công trình của mình, ân sủng phải vạch trần tội lỗi nhằm hối cải trái tim chúng ta và làm cho chúng ta “nên công chính để được sống đời đời, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 5,21). Cũng như thầy thuốc xem xét vết thương trước khi chữa lành nó, Thiên Chúa, nhờ Ngôi Lời của Ngài và Thần Khí của Ngài, chiếu ánh sáng sống động vào tội lỗi: “Sự hối cải đòi buộc phải xác tín về tội lỗi; nó bao hàm một phán đoán từ bên trong của lương tâm, và điều này là bằng chứng về sự hành động của Thần chân lý trong hữu thể thẳm sâu của con người, và đồng thời cũng là khởi điểm của việc ban tặng mới của ân sủng và tình yêu: “Hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần.” Như vậy, trong việc xác tín về tội lỗi, chúng ta nhận ra một hồng ân kép: hồng ân về chân lý của lương tâm và hồng ân về sự chắc chắn của ơn cứu chuộc. Thần chân lý là Đấng an ủi.”
As St. Paul affirms, "Where sin increased, grace abounded all the more." But to do its work grace must uncover sin so as to convert our hearts and bestow on us "righteousness to eternal life through Jesus Christ ourLord." Like a physician who probes the wound before treating it, God, by his Word and by his Spirit, casts a living light on sin:
Tội là một lỗi phạm đối nghịch với lý trí, chân lý, lương tâm ngay thẳng; tội là sự thiếu vắng tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và đối với người lân cận, vì sự quyến luyến lệch lạc với một số điều tốt đẹp nào đó. Tội làm tổn thương bản tính con người và vi phạm đến tình liên đới nhân loại. Tội được định nghĩa là “một hành vi, lời nói, hoặc ước muốn trái nghịch với Lề luật vĩnh cửu.”
Sin is an offense against reason, truth, and right conscience; it is failure in genuine love for God and neighbor caused by a perverse attachment to certain goods. It wounds the nature of man and injures human solidarity. It has been defined as "an utterance, a deed, or a desire contrary to the eternal law."
Tội là một sự xúc phạm đến Thiên Chúa: “Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài” (Tv 51,6). Tội chống lại tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta và đưa trái tim chúng ta lìa xa khỏi tình yêu đó. Cũng như tội đầu tiên, tội là một sự bất tuân, một sự nổi loạn chống Thiên Chúa vì ao ước muốn “sẽ nên như những vị thần biết điều thiện, điều ác” (St 3,5) để nhận biết và quyết định điều tốt và điều xấu. Như vậy, tội là “yêu mình đến mức khinh chê Thiên Chúa.” Vì sự tự tôn kiêu căng này, nên tội đối nghịch hẳn với sự tuân phục của Chúa Giêsu, sự tuân phục đó đã hoàn thành ơn cứu độ.
Sin is an offense against God: "Against you, you alone, have I sinned, and done that which is evil in your sight." Sin sets itself against God's love for us and turns our hearts away from it. Like the first sin, it is disobedience, a revolt against God through the will to become "like gods," knowing and determining good and evil. Sin is thus "love of oneself even to contempt of God." In this proud self-exaltation, sin is diametrically opposed to the obedience of Jesus, which achieves our salvation.
Chính trong cuộc khổ nạn, trong đó lòng thương xót của Đức Kitô sẽ chiến thắng tội lỗi, mà tội lỗi biểu lộ cách rõ nhất tính hung bạo và sự đa dạng của nó: sự cứng lòng tin, sự căm thù đến mức giết người, sự chối bỏ và nhạo báng của các thủ lãnh và của dân chúng, sự hèn nhát của quan Philatô, sự tàn bạo của binh lính, sự phản bội của ông Giuđa quá cay đắng cho Chúa Giêsu, việc chối bỏ của ông Phêrô và sự bỏ rơi của các môn đệ. Tuy nhiên, chính vào giờ của bóng tối và của Thủ lãnh thế gian này, cuộc hy tế của Đức Kitô đã âm thầm trở nên nguồn mạch, từ đó tuôn tràn cách không bao giờ cạn ơn tha thứ tội lỗi chúng ta.
It is precisely in the Passion, when the mercy of Christ is about to vanquish it, that sin most clearly manifests its violence and its many forms: unbelief, murderous hatred, shunning and mockery by the leaders and the people, Pilate's cowardice and the cruelty of the soldiers, Judas' betrayal - so bitter to Jesus, Peter's denial and the disciples' flight. However, at the very hour of darkness, the hour of the prince of this world, The sacrifice of Christ secretly becomes the source from which the forgiveness of our sins will pour forth inexhaustibly.
Tội lỗi rất đa dạng. Thánh Kinh đưa ra nhiều danh sách các tội lỗi. Thư gửi tín hữu Galata đối chiếu các công việc của xác thịt với hoa trái của Thần Khí: “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo: những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (Gl 5,19-21).
There are a great many kinds of sins. Scripture provides several lists of them. the Letter to the Galatians contrasts the works of the flesh with the fruit of the Spirit: "Now the works of the flesh are plain: fornication, impurity, licentiousness, idolatry, sorcery, enmity, strife, jealousy, anger, selfishness, dissension, factions, envy, drunkenness, carousing, and the like. I warn you, as I warned you before, that those who do such things shall not inherit the Kingdom of God."
Tội lỗi có thể được phân biệt theo đối tượng của chúng, cũng như đối với mọi hành vi nhân linh, hoặc theo các nhân đức mà chúng đối nghịch do thái quá hay do bất cập, hoặc theo các điều răn mà chúng vi phạm. Tội lỗi cũng có thể được phân loại theo tương quan của chúng với Thiên Chúa, với người lân cận hoặc với chính bản thân; chúng có thể được phân chia thành các tội về tinh thần và các tội về thể xác, hoặc tội trong tư tưởng, lời nói, việc làm và bỏ sót không làm. Cội rễ của tội là ở trong trái tim con người, trong ý chí tự do của họ, theo lời Chúa dạy: “Tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó mới là những cái làm cho con người ra ô uế” (Mt 15,19-20). Đức mến cũng cư ngụ trong trái tim con người, đó là nguyên lý của các công việc tốt lành và thanh sạch, nên tội cũng làm tổn thương đức mến.
Sins can be distinguished according to their objects, as can every human act; or according to the virtues they oppose, by excess or defect; or according to the commandments they violate. They can also be classed according to whether they concern God, neighbor, or oneself; they can be divided into spiritual and carnal sins, or again as sins in thought, word, deed, or omission. the root of sin is in the heart of man, in his free will, according to the teaching of the Lord: "For out of the heart come evil thoughts, murder, adultery, fornication, theft, false witness, slander. These are what defile a man." But in the heart also resides charity, the source of the good and pure works, which sin wounds.
Phải đánh giá các tội theo mức độ nghiêm trọng của chúng. Sự phân biệt giữa tội trọng và tội nhẹ, như đã thấy trong Thánh Kinh, là khá phổ biến trong Truyền thống Hội Thánh. Kinh nghiệm của con người xác nhận điều này.
Sins are rightly evaluated according to their gravity. the distinction between mortal and venial sin, already evident in Scripture, became part of the tradition of the Church. It is corroborated by human experience.
Tội trọng phá hủy đức mến trong trái tim con người, do vi phạm nghiêm trọng Lề luật của Thiên Chúa; tội trọng làm cho con người quay lưng lại với Thiên Chúa là mục đích tối hậu của mình và vinh phúc của mình, khi dành ưu tiên cho một điều tốt thấp kém hơn Ngài. Tội nhẹ vẫn còn để đức mến tồn tại, mặc dù có xúc phạm và gây tổn thương cho đức mến.
Mortal sin destroys charity in the heart of man by a grave violation of God's law; it turns man away from God, who is his ultimate end and his beatitude, by preferring an inferior good to him. Venial sin allows charity to subsist, even though it offends and wounds it.
Tội trọng đánh vào nguyên lý sống còn trong chúng ta, là đức mến, nên cần phải có một khởi đầu mới của lòng thương xót của Thiên Chúa và sự hối cải của trái tim, điều này được thực hiện một cách thông thường trong bí tích Giao Hòa: “Khi... ý chí chiều theo một điều tự nó nghịch lại với đức mến, là nhân đức nhờ đó con người được quy hướng về mục đích tối hậu, thì do đối tượng của nó, tội này là tội trọng... hoặc nghịch với lòng mến Chúa, như lộng ngôn, bội thề, v.v... hoặc nghịch với lòng yêu người, như sát nhân, ngoại tình, v.v... Còn khi ý chí của tội nhân chiều theo một điều tự nó là một sự vô trật tự nào đó, nhưng không nghịch với tình yêu đối với Thiên Chúa và người lân cận, như nói năng bừa bãi, cười cợt lố lăng, v.v..., thì đó là những tội nhẹ.”
Mortal sin, by attacking the vital principle within us - that is, charity - necessitates a new initiative of God's mercy and a conversion of heart which is normally accomplished within the setting of the sacrament of reconciliation:
Để một tội là tội trọng, đòi phải có đồng thời ba điều kiện: Tội trọng là tội mà “đối tượng của nó là một chất liệu nghiêm trọng, và ngoài ra, tội đó được chấp nhận với đầy đủ ý thức, và với sự ưng thuận chủ ý.”
For a sin to be mortal, three conditions must together be met: "Mortal sin is sin whose object is grave matter and which is also committed with full knowledge and deliberate consent."
Chất liệu nghiêm trọng được xác định trong Mười Điều Răn, theo câu trả lời của Chúa Giêsu với người thanh niên giàu có: “Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ cha kính mẹ” (Mc 10,19). Tính nghiêm trọng của tội có thể là nhiều hơn hay ít hơn: tội giết người thì nghiêm trọng hơn tội trộm cắp. Cũng phải xét đến cả phẩm chất của những người bị xúc phạm: tội hành hung người thân thì tự nó nặng hơn tội hành hung người lạ.
Grave matter is specified by the Ten Commandments, corresponding to the answer of Jesus to the rich young man: "Do not kill, Do not commit adultery, Do not steal, Do not bear false witness, Do not defraud, Honor your father and your mother." The gravity of sins is more or less great: murder is graver than theft. One must also take into account who is wronged: violence against parents is in itself graver than violence against a stranger.
Tội trọng đòi phải có sự nhận thức đầy đủ và sự ưng thuận hoàn toàn. Điều này giả thiết phải có sự hiểu biết đặc tính tội lỗi của hành vi, hiểu biết sự đối nghịch của hành vi đối với Lề luật của Thiên Chúa. Tội trọng cũng bao hàm một sự ưng thuận chủ ý, đủ để là một lựa chọn cá vị. Sự làm bộ không biết và sự chai đá của trái tim không giảm thiểu, nhưng gia tăng tính cách cố ý của tội.
Mortal sin requires full knowledge and complete consent. It presupposes knowledge of the sinful character of the act, of its opposition to God's law. It also implies a consent sufficiently deliberate to be a personal choice. Feigned ignorance and hardness of heart do not diminish, but rather increase, the voluntary character of a sin.
Sự không hiểu biết ngoài ý muốn có thể giảm thiểu, và thậm chí xóa bỏ, tính cách quy tội của một lỗi phạm nặng. Nhưng không ai được coi là không biết những nguyên tắc của luật luân lý đã được ghi khắc trong lương tâm mỗi người. Những thúc đẩy của cảm giác, các đam mê, và cả các áp lực bên ngoài, hoặc những rối loạn do bệnh tật, cũng có thể giảm thiểu tính cách cố ý và tự do của lỗi phạm. Tội do ác tâm, do sự chủ ý lựa chọn điều xấu, là nghiêm trọng nhất.
Unintentional ignorance can diminish or even remove the imputability of a grave offense. But no one is deemed to be ignorant of the principles of the moral law, which are written in the conscience of every man. the promptings of feelings and passions can also diminish the voluntary and free character of the offense, as can external pressures or pathological disorders. Sin committed through malice, by deliberate choice of evil, is the gravest.
Tội trọng là một khả năng căn bản của sự tự do nhân loại, cũng như chính tình yêu. Tội trọng phá hủy đức mến, làm mất ơn thánh hóa, nghĩa là mất tình trạng ân sủng. Nếu tội trọng không được chuộc lại bằng việc thống hối và ơn tha thứ của Thiên Chúa, nó sẽ đưa tới việc bị loại ra khỏi Nước Thiên Chúa và cái chết muôn đời trong hỏa ngục, vì sự tự do của chúng ta có khả năng thực hiện những lựa chọn vĩnh viễn, không thể hồi lại được. Tuy nhiên, mặc dầu chúng ta có thể phán đoán một hành vi nào đó tự nó là một lỗi phạm nặng, chúng ta vẫn phải phó thác việc phán xét các nhân vị cho sự công bằng và lòng thương xót của Thiên Chúa.
Mortal sin is a radical possibility of human freedom, as is love itself. It results in the loss of charity and the privation of sanctifying grace, that is, of the state of grace. If it is not redeemed by repentance and God's forgiveness, it causes exclusion from Christ's kingdom and the eternal death of hell, for our freedom has the power to make choices for ever, with no turning back. However, although we can judge that an act is in itself a grave offense, we must entrust judgment of persons to the justice and mercy of God.
Người ta phạm tội nhẹ khi không tuân giữ những tiêu chuẩn được quy định bởi luật luân lý trong điều nhẹ, hay cả khi không tuân theo luật luân lý trong điều nặng, nhưng không có sự nhận thức đầy đủ hay không có sự ưng thuận hoàn toàn.
One commits venial sin when, in a less serious matter, he does not observe the standard prescribed by the moral law, or when he disobeys the moral law in a grave matter, but without full knowledge or without complete consent.
Tội nhẹ làm suy yếu đức mến; nó diễn tả sự quyến luyến vô trật tự đối với của cải trần thế; nó ngăn cản sự tiến triển của linh hồn trong việc thực hành nhân đức và trong việc thực thi điều thiện luân lý; tội nhẹ đáng chịu những hình phạt tạm thời. Tội nhẹ có chủ ý và nhất định không thống hối khiến chúng ta dần dần đi đến chỗ phạm tội trọng. Tuy nhiên, tội nhẹ không phá vỡ giao ước với Thiên Chúa. Với ân sủng của Thiên Chúa, tội nhẹ có thể được con người sửa chữa lại. “Tội nhẹ không làm mất ơn thánh hóa, sự thân nghĩa với Thiên Chúa, đức mến và vinh phúc vĩnh cửu.” “Bao lâu còn mang thân xác, con người không thể không có ít là các tội nhẹ. Nhưng các tội mà chúng ta gọi là nhẹ, bạn chớ coi thường: nếu bạn coi là nhẹ khi bạn cân chúng, thì bạn hãy run sợ khi bạn đếm chúng. Nhiều vật nhỏ làm thành một khối lớn, nhiều giọt nước làm đầy một con sông, nhiều hạt lúa làm thành một đống lúa. Vậy thì còn hy vọng gì? Trước hết, hãy đi xưng tội...”
Venial sin weakens charity; it manifests a disordered affection for created goods; it impedes the soul's progress in the exercise of the virtues and the practice of the moral good; it merits temporal punishment. Deliberate and unrepented venial sin disposes us little by little to commit mortal sin. However venial sin does not set us in direct opposition to the will and friendship of God; it does not break the covenant with God. With God's grace it is humanly reparable. "Venial sin does not deprive the sinner of sanctifying grace, friendship with God, charity, and consequently eternal happiness."
“Mọi tội, kể cả tội nói phạm thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ tội nói phạm đến Thần Khí sẽ chẳng được tha” (Mt 12,31). Lòng thương xót của Thiên Chúa không có giới hạn, nhưng ai cố tình từ chối đón nhận lòng thương xót của Thiên Chúa qua việc thống hối, thì người đó cũng khước từ ơn tha thứ tội lỗi cho mình và ơn cứu độ do Chúa Thánh Thần ban tặng. Sự cứng lòng như vậy có thể đưa tới chỗ không thống hối trong giờ sau hết và bị án phạt muôn đời.
"Whoever blasphemes against the Holy Spirit never has forgiveness, but is guilty of an eternal sin." There are no limits to the mercy of God, but anyone who deliberately refuses to accept his mercy by repenting, rejects the forgiveness of his sins and the salvation offered by the Holy Spirit. Such hardness of heart can lead to final impenitence and eternal loss.
Tội tạo nên xu hướng về tội; và do việc lặp đi lặp lại cùng một hành vi, sẽ sinh ra thói xấu. Từ đó phát xuất những nghiêng chiều lệch lạc làm mờ tối lương tâm và làm hư hỏng sự đánh giá cụ thể về điều tốt và điều xấu. Như vậy, tội lỗi có khuynh hướng sinh sôi nảy nở và mạnh thêm lên, nhưng nó không thể phá hủy tận căn cảm thức luân lý.
Sin creates a proclivity to sin; it engenders vice by repetition of the same acts. This results in perverse inclinations which cloud conscience and corrupt the concrete judgment of good and evil. Thus sin tends to reproduce itself and reinforce itself, but it cannot destroy the moral sense at its root.
Các thói xấu có thể được xếp loại dựa theo các nhân đức mà chúng đối nghịch, hay được quy vào các mối tội đầu như kinh nghiệm Kitô Giáo đã phân biệt, dựa theo thánh Gioan Casianô và thánh Grêgôriô Cả. Chúng được gọi là các mối tội đầu bởi vì chúng sinh ra những tội khác, những thói xấu khác. Các mối tội đầu là: kiêu ngạo, hà tiện, ganh tị, nóng giận, dâm dục, mê ăn uống, làm biếng.
Vices can be classified according to the virtues they oppose, or also be linked to the capital sins which Christian experience has distinguished, following St. John Cassian and St. Gregory the Great. They are called "capital" because they engender other sins, other vices. They are pride, avarice, envy, wrath, lust, gluttony, and sloth or acedia.
Truyền thống dạy giáo lý cũng nhắc đến “các tội kêu thấu đến trời.” Kêu thấu đến trời là: máu của Aben; tội của dân Sôđôma; tiếng than của dân bị áp bức ở Ai Cập; tiếng rên siết của người ngoại kiều, của các cô nhi và quả phụ; sự bất công về lương bổng.
The catechetical tradition also recalls that there are "sins that cry to heaven": the blood of Abel, The sin of the Sodomites, The cry of the people oppressed in Egypt, The cry of the foreigner, the widow, and the orphan, injustice to the wage earner.
Tội là một hành vi cá vị. Ngoài ra, chúng ta có trách nhiệm trong các tội do những người khác phạm, khi chúng ta cộng tác vào các tội đó, bằng cách: — tham gia một cách trực tiếp và tự nguyện vào các tội đó; — ra lệnh, xúi giục, khen ngợi hoặc tán thành những tội đó; — không tố cáo hoặc không ngăn cản các tội đó, khi có bổn phận phải can ngăn; — che chở những người làm điều xấu.
Sin is a personal act. Moreover, we have a responsibility for the sins committed by others when we cooperate in them: - by participating directly and voluntarily in them; - by ordering, advising, praising, or approving them; - by not disclosing or not hindering them when we have an obligation to do so; - by protecting evil-doers.
Như vậy, tội làm cho người ta trở thành đồng phạm với nhau, và làm cho dục vọng, bạo lực và bất công thống trị nơi họ. Tội tạo nên những hoàn cảnh xã hội và những cơ chế nghịch lại lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Các “cơ cấu tội ác” vừa là sự diễn tả vừa là hậu quả của các tội cá vị. Chúng xúi giục các nạn nhân của chúng đến lượt mình cũng làm điều xấu. Hiểu nghĩa loại suy, chúng làm thành “tội xã hội.”
Thus sin makes men accomplices of one another and causes concupiscence, violence, and injustice to reign among them. Sins give rise to social situations and institutions that are contrary to the divine goodness. "Structures of sin" are the expression and effect of personal sins. They lead their victims to do evil in their turn. In an analogous sense, they constitute a "social sin."
“Thiên Chúa đã giam hãm mọi người trong tội không vâng phục, để thương xót mọi người” (Rm 11,32).
"God has consigned all men to disobedience, that he may have mercy upon all" (Rom 11:32).
Tội là “một hành vi, lời nói, hoặc ước muốn trái nghịch với Lề luật vĩnh cửu.” Tội là một sự xúc phạm đến Thiên Chúa. Tội chống lại Thiên Chúa bằng sự bất tuân, đối nghịch với sự tuân phục của Chúa Giêsu.
Sin is an utterance, a deed, or a desire contrary to the eternal law (St. Augustine, Faust 22: PL 42, 418). It is an offense against God. It rises up against God in a disobedience contrary to the obedience of Christ.
Tội là một hành vi đối nghịch với lý trí. Nó làm tổn thương bản tính con người và vi phạm đến tình liên đới nhân loại.
Sin is an act contrary to reason. It wounds man's nature and injures human solidarity.
Cội rễ của mọi tội lỗi là ở trong trái tim con người. Các loại tội và mức độ nghiêm trọng của chúng được xem xét chủ yếu theo đối tượng của chúng.
The root of all sins lies in man's heart. the kinds and the gravity of sins are determined principally by their objects.
Lựa chọn một cách có chủ ý, nghĩa là, biết rõ và tự nguyện, một sự việc đối nghịch với Lề luật thần linh và với mục đích tối hậu của con người một cách nghiêm trọng, đó là phạm tội trọng. Tội trọng phá hủy đức mến trong chúng ta, mà nếu không có đức mến, thì không thể được hưởng vinh phúc vĩnh cửu. Nếu không có sự thống hối, tội trọng kéo theo nó sự chết muôn đời.
To choose deliberately - that is, both knowing it and willing it - something gravely contrary to the divine law and to the ultimate end of man is to commit a mortal sin. This destroys in us the charity without which eternal beatitude is impossible. Unrepented, it brings eternal death.
Tội nhẹ gây nên một xáo trộn luân lý, có thể sửa chữa lại được nhờ đức mến vẫn còn tồn tại trong chúng ta.
Venial sin constitutes a moral disorder that is reparable by charity, which it allows to subsist in us.
Phạm đi phạm lại các tội, dù là các tội nhẹ, sẽ sinh ra những thói xấu, trong đó đặc biệt có các mối tội đầu.
The repetition of sins - even venial ones - engenders vices, among which are the capital sins.