Hỏi Đáp Công Giáo
Đời Sống Trong Đức Kitô · Ơn gọi của con người: sống trong thần khí · Cộng đồng nhân loại
MỤC 2

Sự tham gia vào đời sống xã hội

Số 1897–1927
1897

“Xã hội loài người sẽ không thể được tổ chức tốt, cũng không thể thịnh vượng, nếu không có những người, được trao quyền bính hợp pháp, để gìn giữ các cơ chế, và làm mọi điều cần thiết để tích cực bảo trợ cho lợi ích của mọi phần tử.” Được gọi là “quyền bính”, là tư cách nhờ đó những cá vị hay những cơ chế đưa ra những luật lệ và lệnh truyền cho người ta, và mong đợi người ta tuân phục.

"Human society can be neither well-ordered nor prosperous unless it has some people invested with legitimate authority to preserve its institutions and to devote themselves as far as is necessary to work and care for the good of all." By "authority" one means the quality by virtue of which persons or institutions make laws and give orders to men and expect obedience from them.

1898

Mọi cộng đồng nhân loại đều cần có một quyền bính để quản trị nó. Quyền bính này đặt nền tảng trên bản tính nhân loại. Quyền bính là cần thiết cho sự thống nhất của cộng đồng dân sự. Nhiệm vụ của nó cốt tại việc bảo đảm tối đa cho công ích của xã hội.

Every human community needs an authority to govern it. The foundation of such authority lies in human nature. It is necessary for the unity of the state. Its role is to ensure as far as possible the common good of the society.

1899

Quyền bính, theo trật tự luân lý đòi hỏi, phát xuất từ Thiên Chúa: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại Ngài, sẽ chuốc lấy án phạt ” (Rm 13,1-2).

The authority required by the moral order derives from God: "Let every person be subject to the governing authorities. For there is no authority except from God, and those that exist have been instituted by God. Therefore he who resists the authorities resists what God has appointed, and those who resist will incur judgment."

1900

Bổn phận vâng phục đòi buộc mọi người phải tôn trọng quyền bính cho xứng hợp; và đối với những người đang thực thi nhiệm vụ, phải tôn trọng và tùy công trạng của họ mà tỏ lòng biết ơn và quý mến. Trong tác phẩm của thánh Giáo Hoàng Clêmentê thành Rôma, có một lời kinh cổ xưa nhất cầu cho chính quyền: “Lạy Chúa, xin ban cho họ sức khỏe, bình an, hòa thuận và bền vững, để họ thực thi đúng đắn quyền hành Chúa đã trao cho họ. Lạy Chúa là Chủ tể, là Vua trời vĩnh cửu, chính Chúa ban cho con cái loài người vinh quang, danh dự và quyền bính trên mọi vật trần thế. Lạy Chúa, xin hướng dẫn kế hoạch của họ theo điều gì là tốt, là đẹp trước mặt Chúa, để khi thi hành một cách đạo đức nhiệm vụ mà Chúa đã trao cho, trong an bình và quảng đại, họ nhận được ơn Chúa phù hộ.”

The duty of obedience requires all to give due honor to authority and to treat those who are charged to exercise it with respect, and, insofar as it is deserved, with gratitude and good-will.

1901

Một khi quyền bính thuộc về trật tự do Thiên Chúa ấn định, thì “việc xác định thể chế và việc chỉ định những người điều hành, phải được dành cho ý muốn tự do của các công dân.” Sự khác nhau của các thể chế chính trị có thể được chấp nhận về mặt luân lý, miễn là các thể chế này phục vụ lợi ích chính đáng của cộng đồng đã thừa nhận chúng. Các thể chế có bản chất trái ngược với luật tự nhiên, với trật tự công cộng và với các quyền căn bản của con người, thì không thể đem lại công ích cho những quốc gia đang bị áp đặt phải theo những thể chế đó.

If authority belongs to the order established by God, "the choice of the political regime and the appointment of rulers are left to the free decision of the citizens." The diversity of political regimes is morally acceptable, provided they serve the legitimate good of the communities that adopt them. Regimes whose nature is contrary to the natural law, to the public order, and to the fundamental rights of persons cannot achieve the common good of the nations on which they have been imposed.

1902

Quyền bính không rút ra tính hợp pháp luân lý tự chính mình. Họ không được xử sự cách chuyên chế, nhưng phải hành động vì công ích với tư cách là “một sức mạnh luân lý đặt nền tảng trên sự tự do và ý thức trách nhiệm”: “Luật pháp nhân loại chỉ có tính cách là luật khi phù hợp với lẽ phải: và theo đó, rõ ràng là nó xuất phát từ Lề luật vĩnh cửu; khi xa lìa lẽ phải, nó được gọi là một luật bất công: nó không còn có tính cách là luật, nhưng đúng hơn, nó mang tính cách bạo lực.”

Authority does not derive its moral legitimacy from itself. It must not behave in a despotic manner, but must act for the common good as a "moral force based on freedom and a sense of responsibility":

1903

Quyền bính chỉ được thực thi một cách hợp pháp khi nó mưu cầu công ích của tập thể liên hệ, và dùng những phương tiện được phép về mặt luân lý để đạt được công ích đó. Nếu các nhà lãnh đạo đưa ra những luật bất công hay sử dụng những biện pháp trái luân lý, thì những mệnh lệnh đó không thể bắt buộc lương tâm. “Trong trường hợp này, quyền bính không còn hiệu lực, và trở thành một lạm dụng đáng xấu hổ.”

Authority is exercised legitimately only when it seeks the common good of the group concerned and if it employs morally licit means to attain it. If rulers were to enact unjust laws or take measures contrary to the moral order, such arrangements would not be binding in conscience. In such a case, "authority breaks down completely and results in shameful abuse."

1904

“Vì vậy, tốt hơn là, mọi quyền hành phải được quân bình với những quyền hành khác và những thẩm quyền khác, để gìn giữ những giới hạn của nó. Đó là nguyên tắc ‘Nhà Nước pháp chế’, trong đó luật pháp là tối thượng, chứ không phải ý muốn độc đoán của một số người.”

"It is preferable that each power be balanced by other powers and by other spheres of responsibility which keep it within proper bounds. This is the principle of the 'rule of law,' in which the law is sovereign and not the arbitrary will of men."

1905

Theo bản tính xã hội của con người, lợi ích cá nhân tất nhiên được liên kết với công ích. Công ích chỉ có thể được định nghĩa trong tương quan với nhân vị: “Các bạn đừng sống cô lập hay khép kín nơi mình, như thể các bạn đã được công chính hóa rồi, nhưng hãy hợp lại nên một để cùng tìm kiếm điều hữu ích cho mọi người.”

In keeping with the social nature of man, the good of each individual is necessarily related to the common good, which in turn can be defined only in reference to the human person:

1906

Phải hiểu công ích là “toàn thể những điều kiện của đời sống xã hội giúp cả những tập thể, cả những phần tử riêng rẽ, đạt tới sự hoàn hảo riêng của mình một cách đầy đủ và dễ dàng hơn.” Công ích liên quan đến đời sống của mọi người. Nó đòi hỏi mỗi người phải khôn ngoan, nhất là những ai đang cầm quyền. Công ích gồm ba yếu tố căn bản:

By common good is to be understood "the sum total of social conditions which allow people, either as groups or as individuals, to reach their fulfillment more fully and more easily." The common good concerns the life of all. It calls for prudence from each, and even more from those who exercise the office of authority. It consists of three essential elements:

1907

Trước hết, công ích giả thiết phải tôn trọng cá vị theo đúng nghĩa. Vì công ích, các nhà cầm quyền phải tôn trọng các quyền căn bản và bất khả nhượng của nhân vị. Xã hội phải để cho mỗi thành viên thực hiện ơn gọi của mình. Đặc biệt, công ích nằm trong những điều kiện để thực thi các sự tự do tự nhiên, các sự tự do đó là cần thiết để ơn gọi nhân linh được phát triển: như quyền “hành động theo quy tắc ngay thẳng của lương tâm mình, quyền bảo vệ đời tư và quyền tự do chính đáng, cả trong vấn đề tôn giáo.”

First, the common good presupposes respect for the person as such. In the name of the common good, public authorities are bound to respect the fundamental and inalienable rights of the human person. Society should permit each of its members to fulfill his vocation. In particular, the common good resides in the conditions for the exercise of the natural freedoms indispensable for the development of the human vocation, such as "the right to act according to a sound norm of conscience and to safeguard . . . privacy, and rightful freedom also in matters of religion."

1908

Thứ hai, công ích đòi hỏi sự thịnh vượng xã hội và sự phát triển của chính tập thể. Sự phát triển là tóm kết của tất cả mọi trách nhiệm xã hội. Vì công ích, quyền bính có nhiệm vụ phân xử giữa các quyền lợi riêng tư khác nhau. Nhưng quyền bính phải giúp mỗi người có được những gì cần thiết để có được một cuộc sống thật sự nhân bản: lương thực, áo quần, sức khỏe, việc làm, giáo dục và văn hóa, được thông tin đầy đủ, quyền xây dựng gia đình, v.v...

Second, the common good requires the social well-being and development of the group itself. Development is the epitome of all social duties. Certainly, it is the proper function of authority to arbitrate, in the name of the common good, between various particular interests; but it should make accessible to each what is needed to lead a truly human life: food, clothing, health, work, education and culture, suitable information, the right to establish a family, and so on.

1909

Cuối cùng, công ích bao hàm hòa bình, nghĩa là, sự bền vững và sự an ninh của một trật tự chính đáng. Vì vậy, công ích giả thiết rằng quyền bính, bằng những phương tiện trung thực, phải bảo đảm an ninh cho xã hội và cho các thành viên của xã hội. Công ích thiết lập quyền tự vệ chính đáng của cá vị và tập thể.

Finally, the common good requires peace, that is, the stability and security of a just order. It presupposes that authority should ensure by morally acceptable means the security of society and its members. It is the basis of the right to legitimate personal and collective defence.

1910

Nếu mỗi cộng đồng nhân loại đều có một công ích cho phép mình nhận biết mình theo đúng nghĩa, thì người ta thấy sự hoàn thành đầy đủ nhất của một công ích như vậy trong cộng đồng chính trị. Nhà Nước có nhiệm vụ bảo vệ và thăng tiến công ích của xã hội dân sự, của các công dân và các tổ chức trung gian.

Each human community possesses a common good which permits it to be recognized as such; it is in the political community that its most complete realization is found. It is the role of the state to defend and promote the common good of civil society, its citizens, and intermediate bodies.

1911

Những lệ thuộc giữa con người với nhau trở nên chặt chẽ hơn. Những lệ thuộc đó dần dần được mở rộng khắp thế giới. Sự hợp nhất của gia đình nhân loại, khi quy tụ những thành viên có cùng một phẩm giá theo bản tính, đòi hỏi có một công ích phổ quát. Công ích này đòi sự tổ chức của cộng đồng các quốc gia, “có khả năng đáp ứng những nhu cầu khác nhau của con người trong các lãnh vực của đời sống xã hội như thực phẩm, sức khỏe, giáo dục..., cũng như trong một số hoàn cảnh đặc biệt có thể xảy ra nơi này nơi khác,... như làm nhẹ bớt những khốn khổ của những người tị nạn rải rác khắp thế giới, hoặc giúp đỡ cho những người di cư và gia đình họ.”

Human interdependence is increasing and gradually spreading throughout the world. the unity of the human family, embracing people who enjoy equal natural dignity, implies a universal common good. This good calls for an organization of the community of nations able to "provide for the different needs of men; this will involve the sphere of social life to which belong questions of food, hygiene, education, . . . and certain situations arising here and there, as for example . . . alleviating the miseries of refugees dispersed throughout the world, and assisting migrants and their families."

1912

Công ích luôn hướng tới việc thăng tiến con người: “Trật tự của các sự việc phải lệ thuộc trật tự của các cá vị chứ không ngược lại.” Trật tự này được đặt nền trong chân lý, được xây dựng trên công bằng, được có sự sống bởi tình yêu.

The common good is always oriented towards the progress of persons: "The order of things must be subordinate to the order of persons, and not the other way around." This order is founded on truth, built up in justice, and animated by love.

1913

Tham gia là sự dấn thân tự nguyện và quảng đại của cá vị vào những giao dịch xã hội. Cần thiết là, tất cả mọi người phải tham gia vào việc mưu cầu công ích, mỗi người theo địa vị và vai trò mình đảm nhận. Bổn phận này gắn liền với phẩm giá của nhân vị.

"Participation" is the voluntary and generous engagement of a person in social interchange. It is necessary that all participate, each according to his position and role, in promoting the common good. This obligation is inherent in the dignity of the human person.

1914

Trước hết, sự tham gia được thể hiện bằng việc đảm nhận nhiệm vụ trong các phần việc thuộc trách nhiệm cá vị: khi quan tâm chăm sóc gia đình mình, khi làm việc của mình một cách có lương tâm, là con người tham gia vào công ích của những người khác và của xã hội.

Participation is achieved first of all by taking charge of the areas for which one assumes personal responsibility: by the care taken for the education of his family, by conscientious work, and so forth, man participates in the good of others and of society.

1915

Các công dân phải tích cực tham gia càng nhiều càng tốt vào đời sống cộng đồng. Cách tham gia có thể khác nhau từ nước này đến nước khác, hoặc từ nền văn hóa này đến nền văn hóa khác. “Phải khen ngợi đường lối hành động của những quốc gia đang để cho các công dân được tham gia tối đa vào việc nước trong sự tự do đích thực.”

As far as possible citizens should take an active part in public life. the manner of this participation may vary from one country or culture to another. "One must pay tribute to those nations whose systems permit the largest possible number of the citizens to take part in public life in a climate of genuine freedom."

1916

Cũng như mọi bổn phận đạo đức, sự tham gia của mọi người trong việc hoạt động cho công ích, bao hàm sự hối cải không ngừng được canh tân của các thành viên của xã hội. Phải kết án nghiêm khắc sự gian lận và những mánh lới khác mà một số người dùng để trốn tránh các đòi buộc của luật pháp và các quy định của bổn phận xã hội, vì chúng không thể đi đôi với những đòi hỏi của đức công bằng. Phải quan tâm phát triển những cơ chế giúp cải thiện các điều kiện của đời sống con người.

As with any ethical obligation, the participation of all in realizing the common good calls for a continually renewed conversion of the social partners. Fraud and other subterfuges, by which some people evade the constraints of the law and the prescriptions of societal obligation, must be firmly condemned because they are incompatible with the requirements of justice. Much care should be taken to promote institutions that improve the conditions of human life.

1917

Những người đang thực thi nhiệm vụ của quyền bính có bổn phận khẳng định những giá trị đem lại sự tín nhiệm nơi các thành viên của tập thể, và khuyến khích họ tham gia phục vụ đồng loại của mình. Sự tham gia bắt đầu từ việc giáo dục và văn hóa. “Chúng ta có lý do chính đáng để nghĩ rằng: tương lai nhân loại nằm trong tay những người có khả năng trao cho các thế hệ đến sau những lý do để sống và để hy vọng.”

It is incumbent on those who exercise authority to strengthen the values that inspire the confidence of the members of the group and encourage them to put themselves at the service of others. Participation begins with education and culture. "One is entitled to think that the future of humanity is in the hands of those who are capable of providing the generations to come with reasons for life and optimism."

1918

“Không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập” (Rm 13,1).

"There is no authority except from God, and those authorities that exist have been instituted by God" (Rom 13:1).

1919

Mọi cộng đồng nhân loại đều cần có quyền bính để cộng đoàn được duy trì và phát triển.

Every human community needs an authority in order to endure and develop.

1920

“Cộng đồng chính trị và công quyền đặt nền tảng trên bản tính con người, cho nên cũng nằm trong một trật tự do Thiên Chúa ấn định.”

"The political community and public authority are based on human nature and therefore . . . belong to an order established by God" (GS 74 # 3).

1921

Quyền bính được thực thi một cách hợp pháp khi nó được áp dụng để theo đuổi công ích của xã hội. Để đạt được điều đó, quyền bính phải dùng những phương thế có thể chấp nhận được về mặt luân lý.

Authority is exercised legitimately if it is committed to the common good of society. To attain this it must employ morally acceptable means.

1922

Sự khác biệt về các thể chế chính trị là điều hợp pháp, miễn là chúng phục vụ công ích của cộng đồng.

The diversity of political regimes is legitimate, provided they contribute to the good of the community.

1923

Quyền bính chính trị phải được khai triển trong những giới hạn của trật tự luân lý và phải bảo đảm những điều kiện để thực thi quyền tự do.

Political authority must be exercised within the limits of the moral order and must guarantee the conditions for the exercise of freedom.

1924

Công ích là “toàn thể những điều kiện của đời sống xã hội giúp cả những tập thể, cả những phần tử riêng rẽ, đạt tới sự hoàn hảo riêng của mình một cách đầy đủ và dễ dàng hơn.”

The common good comprises "the sum total of social conditions which allow people, either as groups or as individuals, to reach their fulfillment more fully and more easily" (GS 26 1).

1925

Công ích gồm ba yếu tố căn bản: tôn trọng và phát huy các quyền lợi căn bản của con người; sự thịnh vượng hay sự phát triển các lợi ích tinh thần và vật chất của xã hội; hòa bình và an ninh cho tập thể và cho các thành viên của tập thể.

The common good consists of three essential elements: respect for and promotion of the fundamental rights of the person; prosperity, or the development of the spiritual and temporal goods of society; the peace and security of the group and of its members.

1926

Phẩm giá của nhân vị bao hàm việc mưu cầu công ích. Mỗi người phải quan tâm cổ võ và nâng đỡ những tổ chức nhằm cải thiện các điều kiện của đời sống con người.

The dignity of the human person requires the pursuit of the common good. Everyone should be concerned to create and support institutions that improve the conditions of human life.

1927

Nhà nước có bổn phận bảo vệ và phát huy công ích của xã hội dân sự. Công ích của toàn thể gia đình nhân loại đòi phải có một tổ chức xã hội nào đó có tầm vóc quốc tế.

It is the role of the state to defend and promote the common good of civil society. the common good of the whole human family calls for an organization of society on the international level.