Xã hội bảo đảm công bằng xã hội, khi tạo điều kiện để các đoàn thể và mỗi cá nhân có được những gì họ có quyền hưởng theo bản tính và ơn gọi của họ. Công bằng xã hội được liên kết với công ích và với việc thực thi quyền bính.
Society ensures social justice when it provides the conditions that allow associations or individuals to obtain what is their due, according to their nature and their vocation. Social justice is linked to the common good and the exercise of authority.
Không thể có công bằng xã hội, nếu không có sự tôn trọng phẩm giá siêu việt của con người. Nhân vị là mục đích tối hậu của xã hội, vì xã hội được quy hướng về nhân vị: “Việc bảo vệ và thăng tiến phẩm giá của nhân vị được Đấng Tạo Hóa ủy thác cho chúng ta, và bất cứ ở thời đại nào trong lịch sử, các người nam và người nữ đều mắc nợ về điều đó, vì nhiệm vụ đã lãnh nhận.”
Social justice can be obtained only in respecting the transcendent dignity of man. the person represents the ultimate end of society, which is ordered to him:
Sự tôn trọng nhân vị bao hàm việc tôn trọng các quyền phát xuất từ phẩm giá của nhân vị, xét như một thụ tạo. Các quyền đó có trước xã hội và được ấn định cho xã hội. Các quyền đó đặt nền cho tính hợp pháp về mặt luân lý của mọi quyền bính: khi khinh miệt hay phủ nhận các quyền đó trong luật thiết định của mình, là xã hội phá hủy tính hợp pháp về mặt luân lý của chính mình. Không có sự tôn trọng như vậy, quyền bính chỉ có thể dựa trên sức mạnh hay bạo lực, để bắt buộc những người dưới quyền mình phải tuân phục. Hội Thánh có bổn phận nhắc nhở những người thiện chí về những quyền này và phân biệt chúng với những yêu sách thái quá hoặc sai lầm.
Respect for the human person entails respect for the rights that flow from his dignity as a creature. These rights are prior to society and must be recognized by it. They are the basis of the moral legitimacy of every authority: by flouting them, or refusing to recognize them in its positive legislation, a society undermines its own moral legitimacy. If it does not respect them, authority can rely only on force or violence to obtain obedience from its subjects. It is the Church's role to remind men of good will of these rights and to distinguish them from unwarranted or false claims.
Để tôn trọng nhân vị, phải tôn trọng nguyên tắc này: “Mỗi người phải coi người lân cận, không trừ một ai, như ‘cái tôi thứ hai của mình’, nên trước hết phải quan tâm đến sự sống của họ và những phương tiện cần thiết giúp họ sống xứng với nhân phẩm.” Không một luật pháp nào tự mình có thể xóa bỏ được các nỗi sợ hãi, những thành kiến, những thái độ kiêu căng và ích kỷ, vẫn ngăn trở việc xây dựng những xã hội thật sự huynh đệ. Những thái độ đó chỉ chấm dứt nhờ đức mến là nhân đức nhận ra mỗi người đều là “người lân cận”, là anh em.
Respect for the human person proceeds by way of respect for the principle that "everyone should look upon his neighbor (without any exception) as 'another self,' above all bearing in mind his life and the means necessary for living it with dignity." No legislation could by itself do away with the fears, prejudices, and attitudes of pride and selfishness which obstruct the establishment of truly fraternal societies. Such behavior will cease only through the charity that finds in every man a "neighbor," a brother.
Bổn phận “trở nên người lân cận” của người khác và tích cực phục vụ họ lại càng khẩn thiết hơn, khi họ nghèo khổ hơn về bất cứ phương diện nào. “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).
The duty of making oneself a neighbor to others and actively serving them becomes even more urgent when it involves the disadvantaged, in whatever area this may be. "As you did it to one of the least of these my brethren, you did it to me."
Bổn phận này được mở rộng tới những người suy nghĩ hay hành động khác với chúng ta. Giáo huấn của Đức Kitô đòi buộc phải đi đến chỗ tha thứ mọi xúc phạm. Giáo huấn đó còn mở rộng giới răn yêu thương, là nét độc đáo của Lề luật mới, đến tất cả các kẻ thù. Sự giải phóng theo tinh thần Tin Mừng không thể đi đôi với sự oán ghét kẻ thù, xét như một cá vị, nhưng phải oán ghét điều xấu mà người, xét như kẻ thù, đã làm.
This same duty extends to those who think or act differently from us. the teaching of Christ goes so far as to require the forgiveness of offenses. He extends the commandment of love, which is that of the New Law, to all enemies. Liberation in the spirit of the Gospel is incompatible with hatred of one's enemy as a person, but not with hatred of the evil that he does as an enemy.
Tất cả mọi người, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa duy nhất, được phú ban một linh hồn có lý trí như nhau, nên có cùng một bản tính và cùng một nguồn gốc. Được cứu chuộc nhờ hy lễ của Đức Kitô, mọi người đều được mời gọi tham dự cùng một vinh phúc thần linh: vì vậy, mọi người đều được hưởng cùng một phẩm giá.
Created in the image of the one God and equally endowed with rational souls, all men have the same nature and the same origin. Redeemed by the sacrifice of Christ, all are called to participate in the same divine beatitude: all therefore enjoy an equal dignity.
Sự bình đẳng giữa con người với nhau chủ yếu dựa trên phẩm giá cá vị và các quyền phát xuất từ phẩm giá đó: “Trong những quyền căn bản của cá vị, phải vượt lên trên và loại bỏ mọi cách thức kỳ thị hoặc xã hội hoặc văn hóa, phái tính, chủng tộc, màu da, địa vị xã hội, ngôn ngữ hoặc tôn giáo, vì như vậy là trái với ý định của Thiên Chúa.”
The equality of men rests essentially on their dignity as persons and the rights that flow from it:
Khi chào đời, con người không có tất cả những gì cần thiết để phát triển đời sống thể xác và tinh thần của mình. Con người cần đến những người khác. Những khác biệt đã xuất hiện về tuổi tác, về những khả năng thể lý, về những khả năng trí tuệ và luân lý, về những trao đổi mà mỗi người đã có thể có được, về sự phân phối của cải. “Những nén bạc” không được phân phối một cách bằng nhau.
On coming into the world, man is not equipped with everything he needs for developing his bodily and spiritual life. He needs others. Differences appear tied to age, physical abilities, intellectual or moral aptitudes, the benefits derived from social commerce, and the distribution of wealth. The "talents" are not distributed equally.
Những khác biệt này nằm trong chương trình của Thiên Chúa, Đấng muốn người này đón nhận những gì mình cần từ người khác, và muốn những ai lãnh được “những nén bạc” đặc biệt, phải biết truyền thông chúng cho những người cần đến chúng. Các khác biệt khuyến khích và nhiều khi đòi buộc các cá vị sống quảng đại, nhân hậu và chia sẻ; chúng cũng thúc đẩy các nền văn hóa làm phong phú lẫn nhau: “Tại sao Cha lại ban những nhân đức khác nhau như vậy, mà không ban mọi nhân đức cho một người, nhưng ban nhân đức này cho người này, nhân đức kia cho kẻ khác?... Cha đặc biệt sẽ ban cho người này đức mến; người khác đức công bằng; kẻ này đức khiêm nhường; kẻ kia đức tin sống động... Và như vậy Cha đã ban nhiều hồng ân và ân sủng, cả thiêng liêng cả trần thế... Cha đã ban mọi sự một cách rất không đồng đều, Cha không ban mọi sự cho một người, để các con nhất thiết có cơ hội thực thi bác ái, người này đối với người kia;... Cha đã muốn người này cần đến người khác và là thừa tác viên của Cha để phân phát các ân sủng và hồng ân mà họ đã lãnh nhận từ nơi Cha.”
These differences belong to God's plan, who wills that each receive what he needs from others, and that those endowed with particular "talents" share the benefits with those who need them. These differences encourage and often oblige persons to practice generosity, kindness, and sharing of goods; they foster the mutual enrichment of cultures:
Nhưng cũng có những sự bất bình đẳng bất công mà hàng triệu người nam và người nữ phải gánh chịu. Những bất bình đẳng đó rõ ràng nghịch lại với Tin Mừng: “Phẩm giá bình đẳng của các cá vị đòi hỏi rằng điều kiện của đời sống phải trở nên nhân bản hơn và bình đẳng. Thật vậy, những bất bình đẳng thái quá về kinh tế và xã hội giữa những thành phần hay giữa những dân tộc của một gia đình nhân loại duy nhất là một cớ vấp phạm, và đi ngược với sự công bằng xã hội, công lý, phẩm giá của nhân vị và nền hòa bình xã hội và quốc tế.”
There exist also sinful inequalities that affect millions of men and women. These are in open contradiction of the Gospel:
Nguyên tắc liên đới, còn được gọi là nguyên tắc của “tình thân nghĩa” hay “bác ái xã hội”, là một đòi hỏi trực tiếp của tình huynh đệ nhân bản và Kitô Giáo. “Điều sai lầm đầu tiên, mà ngày nay đang phổ biến một cách rộng rãi và nguy hiểm, là người ta quên mất quy luật của tình liên đới nhân loại và của đức mến, quy luật này được thiết đặt và bắt buộc vừa do nguồn gốc chung của chúng ta và do sự bình đẳng của bản tính có lý trí của mọi người, dù thuộc bất cứ dân tộc nào, vừa do hy tế cứu chuộc Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha vĩnh cửu, nơi bàn thờ thập giá, vì nhân loại tội lỗi.”
The principle of solidarity, also articulated in terms of "friendship" or "social charity," is a direct demand of human and Christian brotherhood.
Tình liên đới trước hết được biểu lộ trong việc phân phối của cải và việc trả lương lao động. Tình liên đới cũng bao hàm sự nỗ lực cho một trật tự xã hội công bằng hơn, trong đó những căng thẳng có thể được giải quyết tốt hơn và chúng có thể gặp được giải pháp liên kết dễ dàng hơn.
Solidarity is manifested in the first place by the distribution of goods and remuneration for work. It also presupposes the effort for a more just social order where tensions are better able to be reduced and conflicts more readily settled by negotiation.
Những vấn đề xã hội và kinh tế không thể được giải quyết nếu không có sự trợ giúp của mọi hình thức liên đới: liên đới giữa những người nghèo với nhau, giữa người giàu với người nghèo, giữa những người lao động với nhau, giữa chủ và thợ trong xí nghiệp, liên đới giữa các quốc gia và giữa các dân tộc. Tình liên đới quốc tế là một đòi hỏi của trật tự luân lý. Hòa bình thế giới cũng một phần tùy thuộc tình liên đới này.
Socio-economic problems can be resolved only with the help of all the forms of solidarity: solidarity of the poor among themselves, between rich and poor, of workers among themselves, between employers and employees in a business, solidarity among nations and peoples. International solidarity is a requirement of the moral order; world peace depends in part upon this.
Nhân đức liên đới vượt quá phạm vi các của cải vật chất. Khi phân phát các của cải tinh thần của đức tin, Hội Thánh đã giúp phát triển những của cải trần thế nhiều hơn nữa, Hội Thánh đã thường mở ra những con đường mới cho cuộc phát triển này. Như vậy, qua dòng thời gian, Lời Chúa đã được thực hiện: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài, còn tất cả những thứ kia, Ngài sẽ thêm cho” (Mt 6,33): “Hai ngàn năm qua, trong linh hồn Hội Thánh, vẫn có một tâm tình sống động đã và đang thúc đẩy nhiều người sống đời bác ái đến mức anh hùng - các đan sĩ cày sâu cuốc bẫm, những nhà giải phóng nô lệ, những người chữa trị bệnh nhân, các sứ giả mang đức tin, văn minh và khoa học đến với mọi thế hệ và dân tộc, nhằm tạo ra những điều kiện xã hội có khả năng giúp mọi người có được một đời sống xứng đáng với phẩm giá con người và phẩm giá Kitô hữu.”
The virtue of solidarity goes beyond material goods. In spreading the spiritual goods of the faith, the Church has promoted, and often opened new paths for, the development of temporal goods as well. and so throughout the centuries has the Lord's saying been verified: "Seek first his kingdom and his righteousness, and all these things shall be yours as well":
Xã hội bảo đảm công bằng xã hội, khi tạo điều kiện để các đoàn thể và mỗi cá nhân có được những gì họ có quyền hưởng.
Society ensures social justice by providing the conditions that allow associations and individuals to obtain their due.
Tôn trọng nhân vị của những người khác là coi họ như “cái tôi thứ hai.” Sự tôn trọng nhân vị giả thiết việc tôn trọng các quyền căn bản phát xuất từ phẩm giá nội tại của nhân vị.
Respect for the human person considers the other "another self." It presupposes respect for the fundamental rights that flow from the dignity intrinsic of the person.
Sự bình đẳng giữa con người với nhau dựa trên phẩm giá cá vị và các quyền phát xuất từ phẩm giá đó.
The equality of men concerns their dignity as persons and the rights that flow from it.
Những khác biệt giữa các nhân vị nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa, Đấng muốn chúng ta và người khác cần đến nhau. Những khác biệt ấy phải khơi dậy đức mến.
The differences among persons belong to God's plan, who wills that we should need one another. These differences should encourage charity.
Phẩm giá bình đẳng của các nhân vị đòi hỏi phải cố gắng giảm thiểu những bất bình đẳng thái quá về kinh tế và xã hội. Phẩm giá đó thúc đẩy việc hủy bỏ những bất bình đẳng bất công.
The equal dignity of human persons requires the effort to reduce excessive social and economic inequalities. It gives urgency to the elimination of sinful inequalities.
Nhân đức liên đới là một nhân đức mang tính Kitô Giáo rất cao. Nó thực thi việc chia sẻ các của cải tinh thần hơn là chia sẻ các của cải vật chất.
Solidarity is an eminently Christian virtue. It practices the sharing of spiritual goods even more than material ones.