“Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý” (Pl 4,8). Nhân đức là một xu hướng thường xuyên và kiên trì để làm điều thiện. Nó khiến nhân vị không những thực hiện những hành vi tốt, mà còn cống hiến những điều tốt nhất của bản thân mình. Người nhân đức hướng về điều thiện với tất cả sức mạnh giác quan và tinh thần của mình; họ theo đuổi và lựa chọn điều thiện bằng những hành động cụ thể của mình: “Mục đích của một đời sống nhân đức là trở nên giống Thiên Chúa.”
"Whatever is true, whatever is honorable, whatever is just, whatever is pure, whatever is lovely, whatever is gracious, if there is any excellence, if there is anything worthy of praise, think about these things." A virtue is an habitual and firm disposition to do the good. It allows the person not only to perform good acts, but to give the best of himself. the virtuous person tends toward the good with all his sensory and spiritual powers; he pursues the good and chooses it in concrete actions.
Các nhân đức nhân bản là những thái độ vững chắc, những xu hướng kiên trì, những trọn hảo thường xuyên của lý trí và ý chí, nhằm điều khiển các hành vi của chúng ta, điều tiết các đam mê của chúng ta, và hướng dẫn nếp sống chúng ta cho phù hợp với lý trí và đức tin. Các nhân đức này đem lại cho con người sự thoải mái, sự tự chủ và niềm vui, để sống một cuộc đời tốt lành về mặt luân lý. Người nhân đức là người thực thi điều thiện cách tự nguyện. Các nhân đức luân lý được thủ đắc theo cách thức nhân loại. Chúng là hoa trái và mầm mống của những hành vi tốt về mặt luân lý; chúng chuẩn bị mọi năng lực của con người cho việc hiệp thông với tình yêu của Thiên Chúa.
Human virtues are firm attitudes, stable dispositions, habitual perfections of intellect and will that govern our actions, order our passions, and guide our conduct according to reason and faith. They make possible ease, self-mastery, and joy in leading a morally good life. the virtuous man is he who freely practices the good. The moral virtues are acquired by human effort. They are the fruit and seed of morally good acts; they dispose all the powers of the human being for communion with divine love.
Có bốn nhân đức giữ nhiệm vụ “cột trụ.” Vì vậy, chúng được gọi là các nhân đức “trụ”; mọi nhân đức khác đều quy tụ quanh bốn nhân đức này. Đó là khôn ngoan, công bằng, can đảm và tiết độ. “Con người mến chuộng đức công bằng ư? Thì chính Đức Khôn Ngoan sản sinh các nhân đức: Quả vậy, Đức Khôn Ngoan dạy cho biết sống tiết độ, cẩn trọng, công bằng và dũng mãnh” (Kn 8,7). Các nhân đức này còn được ca ngợi trong nhiều đoạn văn của Thánh Kinh bằng những danh xưng khác.
Four virtues play a pivotal role and accordingly are called "cardinal"; all the others are grouped around them. They are: prudence, justice, fortitude, and temperance. "If anyone loves righteousness, [Wisdom's] labors are virtues; for she teaches temperance and prudence, justice, and courage." These virtues are praised under other names in many passages of Scripture.
Khôn ngoan là nhân đức giúp lý trí sẵn sàng trong mọi hoàn cảnh phân định được điều thiện đích thực và lựa chọn những phương tiện thích hợp để đạt tới điều thiện đó. Người “khôn ngoan thì đắn đo từng bước” (Cn 14,15). “Anh em hãy sống chừng mực và tiết độ để có thể cầu nguyện được” (1 Pr 4,7). Sau ông Aristote, thánh Tôma đã viết: “Khôn ngoan là quy tắc đúng đắn để hành động.” Không được lẫn lộn đức khôn ngoan với tính nhút nhát hay sợ sệt, tráo trở hay lừa đảo. Đức khôn ngoan được gọi là người hướng dẫn các nhân đức (auriga virtutum): thật vậy, nó hướng dẫn các nhân đức khác bằng cách chỉ ra quy tắc và mức độ của chúng. Đức khôn ngoan trực tiếp hướng dẫn sự phán đoán của lương tâm. Người khôn ngoan quyết định và sắp đặt cách hành động của mình theo sự phán đoán này. Nhờ nhân đức này, chúng ta áp dụng các nguyên tắc luân lý vào những trường hợp cụ thể mà không bị sai lầm, và chúng ta vượt qua được những hồ nghi về điều tốt phải làm và điều xấu phải tránh.
Prudence is the virtue that disposes practical reason to discern our true good in every circumstance and to choose the right means of achieving it; "the prudent man looks where he is going." "Keep sane and sober for your prayers." Prudence is "right reason in action," writes St. Thomas Aquinas, following Aristotle. It is not to be confused with timidity or fear, nor with duplicity or dissimulation. It is called auriga virtutum (the charioteer of the virtues); it guides the other virtues by setting rule and measure. It is prudence that immediately guides the judgment of conscience. the prudent man determines and directs his conduct in accordance with this judgment. With the help of this virtue we apply moral principles to particular cases without error and overcome doubts about the good to achieve and the evil to avoid.
Công bằng là nhân đức luân lý cốt tại một ý chí liên lỉ và vững chắc, quyết tâm trả lại những gì mình mắc nợ với Thiên Chúa và với người lân cận. Công bằng đối với Thiên Chúa được gọi là “nhân đức thờ phượng.” Đối với người ta, công bằng là tôn trọng quyền lợi của mỗi người và thiết lập sự hài hòa trong các tương quan nhân loại, sự hài hòa này đưa tới việc không thiên vị đối với các nhân vị và đối với công ích. Người công bằng, thường được nhắc đến trong Thánh Kinh, có nét đặc biệt là sự ngay thẳng thường xuyên trong các ý nghĩ của mình và ngay thẳng trong cách hành động đối với người lân cận. “Ngươi không được thiên vị người yếu thế, cũng không được nể mặt người quyền quý, nhưng hãy xét xử công minh cho người đồng bào” (Lv 19,15). “Người làm chủ hãy đối xử công bằng và đồng đều với các nô lệ, vì biết rằng cả anh em nữa cũng có một Chủ ở trên trời” (Cl 4,1).
Justice is the moral virtue that consists in the constant and firm will to give their due to God and neighbor. Justice toward God is called the "virtue of religion." Justice toward men disposes one to respect the rights of each and to establish in human relationships the harmony that promotes equity with regard to persons and to the common good. the just man, often mentioned in the Sacred Scriptures, is distinguished by habitual right thinking and the uprightness of his conduct toward his neighbor. "You shall not be partial to the poor or defer to the great, but in righteousness shall you judge your neighbor." "Masters, treat your slaves justly and fairly, knowing that you also have a Master in heaven."
Can đảm là nhân đức luân lý giúp chúng ta kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện giữa những khó khăn trong đời. Nó củng cố sự quyết tâm chống lại các cám dỗ và vượt qua các chướng ngại trong đời sống luân lý. Đức can đảm giúp chúng ta có khả năng chiến thắng sự sợ hãi, thậm chí cả sự chết, đương đầu với sự thử thách và các cuộc bách hại. Nó giúp chúng ta đi đến chỗ từ bỏ và hy sinh mạng sống mình để bảo vệ lẽ phải. “Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi” (Tv 118,14). “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33).
Fortitude is the moral virtue that ensures firmness in difficulties and constancy in the pursuit of the good. It strengthens the resolve to resist temptations and to overcome obstacles in the moral life. the virtue of fortitude enables one to conquer fear, even fear of death, and to face trials and persecutions. It disposes one even to renounce and sacrifice his life in defense of a just cause. "The Lord is my strength and my song." "In the world you have tribulation; but be of good cheer, I have overcome the world."
Tiết độ là nhân đức luân lý giúp chúng ta điều tiết sức lôi cuốn của những thú vui và giữ sự chừng mực trong việc sử dụng các của cải trần thế. Nó giúp ý chí làm chủ các bản năng và kiềm chế các ham muốn trong những giới hạn của sự lương thiện. Người tiết độ quy hướng các thèm muốn giác quan của mình về điều thiện, giữ được sự cẩn trọng lành mạnh, và không chiều theo sức mạnh của mình mà bước theo các dục vọng của trái tim mình. Đức tiết độ thường được ca tụng trong Cựu Ước: “Con đừng buông theo các tham vọng của con, nhưng hãy kiềm chế các dục vọng” (Hc 18,30). Trong Tân Ước, nhân đức này được gọi là “sự chừng mực” hay “sự điều độ.” Chúng ta phải sống “chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này” (Tt 2,12). “Sống tốt lành không là gì khác hơn là yêu mến Thiên Chúa hết trái tim, hết linh hồn và hết tâm trí mình,... tình yêu này phải được gìn giữ trọn vẹn và không hư hoại, đó là phần của đức tiết độ, không bị suy yếu bởi một rối loạn nào, đó là phần của đức can đảm, không phục vụ một ai khác, đó là phần của đức công bằng, tỉnh thức khi phân định các sự việc kẻo dần dần sự lừa đảo hoặc phản bội lẻn vào, đó là phần của đức khôn ngoan.”
Temperance is the moral virtue that moderates the attraction of pleasures and provides balance in the use of created goods. It ensures the will's mastery over instincts and keeps desires within the limits of what is honorable. the temperate person directs the sensitive appetites toward what is good and maintains a healthy discretion: "Do not follow your inclination and strength, walking according to the desires of your heart." Temperance is often praised in the Old Testament: "Do not follow your base desires, but restrain your appetites." In the New Testament it is called "moderation" or "sobriety." We ought "to live sober, upright, and godly lives in this world."
Các nhân đức nhân bản có được là nhờ sự giáo dục, nhờ các hành vi chủ ý và nhờ luôn cố gắng kiên trì, các nhân đức này được thanh luyện và nâng cao nhờ ân sủng thần linh. Nhờ sự trợ giúp của Thiên Chúa, các nhân đức này tôi luyện tính tình và đem lại sự thoải mái trong việc thực thi điều thiện. Người nhân đức hạnh phúc khi thực thi các nhân đức đó.
Human virtues acquired by education, by deliberate acts and by a perseverance ever-renewed in repeated efforts are purified and elevated by divine grace. With God's help, they forge character and give facility in the practice of the good. the virtuous man is happy to practice them.
Con người bị tổn thương bởi tội lỗi, không dễ mà giữ được sự quân bình luân lý. Ơn cứu độ của Đức Kitô đem lại cho chúng ta ân sủng cần thiết để kiên trì trong việc tìm kiếm các nhân đức. Mỗi người phải luôn cầu xin ơn soi sáng và ơn sức mạnh, luôn chạy đến với các bí tích, luôn cộng tác với Chúa Thánh Thần, nghe theo lời kêu gọi của Ngài để yêu mến điều tốt và giữ mình khỏi điều xấu.
It is not easy for man, wounded by sin, to maintain moral balance. Christ's gift of salvation offers us the grace necessary to persevere in the pursuit of the virtues. Everyone should always ask for this grace of light and strength, frequent the sacraments, cooperate with the Holy Spirit, and follow his calls to love what is good and shun evil.
Các nhân đức nhân bản được bén rễ trong các nhân đức đối thần, là những nhân đức thích ứng các tài năng của con người để dự phần vào bản tính thần linh. Quả vậy, các nhân đức đối thần trực tiếp quy chiếu về Thiên Chúa. Chúng giúp các Kitô hữu sống trong tương quan với Ba Ngôi Chí Thánh. Các nhân đức đối thần có Thiên Chúa Nhất Thể Tam Vị là nguồn gốc, động lực và đối tượng.
The human virtues are rooted in the theological virtues, which adapt man's faculties for participation in the divine nature: for the theological virtues relate directly to God. They dispose Christians to live in a relationship with the Holy Trinity. They have the One and Triune God for their origin, motive, and object.
Các nhân đức đối thần tạo nền móng, làm sinh động, và là nét đặc thù của các hành vi luân lý của Kitô hữu. Chúng định hình và mang lại sự sống cho tất cả các nhân đức luân lý. Các nhân đức này được Thiên Chúa phú bẩm trong linh hồn của các tín hữu, giúp họ có khả năng hành động như con cái của Ngài và đáng hưởng sự sống vĩnh cửu. Các nhân đức đối thần là bảo chứng cho sự hiện diện và hành động của Chúa Thánh Thần trong các năng lực của con người. Có ba nhân đức đối thần là: đức tin, đức cậy và đức mến.
The theological virtues are the foundation of Christian moral activity; they animate it and give it its special character. They inform and give life to all the moral virtues. They are infused by God into the souls of the faithful to make them capable of acting as his children and of meriting eternal life. They are the pledge of the presence and action of the Holy Spirit in the faculties of the human being. There are three theological virtues: faith, hope, and charity.
Đức tin là nhân đức đối thần, nhờ đó chúng ta tin vào Thiên Chúa và tất cả những gì Ngài đã nói và đã mặc khải cho chúng ta, và những gì Hội Thánh dạy chúng ta tin, bởi vì Thiên Chúa chính là Chân lý. Nhờ đức tin, “con người tự nguyện phó thác toàn thân cho Thiên Chúa.” Vì vậy, ai tin, người đó cố gắng nhận biết và thi hành ý muốn của Thiên Chúa. “Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Rm 1,17). Đức tin sống động “hành động nhờ đức mến” (Gl 5,6).
Faith is the theological virtue by which we believe in God and believe all that he has said and revealed to us, and that Holy Church proposes for our belief, because he is truth itself. By faith "man freely commits his entire self to God." For this reason the believer seeks to know and do God's will. "The righteous shall live by faith." Living faith "work(s) through charity."
Hồng ân đức tin tồn tại trong người không phạm tội nghịch với đức tin. Nhưng “đức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,26). Nếu thiếu đức cậy và đức mến, đức tin sẽ không kết hợp đầy đủ tín hữu với Đức Kitô và không làm cho họ trở nên chi thể sống động của Thân Thể Người.
The gift of faith remains in one who has not sinned against it. But "faith apart from works is dead": when it is deprived of hope and love, faith does not fully unite the believer to Christ and does not make him a living member of his Body.
Người môn đệ Đức Kitô không những phải gìn giữ đức tin và sống bởi đức tin, mà còn phải tuyên xưng, can đảm làm chứng và truyền bá đức tin: “Mọi tín hữu... phải sẵn sàng tuyên xưng Đức Kitô trước mặt người ta, và bước theo Người trên đường thập giá, giữa những cuộc bách hại mà Hội Thánh luôn luôn gặp phải.” Việc phục vụ và làm chứng cho đức tin là những điều phải có để được cứu độ. “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32-33).
The disciple of Christ must not only keep the faith and live on it, but also profess it, confidently bear witness to it, and spread it: "All however must be prepared to confess Christ before men and to follow him along the way of the Cross, amidst the persecutions which the Church never lacks." Service of and witness to the faith are necessary for salvation: "So every one who acknowledges me before men, I also will acknowledge before my Father who is in heaven; but whoever denies me before men, I also will deny before my Father who is in heaven."
Đức cậy là nhân đức đối thần, nhờ đó chúng ta khao khát Nước Trời và đời sống vĩnh cửu là vinh phúc của chúng ta, khi đặt lòng tin tưởng của chúng ta vào các lời hứa của Đức Kitô và cậy dựa vào sự trợ giúp của ân sủng của Chúa Thánh Thần, chứ không vào sức mạnh của chúng ta. “Chúng ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, vì Đấng đã hứa là Đấng trung tín” (Hr 10,23). Thiên Chúa “đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta. Như vậy, một khi nên công chính nhờ ân sủng của Đức Kitô, chúng ta được thừa hưởng sự sống đời đời như chúng ta vẫn hy vọng” (Tt 3,6-7).
Hope is the theological virtue by which we desire the kingdom of heaven and eternal life as our happiness, placing our trust in Christ's promises and relying not on our own strength, but on the help of the grace of the Holy Spirit. "Let us hold fast the confession of our hope without wavering, for he who promised is faithful." "The Holy Spirit . . . he poured out upon us richly through Jesus Christ our Savior, so that we might be justified by his grace and become heirs in hope of eternal life."
Đức cậy đáp ứng khát vọng hưởng vinh phúc mà Thiên Chúa đã đặt trong trái tim mỗi người; đảm nhận những sự mong đợi đang gợi hứng cho các hoạt động của con người; thanh luyện những mong đợi đó để quy hướng chúng về Nước trời; bảo vệ khỏi sự nản chí của tâm hồn; nâng đỡ khi bị bỏ rơi; mở rộng trái tim bằng sự mong đợi vinh phúc vĩnh cửu. Sự thúc đẩy của đức cậy gìn giữ chúng ta khỏi tính ích kỷ và đưa chúng ta đến với vinh phúc của đức mến.
The virtue of hope responds to the aspiration to happiness which God has placed in the heart of every man; it takes up the hopes that inspire men's activities and purifies them so as to order them to the Kingdom of heaven; it keeps man from discouragement; it sustains him during times of abandonment; it opens up his heart in expectation of eternal beatitude. Buoyed up by hope, he is preserved from selfishness and led to the happiness that flows from charity.
Đức cậy Kitô Giáo đảm nhận và kiện toàn lòng trông cậy của dân Chúa chọn; nguồn gốc và mẫu gương của lòng trông cậy đó là lòng trông cậy của tổ phụ Ápraham, người đã mãn nguyện với các lời hứa của Thiên Chúa nơi Ixaác, và đã được thanh luyện nhờ sự thử thách là cuộc hy tế. “Ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc” (Rm 4,18).
Christian hope takes up and fulfills the hope of the chosen people which has its origin and model in the hope of Abraham, who was blessed abundantly by the promises of God fulfilled in Isaac, and who was purified by the test of the sacrifice. "Hoping against hope, he believed, and thus became the father of many nations."
Từ lúc khởi đầu việc giảng dạy của Chúa Giêsu, đức cậy Kitô Giáo được khai triển trong lời loan báo các mối phúc. Các mối phúc nâng niềm hy vọng của chúng ta hướng lên trời, như lên miền Đất hứa mới; vạch đường tới đó qua những thử thách đang chờ đợi các môn đệ của Chúa Giêsu. Nhưng nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô và của cuộc khổ nạn của Người, Thiên Chúa gìn giữ chúng ta trong niềm hy vọng “không phải thất vọng” (Rm 5,5). Chúng ta có niềm hy vọng “như cái neo chắc chắn và bền vững của tâm hồn”, thả sâu vào “nơi Chúa Giêsu đã vào như người tiền phong mở đường cho chúng ta” (Hr 6,19-20). Đức cậy cũng là vũ khí bảo vệ chúng ta trong cuộc chiến đấu để được cứu độ: “Hãy mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ” (1 Tx 5,8). Đức cậy mang lại cho chúng ta niềm vui ngay cả trong thử thách: “Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân” (Rm 12,12). Đức cậy được diễn tả và nuôi dưỡng trong kinh nguyện, nhất là trong Lời Kinh của Chúa, là bản toát yếu của tất cả những gì mà đức cậy khiến chúng ta ước ao.
Christian hope unfolds from the beginning of Jesus' preaching in the proclamation of the beatitudes. the beatitudes raise our hope toward heaven as the new Promised Land; they trace the path that leads through the trials that await the disciples of Jesus. But through the merits of Jesus Christ and of his Passion, God keeps us in the "hope that does not disappoint." Hope is the "sure and steadfast anchor of the soul . . . that enters . . . where Jesus has gone as a forerunner on our behalf." Hope is also a weapon that protects us in the struggle of salvation: "Let us . . . put on the breastplate of faith and charity, and for a helmet the hope of salvation." It affords us joy even under trial: "Rejoice in your hope, be patient in tribulation." Hope is expressed and nourished in prayer, especially in the Our Father, the summary of everything that hope leads us to desire.
Vì vậy, chúng ta có thể trông cậy được hưởng vinh quang thiên quốc đã được Thiên Chúa hứa ban cho những ai yêu mến Ngài và thi hành ý muốn của Ngài. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, mỗi người phải trông cậy, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, sẽ kiên trì đến cùng, và đạt được niềm vui thiên quốc như phần thưởng vĩnh cửu Thiên Chúa ban vì các việc tốt lành đã được thực hiện nhờ ân sủng Đức Kitô. Với đức cậy, Hội Thánh cầu nguyện cho “mọi người được cứu độ” (1 Tm 2,4). Hội Thánh mong được kết hợp với Đức Kitô, Phu Quân của mình, trong vinh quang thiên quốc: “Trông cậy đi, hồn tôi hỡi, hãy trông cậy! Ngươi không biết ngày nào và giờ nào. Hãy chuyên cần tỉnh thức, vì mọi sự qua đi nhanh chóng, mặc dầu vì quá nóng lòng nên ngươi hoài nghi điều chắc chắn và cảm thấy khoảng thời gian vắn vỏi lại quá dài. Hãy nhớ rằng, ngươi càng chiến đấu, càng chứng tỏ tình yêu của ngươi đối với Thiên Chúa, và một ngày kia, ngươi sẽ càng vui sướng hơn với Đấng lòng ngươi yêu mến, trong niềm hạnh phúc và say mê bất tận.”
We can therefore hope in the glory of heaven promised by God to those who love him and do his will. In every circumstance, each one of us should hope, with the grace of God, to persevere "to the end" and to obtain the joy of heaven, as God's eternal reward for the good works accomplished with the grace of Christ. In hope, the Church prays for "all men to be saved." She longs to be united with Christ, her Bridegroom, in the glory of heaven:
Đức mến là nhân đức đối thần, nhờ đó chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự vì chính Ngài, và vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến người lân cận như chính mình.
Charity is the theological virtue by which we love God above all things for his own sake, and our neighbor as ourselves for the love of God.
Chúa Giêsu lấy đức mến làm điều răn mới. Khi yêu thương những kẻ thuộc về Người “đến cùng” (Ga 13,1), Người biểu lộ tình yêu của Chúa Cha mà Người đã đón nhận. Khi yêu mến nhau, các môn đệ bắt chước tình yêu của Chúa Giêsu mà họ cũng đã đón nhận. Vì vậy, Chúa Giêsu nói: “Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9). Và Người còn nói: “Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).
Jesus makes charity the new commandment. By loving his own "to the end," he makes manifest the Father's love which he receives. By loving one another, the disciples imitate the love of Jesus which they themselves receive. Whence Jesus says: "As the Father has loved me, so have I loved you; abide in my love." and again: "This is my commandment, that you love one another as I have loved you."
Là hoa trái của Thần Khí và là sự viên mãn của Lề luật, đức mến giữ các điều răn của Thiên Chúa và của Đức Kitô của Ngài: “Hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15,9-10).
Fruit of the Spirit and fullness of the Law, charity keeps the commandments of God and his Christ: "Abide in my love. If you keep my commandments, you will abide in my love."
Đức Kitô đã chịu chết vì yêu mến chúng ta, khi chúng ta còn là “thù nghịch” (Rm 5,10). Chúa đòi chúng ta rằng, cũng như Người, chúng ta phải yêu mến cả kẻ thù của chúng ta, rằng chúng ta phải trở thành người lân cận cho những kẻ ở xa nhất, rằng chúng ta phải yêu thương trẻ em và người nghèo như chính Người. Thánh Tông Đồ Phaolô đã mô tả một cách tuyệt vời về đức mến: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,4-7).
Christ died out of love for us, while we were still "enemies." The Lord asks us to love as he does, even our enemies, to make ourselves the neighbor of those farthest away, and to love children and the poor as Christ himself.
Thánh Tông Đồ còn nói: không có đức mến, “tôi chẳng là gì.” Và bất cứ điều gì là đặc ân, công việc phục vụ, thậm chí nhân đức... nếu tôi không có đức mến, thì cũng “chẳng ích gì cho tôi.” Đức mến cao trọng hơn mọi nhân đức. Đức mến đứng đầu các nhân đức đối thần: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13,13).
"If I . . . have not charity," says the Apostle, "I am nothing." Whatever my privilege, service, or even virtue, "if I . . . have not charity, I gain nothing." Charity is superior to all the virtues. It is the first of the theological virtues: "So faith, hope, charity abide, these three. But the greatest of these is charity."
Việc thực thi tất cả các nhân đức được nên sinh động và được gợi hứng bởi đức mến. Nhân đức này là “mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,14); là mô thể của các nhân đức; liên kết và phối hợp các nhân đức; là nguồn mạch và cùng đích của việc thực hành các nhân đức Kitô Giáo. Đức mến củng cố và thanh luyện khả năng yêu thương của con người. Đức mến nâng khả năng này lên mức trọn hảo siêu nhiên của tình yêu của Thiên Chúa.
The practice of all the virtues is animated and inspired by charity, which "binds everything together in perfect harmony"; it is the form of the virtues; it articulates and orders them among themselves; it is the source and the goal of their Christian practice. Charity upholds and purifies our human ability to love, and raises it to the supernatural perfection of divine love.
Việc thực hành đời sống luân lý, được sinh động nhờ đức mến, đem lại cho Kitô hữu sự tự do thiêng liêng của con cái Thiên Chúa. Người đó đứng trước Thiên Chúa, không còn như một kẻ nô lệ, trong sự sợ hãi tôi đòi, hay như người làm công ăn lương, nhưng như là người con đáp lại tình yêu của “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1 Ga 4,19): “Nếu chúng ta xa lánh điều xấu vì sợ hình phạt, chúng ta sẽ sống trong tâm trạng của người nô lệ; nếu chạy theo sự cám dỗ của phần thưởng,... chúng ta sẽ giống như người làm thuê; nhưng nếu vì chính sự đáng kính và vì tình yêu của Đấng ban hành lề luật..., chúng ta mới thật sự sống trong tâm tình của con cái.”
The practice of the moral life animated by charity gives to the Christian the spiritual freedom of the children of God. He no longer stands before God as a slave, in servile fear, or as a mercenary looking for wages, but as a son responding to the love of him who "first loved us":
Niềm vui, sự bình an và lòng thương xót là như hoa trái của đức mến. Đức mến đòi hỏi phải làm điều tốt và sửa lỗi cho nhau trong tình huynh đệ; đức mến thì nhân hậu; nó khơi dậy sự tương thân tương ái, không tìm tư lợi, và quảng đại; đức mến là tình bằng hữu và sự hiệp thông: “Yêu thương là sự hoàn tất của mọi công việc của chúng ta. Đó là mục đích: chúng ta chạy vì đó, chúng ta chạy đến đó; và khi tới đó, chúng ta sẽ yên nghỉ.”
The fruits of charity are joy, peace, and mercy; charity demands beneficence and fraternal correction; it is benevolence; it fosters reciprocity and remains disinterested and generous; it is friendship and communion: Love is itself the fulfillment of all our works. There is the goal; that is why we run: we run toward it, and once we reach it, in it we shall find rest.
Đời sống luân lý của các Kitô hữu được nâng đỡ bởi các hồng ân của Chúa Thánh Thần. Đó là những xu hướng thường xuyên giúp cho con người dễ dàng tuân theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần.
The moral life of Christians is sustained by the gifts of the Holy Spirit. These are permanent dispositions which make man docile in following the promptings of the Holy Spirit.
Bảy hồng ân của Chúa Thánh Thần là: ơn khôn ngoan, ơn thông minh, ơn biết lo liệu, ơn can đảm, ơn hiểu biết, ơn đạo đức và ơn kính sợ Thiên Chúa. Các ơn này đạt tới sự sung mãn của chúng nơi Đức Kitô, Con Vua Đavít. Các ơn này hoàn thành các nhân đức của những người lãnh nhận chúng, và đưa các nhân đức đó tới mức trọn hảo. Các ơn này giúp các tín hữu dễ dàng vâng phục cách mau mắn những linh hứng của Thiên Chúa. “Xin Thần Khí tốt lành của Chúa, dẫn con đi trên miền đất phẳng phiu” (Tv 143,10). “Phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa... Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô” (Rm 8,14.17).
The seven gifts of the Holy Spirit are wisdom, understanding, counsel, fortitude, knowledge, piety, and fear of the Lord. They belong in their fullness to Christ, Son of David. They complete and perfect the virtues of those who receive them. They make the faithful docile in readily obeying divine inspirations.
Các hoa trái của Thần Khí là những điều trọn hảo mà Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta, như hoa quả đầu mùa của vinh quang vĩnh cửu. Truyền thống Hội Thánh kể ra mười hai hoa trái: “Bác ái, hoan lạc, bình an, kiên nhẫn, quảng đại, nhân từ, từ tâm, khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết độ, khiết tịnh” (Gl 5,22-23 vulg.).
The fruits of the Spirit are perfections that the Holy Spirit forms in us as the first fruits of eternal glory. the tradition of the Church lists twelve of them: "charity, joy, peace, patience, kindness, goodness, generosity, gentleness, faithfulness, modesty, self-control, chastity."
Nhân đức là một xu hướng thường xuyên và kiên trì để làm điều thiện.
Virtue is a habitual and firm disposition to do good.
Các nhân đức nhân bản là những xu hướng thường xuyên và kiên trì của lý trí và ý chí nhằm điều khiển các hành vi của chúng ta, điều tiết các đam mê và hướng dẫn nếp sống chúng ta cho phù hợp với lý trí và đức tin. Các nhân đức đó có thể được quy tụ quanh bốn nhân đức trụ: khôn ngoan, công bằng, can đảm và tiết độ.
The human virtues are stable dispositions of the intellect and the will that govern our acts, order our passions, and guide our conduct in accordance with reason and faith. They can be grouped around the four cardinal virtues: prudence, justice, fortitude, and temperance.
Đức khôn ngoan giúp lý trí sẵn sàng trong mọi hoàn cảnh phân định điều thiện đích thực và lựa chọn những phương tiện thích hợp để đạt tới điều thiện đó.
Prudence disposes the practical reason to discern, in every circumstance, our true good and to choose the right means for achieving it.
Đức công bằng cốt tại một ý chí liên lỉ và vững chắc, quyết tâm trả lại những gì mình mắc nợ với Thiên Chúa và với người lân cận.
Justice consists in the firm and constant will to give God and neighbor their due.
Đức can đảm giúp chúng ta kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện giữa những khó khăn trong đời.
Fortitude ensures firmness in difficulties and constancy in the pursuit of the good.
Đức tiết độ giúp chúng ta điều tiết sức lôi cuốn của những thú vui và giữ sự chừng mực trong việc sử dụng các của cải trần thế.
Temperance moderates the attraction of the pleasures of the senses and provides balance in the use of created goods.
Các nhân đức luân lý tăng trưởng nhờ giáo dục, nhờ các hành vi chủ ý và nhờ luôn cố gắng kiên trì. Ân sủng của Thiên Chúa thanh luyện và nâng cao các nhân đức đó.
The moral virtues grow through education, deliberate acts, and perseverance in struggle. Divine grace purifies and elevates them.
Các nhân đức đối thần giúp các Kitô hữu sống trong tương quan với Ba Ngôi Chí Thánh. Các nhân đức đối thần có Thiên Chúa là nguồn gốc, động lực và đối tượng; Ngài là Thiên Chúa được nhận biết nhờ đức tin, được trông cậy và được yêu mến vì chính Ngài.
The theological virtues dispose Christians to live in a relationship with the Holy Trinity. They have God for their origin, their motive, and their object - God known by faith, God hoped in and loved for his own sake.
Có ba nhân đức đối thần là: đức tin, đức cậy và đức mến. Ba nhân đức này định hình và mang lại sự sống cho tất cả các nhân đức luân lý.
There are three theological virtues: faith, hope, and charity. They inform all the moral virtues and give life to them.
Nhờ đức tin, chúng ta tin vào Thiên Chúa và chúng ta tin tất cả những gì Ngài đã mặc khải cho chúng ta, và những gì Hội Thánh dạy chúng ta tin.
By faith, we believe in God and believe all that he has revealed to us and that Holy Church proposes for our belief.
Nhờ đức cậy, chúng ta khao khát và chờ mong với lòng tin tưởng vững chắc, Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu và các ân sủng để xứng đáng hưởng sự sống đó.
By hope we desire, and with steadfast trust await from God, eternal life and the graces to merit it.
Nhờ đức mến, chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta yêu mến người lân cận như chính mình. Đức mến là “mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,14) và là mô thể của mọi nhân đức.
By charity, we love God above all things and our neighbor as ourselves for love of God. Charity, the form of all the virtues, "binds everything together in perfect harmony" (Col 3:14).
Bảy hồng ân của Chúa Thánh Thần được ban cho các Kitô hữu là ơn khôn ngoan, ơn thông minh, ơn biết lo liệu, ơn can đảm, ơn hiểu biết, ơn đạo đức và ơn kính sợ Thiên Chúa.
The seven gifts of the Holy Spirit bestowed upon Christians are wisdom, understanding, counsel, fortitude, knowledge, piety, and fear of the Lord.