Con người, được kêu gọi hưởng vinh phúc, nhưng bị tổn thương bởi tội lỗi, nên cần ơn cứu độ của Thiên Chúa. Sự trợ giúp thần linh đến với con người trong Đức Kitô, nhờ Lề luật để hướng dẫn họ, và trong ân sủng để nâng đỡ họ: “Anh em hãy biết run sợ mà gắng sức lo sao cho mình được cứu độ. Vì chính Thiên Chúa tác động đến ý chí cũng như hành động của anh em do lòng yêu thương của Ngài” (Pl 2,12-13).
Called to beatitude but wounded by sin, man stands in need of salvation from God. Divine help comes to him in Christ through the law that guides him and the grace that sustains him:
Luật luân lý là công trình của đức Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Theo nghĩa Thánh Kinh, luật này có thể được định nghĩa như việc dạy dỗ của một người cha, như một khoa sư phạm của Thiên Chúa. Luật luân lý quy định cho con người những con đường, những quy tắc hành động dẫn đưa họ tới vinh phúc Thiên Chúa đã hứa; và ngăn cấm những con đường dẫn đến sự dữ khiến con người xa lìa Thiên Chúa và tình yêu của Ngài. Luật luân lý đồng thời vừa kiên định trong các mệnh lệnh của nó, vừa đáng mến trong các lời hứa của nó.
The moral law is the work of divine Wisdom. Its biblical meaning can be defined as fatherly instruction, God's pedagogy. It prescribes for man the ways, the rules of conduct that lead to the promised beatitude; it proscribes the ways of evil which turn him away from God and his love. It is at once firm in its precepts and, in its promises, worthy of love.
Luật là một quy tắc hành động được quyền bính có thẩm quyền công bố vì công ích. Luật luân lý giả thiết một trật tự hữu lý được thiết lập giữa các thụ tạo, vì lợi ích của chúng và nhằm vào mục đích của chúng, do quyền năng, sự khôn ngoan và sự tốt lành của Đấng Tạo Hóa. Mọi luật đều gặp được chân lý đầu tiên và tối hậu của mình trong Lề Luật vĩnh cửu. Luật được công bố và thiết lập bởi lý trí, xét như việc tham gia vào sự quan phòng của Thiên Chúa hằng sống, là Đấng Tạo hóa và Đấng Cứu Chuộc mọi người. “Luật được mệnh danh là chỉ thị của lý trí.” “Trong tất cả các sinh linh, chỉ con người được vinh dự, là chỉ con người xứng đáng đón nhận Lề luật từ Thiên Chúa, và như một sinh vật có lý trí, có khả năng để hiểu biết và nhận định, con người phải dùng chính sự tự do có lý trí mà suy phục Đấng đã bắt mọi sự suy phục mình.”
Law is a rule of conduct enacted by competent authority for the sake of the common good. the moral law presupposes the rational order, established among creatures for their good and to serve their final end, by the power, wisdom, and goodness of the Creator. All law finds its first and ultimate truth in the eternal law. Law is declared and established by reason as a participation in the providence of the living God, Creator and Redeemer of all. "Such an ordinance of reason is what one calls law."
Có những cách diễn tả khác nhau của Luật luân lý, và thật sự, tất cả đều liên kết với nhau: Lề luật vĩnh cửu, là nguồn mạch của mọi luật trong Thiên Chúa; luật tự nhiên; Luật được mặc khải gồm Luật cũ và Luật mới hoặc Luật Tin Mừng; sau cùng là các dân luật và giáo luật.
There are different expressions of the moral law, all of them interrelated: eternal law - the source, in God, of all law; natural law; revealed law, comprising the Old Law and the New Law, or Law of the Gospel; finally, civil and ecclesiastical laws.
Luật luân lý gặp được sự viên mãn và sự thống nhất của mình trong Đức Kitô. Chúa Giêsu Kitô là con đường của sự trọn hảo. Chính Người là mục đích của Lề luật, bởi vì chỉ có Người dạy dỗ và ban sự công chính của Thiên Chúa. “Cứu cánh của Lề luật là Đức Kitô, khiến bất cứ ai tin đều được nên công chính” (Rm 10,4).
The moral law finds its fullness and its unity in Christ. Jesus Christ is in person the way of perfection. He is the end of the law, for only he teaches and bestows the justice of God: "For Christ is the end of the law, that every one who has faith may be justified."
Con người tham dự vào sự khôn ngoan và sự tốt lành của Đấng Tạo Hóa, Đấng đã cho họ quyền làm chủ mọi hành vi của họ và khả năng tự hướng đến chân lý và điều thiện. Luật tự nhiên diễn tả cảm thức luân lý nguyên thủy, nhờ đó con người dùng lý trí mà phân định điều gì là tốt và điều gì là xấu, điều gì là chân lý và điều gì là dối trá: “Luật tự nhiên đã được viết và được ghi khắc trong tâm hồn mỗi người, bởi vì chính lý trí con người ra lệnh hành động một cách ngay thẳng và tránh phạm tội. Nhưng quy định này của lý trí con người không thể có giá trị là luật, nếu nó không phải tiếng nói và thông dịch viên của một lý trí cao hơn, mà tâm trí và sự tự do của chúng ta đều phải suy phục.”
Man participates in the wisdom and goodness of the Creator who gives him mastery over his acts and the ability to govern himself with a view to the true and the good.
Luật thần linh và tự nhiên vạch cho con người thấy con đường phải theo để thực thi điều tốt và đạt tới mục đích của mình. Luật tự nhiên nêu ra những mệnh lệnh đầu tiên và căn bản điều khiển đời sống luân lý. Luật tự nhiên có nền tảng là tâm tình khao khát và quy phục Thiên Chúa, Đấng là nguồn mạch và thẩm phán của mọi điều thiện hảo, và cũng có nền tảng là cảm thức về tha nhân như người bình đẳng với mình. Luật này được trình bày thành những điều răn chính trong Mười Điều Răn. Luật này được gọi là tự nhiên (naturalis), không phải vì liên quan đến những hữu thể không có lý trí, nhưng bởi vì lý trí công bố luật đó thuộc riêng về bản tính nhân linh (ad naturam humanam proprie pertinet): “Các quy luật này được ghi chép ở đâu nếu không phải là trong quyển sách của thứ ánh sáng được gọi là chân lý? Đó là nơi mọi lề luật chính đáng được viết ra; từ đó được chuyển vào trái tim con người để họ thực thi sự công chính; luật này không phải di cư vào trái tim con người, nhưng như được in vào đó, cũng như một hình ảnh từ một chiếc nhẫn ấn trên sáp mà không rời bỏ chiếc nhẫn.” “Luật tự nhiên không gì khác là ánh sáng trí tuệ do Thiên Chúa đặt trong ta; nhờ đó, chúng ta nhận biết điều phải làm và điều phải tránh. Thiên Chúa đã ban ánh sáng này và luật này cho con người trong công trình tạo dựng.”
The "divine and natural" law shows man the way to follow so as to practice the good and attain his end. the natural law states the first and essential precepts which govern the moral life. It hinges upon the desire for God and submission to him, who is the source and judge of all that is good, as well as upon the sense that the other is one's equal. Its principal precepts are expressed in the Decalogue. This law is called "natural," not in reference to the nature of irrational beings, but because reason which decrees it properly belongs to human nature:
Hiện diện trong trái tim mỗi người và được thiết lập bởi lý trí, luật tự nhiên có giá trị phổ quát trong các mệnh lệnh của nó, và quyền bính của nó trải rộng đến tất cả mọi người. Luật này diễn tả phẩm giá của nhân vị và đặt nền tảng cho các quyền lợi và nghĩa vụ căn bản của nhân vị: “Thật sự có một luật chân thật là lẽ phải, phù hợp với bản tính, được tuôn đổ trong mọi người, bền vững, vĩnh cửu, nó kêu gọi bổn phận phải thi hành, nó ngăn cản sự gian lận phải xa lánh... Thay luật này bằng một luật nghịch lại là phạm thánh, không được phép rút bỏ điều gì khỏi luật này, và cũng không thể hoàn toàn hủy bỏ luật này.”
The natural law, present in the heart of each man and established by reason, is universal in its precepts and its authority extends to all men. It expresses the dignity of the person and determines the basis for his fundamental rights and duties:
Việc áp dụng luật tự nhiên rất đa dạng; có thể suy nghĩ để thích ứng với những điều kiện đa dạng của đời sống, tùy theo nơi chốn, thời đại và hoàn cảnh. Tuy nhiên, trong sự khác biệt của các nền văn hóa, luật tự nhiên vẫn là một quy tắc nối kết con người với nhau, ấn định những nguyên tắc chung, trừ những khác biệt không thể tránh khỏi.
Application of the natural law varies greatly; it can demand reflection that takes account of various conditions of life according to places, times, and circumstances. Nevertheless, in the diversity of cultures, the natural law remains as a rule that binds men among themselves and imposes on them, beyond the inevitable differences, common principles.
Luật tự nhiên là bất biến và trường tồn qua mọi thay đổi của lịch sử. Nó tồn tại qua những trào lưu tư tưởng và tập tục, và nâng đỡ sự phát triển của chúng. Những quy tắc diễn tả luật tự nhiên, về bản chất vẫn luôn có hiệu lực. Mặc dầu những nguyên lý của luật tự nhiên có bị chối bỏ, thì chính nó cũng không thể bị hủy diệt và không thể bị gạt ra khỏi trái tim con người. Luật tự nhiên luôn trỗi dậy trong đời sống của các cá nhân và các xã hội: “Lạy Chúa, chắc chắn tội trộm cắp bị trừng phạt bởi Lề luật của Chúa, và bởi luật đã được ghi trong trái tim con người, luật mà chính sự gian ác cũng không xóa bỏ được.”
The natural law is immutable and permanent throughout the variations of history; it subsists under the flux of ideas and customs and supports their progress. the rules that express it remain substantially valid. Even when it is rejected in its very principles, it cannot be destroyed or removed from the heart of man. It always rises again in the life of individuals and societies:
Luật tự nhiên, là công trình tốt nhất của Đấng Tạo Hóa, mang lại những nền tảng vững chắc, trên đó con người có thể xây dựng tòa nhà là các quy luật luân lý để hướng dẫn những chọn lựa của họ. Luật tự nhiên cũng đặt nền móng luân lý hết sức cần thiết để xây dựng cộng đồng nhân loại. Và sau cùng, nó cung cấp nền móng cần thiết cho luật dân sự, luật này được quy chiếu về luật tự nhiên, hoặc bằng cách suy nghĩ để rút ra những kết luận từ các nguyên tắc của luật tự nhiên, hoặc bằng những bổ sung mang tính chất thiết định và pháp lý.
The natural law, the Creator's very good work, provides the solid foundation on which man can build the structure of moral rules to guide his choices. It also provides the indispensable moral foundation for building the human community. Finally, it provides the necessary basis for the civil law with which it is connected, whether by a reflection that draws conclusions from its principles, or by additions of a positive and juridical nature.
Những mệnh lệnh của luật tự nhiên không được mọi người nhận thức một cách rõ ràng và trực tiếp. Trong điều kiện hiện tại, ân sủng và Mặc khải là cần thiết cho con người tội lỗi, để các chân lý tôn giáo và luân lý “có thể được nhận biết bởi mọi người một cách không chút trở ngại, một cách chắc chắn vững vàng, và không pha trộn một sai lầm nào.” Luật tự nhiên mang lại cho Lề luật được mặc khải và cho ân sủng một nền tảng, đã được Thiên Chúa chuẩn bị sẵn và phù hợp với công cuộc của Thần Khí.
The precepts of natural law are not perceived by everyone clearly and immediately. In the present situation sinful man needs grace and revelation so moral and religious truths may be known "by everyone with facility, with firm certainty and with no admixture of error." The natural law provides revealed law and grace with a foundation prepared by God and in accordance with the work of the Spirit.
Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa và Đấng Cứu Độ của chúng ta, đã chọn Ítraen như dân riêng của Ngài, và đã mặc khải cho họ Lề Luật của Ngài và như vậy, chuẩn bị cho cuộc Ngự đến của Đức Kitô. Luật Môsê diễn tả nhiều chân lý mà lý trí có thể đạt tới một cách tự nhiên. Người ta gặp được các chân lý này được công bố và được chứng thực trong Giao ước cứu độ.
God, our Creator and Redeemer, chose Israel for himself to be his people and revealed his Law to them, thus preparing for the coming of Christ. the Law of Moses expresses many truths naturally accessible to reason. These are stated and authenticated within the covenant of salvation.
Luật cũ là cấp độ đầu tiên của Lề Luật được mặc khải. Các quy định luân lý của luật cũ được tóm lại trong Mười Điều Răn. Các mệnh lệnh của Mười Điều Răn đặt nền tảng cho ơn gọi của con người, vốn được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Các điều răn đó ngăn cấm những gì nghịch lại tình yêu đối với Thiên Chúa và đối với người lân cận, và quy định những đòi hỏi căn bản của tình yêu đó. Mười Điều Răn là ánh sáng được ban tặng cho lương tâm của mỗi người, giúp họ nhận ra lời kêu gọi của Thiên Chúa, và những con đường Ngài biểu lộ cho họ, và bảo vệ họ khỏi điều xấu: “Thiên Chúa đã viết trên các bảng Luật, tất cả những gì mà con người không đọc nổi trong trái tim họ.”
The Old Law is the first stage of revealed Law. Its moral prescriptions are summed up in the Ten Commandments. the precepts of the Decalogue lay the foundations for the vocation of man fashioned in the image of God; they prohibit what is contrary to the love of God and neighbor and prescribe what is essential to it. the Decalogue is a light offered to the conscience of every man to make God's call and ways known to him and to protect him against evil:
Theo truyền thống Kitô Giáo, Lề Luật thì thánh thiện, thiêng liêng, và tốt lành, nhưng vẫn chưa trọn hảo. Như một nhà sư phạm, luật đó cho thấy điều phải làm, nhưng tự nó không ban sức mạnh, ân sủng của Thần Khí để người ta chu toàn nó. Vì không xóa được tội lỗi, nên luật cũ vẫn còn là luật của tình trạng nô lệ. Theo thánh Phaolô, luật cũ có nhiệm vụ tố cáo và vạch trần tội lỗi, vì tội lỗi tạo ra thứ “luật của dục vọng” trong trái tim con người. Tuy nhiên, Lề Luật vẫn là chặng đầu tiên trên con đường dẫn đến Nước Trời. Nó chuẩn bị và giúp dân Chúa chọn và mỗi Kitô hữu sẵn sàng để hối cải và tin vào Thiên Chúa Cứu Độ. Với tính cách là lời của Thiên Chúa, Luật cũ đem lại đạo lý tồn tại đến muôn đời.
According to Christian tradition, the Law is holy, spiritual, and good, yet still imperfect. Like a tutor it shows what must be done, but does not of itself give the strength, the grace of the Spirit, to fulfill it. Because of sin, which it cannot remove, it remains a law of bondage. According to St. Paul, its special function is to denounce and disclose sin, which constitutes a "law of concupiscence" in the human heart. However, the Law remains the first stage on the way to the kingdom. It prepares and disposes the chosen people and each Christian for conversion and faith in the Savior God. It provides a teaching which endures for ever, like the Word of God.
Luật cũ là một sự chuẩn bị nào đó cho Tin Mừng. “Lề Luật là môn sư phạm và lời tiên báo về các điều sẽ đến.” Luật cũ nói tiên tri và báo trước công trình giải phóng khỏi tội lỗi sẽ được hoàn thành với Đức Kitô, cung cấp cho Tân Ước những hình ảnh, “những tiên trưng”, những biểu tượng, để diễn tả đời sống theo Thần Khí. Cuối cùng, luật được kiện toàn bởi đạo lý của các sách khôn ngoan và các Tiên Tri, các vị này quy hướng luật cũ tới Giao ước Mới và Nước Trời. “Dưới chế độ của Giao Ước Cũ, nhiều người đã có được đức mến và ân sủng của Chúa Thánh Thần và mong chờ những lời hứa thiêng liêng và vĩnh cửu. Và nhờ đó, họ đã được liên kết với Luật mới. Ngược lại, trong thời Giao Ước Mới, lại có những con người vẫn sống theo xác thịt, chưa đạt tới sự trọn hảo của Luật mới, vậy những người trong thời Giao Ước Mới này phải được dẫn tới các công việc nhân đức bằng sự sợ hãi các hình phạt, và bằng những lời hứa trần thế nào đó. Dù Luật cũ có dạy các điều răn của đức mến, nhưng Chúa Thánh Thần không được ban xuống nhờ luật đó, mà nhờ Chúa Thánh Thần, ‘Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta’ (Rm 5,5).”
The Old Law is a preparation for the Gospel. "The Law is a pedagogy and a prophecy of things to come." It prophesies and presages the work of liberation from sin which will be fulfilled in Christ: it provides the New Testament with images, "types," and symbols for expressing the life according to the Spirit. Finally, the Law is completed by the teaching of the sapiential books and the prophets which set its course toward the New Covenant and the Kingdom of heaven.
Luật mới hay Luật Tin Mừng là sự trọn hảo nơi trần thế của Luật thần linh, tự nhiên và được mặc khải. Đây là công trình của Đức Kitô, được trình bày cách đặc biệt trong Bài giảng trên núi. Đây cũng là công trình của Chúa Thánh Thần, và nhờ Ngài, nó trở thành luật nội tâm của đức mến: “Ta hoàn thành một Giao Ước Mới với nhà Ítraen và nhà Giuđa... Ta sẽ ghi vào lòng trí chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta; Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng còn chúng sẽ là Dân của Ta” (Hr 8,8.10).
The New Law or the Law of the Gospel is the perfection here on earth of the divine law, natural and revealed. It is the work of Christ and is expressed particularly in the Sermon on the Mount. It is also the work of the Holy Spirit and through him it becomes the interior law of charity: "I will establish a New Covenant with the house of Israel. . . . I will put my laws into their hands, and write them on their hearts, and I will be their God, and they shall be my people."
Luật mới là ân sủng của Chúa Thánh Thần được ban cho các tín hữu nhờ tin vào Đức Kitô. Luật này hoạt động nhờ đức mến, và dùng Bài giảng trên núi của Chúa để dạy chúng ta điều phải làm, và dùng các bí tích để truyền thông ân sủng giúp chúng ta thực hiện điều đó: “Nếu ai sốt sắng và bình tâm suy niệm bài giảng được Chúa chúng ta là Chúa Giêsu Kitô công bố trên núi, như chúng ta đọc trong sách Tin Mừng theo thánh Mátthêu, tôi nghĩ rằng người đó sẽ gặp được ở đó, vì là những lời răn dạy tốt nhất, một quy luật trọn hảo của đời sống Kitô hữu. Bài giảng này chứa đựng tất cả những mệnh lệnh mà nhờ đó đời sống Kitô hữu được nặn đúc nên.”
The New Law is the grace of the Holy Spirit given to the faithful through faith in Christ. It works through charity; it uses the Sermon on the Mount to teach us what must be done and makes use of the sacraments to give us the grace to do it:
Luật Tin Mừng hoàn thành, tinh luyện, vượt qua và kiện toàn Luật cũ. Trong các mối phúc, Luật mới hoàn thành các lời hứa thần linh khi nâng cao chúng lên và quy hướng chúng về “Nước Trời.” Luật Tin Mừng dành cho những ai sẵn sàng đón nhận niềm hy vọng mới này với lòng tin: những người nghèo, người khiêm tốn, người đau khổ, người có trái tim trong sạch, người bị bách hại vì Đức Kitô, như vậy Luật Tin Mừng phác họa những con đường chưa từng thấy của Nước Trời.
The Law of the Gospel "fulfills," refines, surpasses, and leads the Old Law to its perfection. In the Beatitudes, the New Law fulfills the divine promises by elevating and orienting them toward the "kingdom of heaven." It is addressed to those open to accepting this new hope with faith - the poor, the humble, the afflicted, the pure of heart, those persecuted on account of Christ and so marks out the surprising ways of the Kingdom.
Luật Tin Mừng hoàn thành các mệnh lệnh của Lề Luật. Bài giảng của Chúa không hủy bỏ hay làm giảm giá trị các quy định luân lý của Luật cũ, nhưng rút ra những sức mạnh còn ẩn kín của chúng, và làm cho từ nơi chúng phát sinh ra những đòi hỏi mới: Luật Tin Mừng mặc khải toàn bộ chân lý thần linh và nhân linh của Luật cũ. Luật mới không thêm những mệnh lệnh mới từ bên ngoài, nhưng đi đến chỗ biến đổi gốc rễ của các hành vi, là trái tim, nơi con người chọn lựa giữa thanh sạch và ô uế, nơi hình thành đức tin, đức cậy, đức mến, và cùng với chúng, các nhân đức khác. Như vậy, Tin Mừng đưa Lề Luật tới sự viên mãn của nó nhờ bắt chước sự trọn hảo của Cha trên trời, nhờ việc tha thứ cho kẻ thù và cầu nguyện cho những người bách hại, giống như lòng quảng đại của Thiên Chúa.
The Law of the Gospel fulfills the commandments of the Law. the Lord's Sermon on the Mount, far from abolishing or devaluing the moral prescriptions of the Old Law, releases their hidden potential and has new demands arise from them: it reveals their entire divine and human truth. It does not add new external precepts, but proceeds to reform the heart, the root of human acts, where man chooses between the pure and the impure, where faith, hope, and charity are formed and with them the other virtues. the Gospel thus brings the Law to its fullness through imitation of the perfection of the heavenly Father, through forgiveness of enemies and prayer for persecutors, in emulation of the divine generosity.
Luật mới thực thi các hành vi tôn giáo: bố thí, cầu nguyện và chay tịnh, khi quy hướng các việc đó về “Chúa Cha, Đấng thấu suốt những gì kín đáo”, khác với những người muốn “được người ta thấy.” Lời cầu nguyện của Luật mới là kinh “Lạy Cha.”
The New Law practices the acts of religion: almsgiving, prayer and fasting, directing them to the "Father who sees in secret," in contrast with the desire to "be seen by men." Its prayer is the Our Father.
Luật Tin Mừng bao hàm sự chọn lựa dứt khoát giữa “hai con đường”, và thực hiện các lời dạy của Chúa; Luật Tin Mừng được tóm lược trong khuôn vàng thước ngọc: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7,12). Toàn bộ Luật Tin Mừng được chứa đựng trong điều răn mới của Chúa Giêsu, là chúng ta hãy yêu thương nhau như Người đã yêu thương chúng ta.
The Law of the Gospel requires us to make the decisive choice between "the two ways" and to put into practice the words of the Lord. It is summed up in the Golden Rule, "Whatever you wish that men would do to you, do so to them; this is the law and the prophets." The entire Law of the Gospel is contained in the "new commandment" of Jesus, to love one another as he has loved us.
Phải thêm vào bài giảng của Chúa giáo lý luân lý trong giáo huấn của các Tông Đồ, như các đoạn Rm 12-15; 1 Cr 12-13; Cl 3-4; Ep 4-5; v.v... Giáo huấn này lưu truyền đạo lý của Chúa với quyền bính của các Tông Đồ, đặc biệt trong việc trình bày các nhân đức xuất phát từ đức tin vào Đức Kitô và là các nhân đức được đức mến, hồng ân chủ yếu của Chúa Thánh Thần, làm cho sinh động. “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ... thương mến nhau với tình huynh đệ... Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà” (Rm 12,9-13). Giáo lý này cũng dạy chúng ta giải quyết những vấn đề lương tâm dưới ánh sáng của mối tương quan giữa chúng ta với Đức Kitô và với Hội Thánh.
To the Lord's Sermon on the Mount it is fitting to add the moral catechesis of the apostolic teachings, such as Romans 12-15, 1 Corinthians 12-13, Colossians 3-4, Ephesians 4-5, etc. This doctrine hands on the Lord's teaching with the authority of the apostles, particularly in the presentation of the virtues that flow from faith in Christ and are animated by charity, the principal gift of the Holy Spirit. "Let charity be genuine.... Love one another with brotherly affection.... Rejoice in your hope, be patient in tribulation, be constant in prayer. Contribute to the needs of the saints, practice hospitality." This catechesis also teaches us to deal with cases of conscience in the light of our relationship to Christ and to the Church.
Luật mới được gọi là luật của tình yêu, bởi vì dạy chúng ta hành động vì tình yêu mà Chúa Thánh Thần tuôn đổ, hơn là vì sợ hãi; Luật mới được gọi là luật của ân sủng, bởi vì mang lại sức mạnh của ân sủng để hành động nhờ đức tin và các bí tích; Luật mới được gọi là luật của sự tự do, bởi vì giải thoát chúng ta khỏi những ràng buộc về nghi thức và pháp lý của luật cũ, khiến chúng ta sẵn sàng tự nguyện hành động theo sự thúc đẩy của đức mến, và sau hết làm cho chúng ta chuyển từ thân phận của một tôi tớ “không biết việc chủ làm”, sang tình trạng là bạn hữu của Đức Kitô “vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15,15), hoặc còn tới địa vị là một người con thừa tự nữa.
The New Law is called a law of love because it makes us act out of the love infused by the Holy Spirit, rather than from fear; a law of grace, because it confers the strength of grace to act, by means of faith and the sacraments; a law of freedom, because it sets us free from the ritual and juridical observances of the Old Law, inclines us to act spontaneously by the prompting of charity and, finally, lets us pass from the condition of a servant who "does not know what his master is doing" to that of a friend of Christ - "For all that I have heard from my Father I have made known to you" - or even to the status of son and heir.
Luật mới, ngoài các điều răn của mình, cũng bao gồm những lời khuyên Phúc Âm. Sự phân biệt của truyền thống giữa các điều răn của Thiên Chúa với các lời khuyên Phúc Âm được thiết lập liên quan đến đức mến, là sự trọn hảo của đời sống Kitô hữu. Các điều răn nhằm giúp tránh những gì không phù hợp với đức mến. Các lời khuyên có mục tiêu giúp tránh những gì, mặc dầu không đối nghịch, nhưng có thể ngăn cản sự phát triển của đức mến.
Besides its precepts, the New Law also includes the evangelical counsels. the traditional distinction between God's commandments and the evangelical counsels is drawn in relation to charity, the perfection of Christian life. the precepts are intended to remove whatever is incompatible with charity. the aim of the counsels is to remove whatever might hinder the development of charity, even if it is not contrary to it.
Các lời khuyên Phúc Âm biểu lộ sự sung mãn sống động của một đức mến không bao giờ hài lòng, vì đã không cho đi nhiều hơn nữa. Các lời khuyên chứng tỏ sự thúc đẩy của đức mến và khích động sự sẵn sàng thiêng liêng của chúng ta. Luật mới chủ yếu cốt tại các điều răn là mến Chúa yêu người. Các lời khuyên chỉ ra những con đường trực tiếp hơn, những phương tiện dễ dàng hơn và phải được thực thi tùy theo ơn gọi của mỗi người: “Thiên Chúa không muốn mỗi người đều phải giữ tất cả các lời khuyên, nhưng chỉ những lời khuyên nào thích hợp với sự khác biệt của các nhân vị, các thời đại, các hoàn cảnh và các sức lực, như đức mến đòi hỏi; thật vậy, chính đức mến, như là nữ hoàng của mọi nhân đức, mọi giới răn, mọi lời khuyên, và cuối cùng, mọi lề luật và mọi hành động Kitô Giáo, nên đức mến ban cho tất cả những điều đó chỗ đứng, trật tự, thời gian và giá trị của chúng.”
The evangelical counsels manifest the living fullness of charity, which is never satisfied with not giving more. They attest its vitality and call forth our spiritual readiness. the perfection of the New Law consists essentially in the precepts of love of God and neighbor. the counsels point out the more direct ways, the readier means, and are to be practiced in keeping with the vocation of each:
Theo Thánh Kinh, luật là lời dạy dỗ của người cha là Thiên Chúa, quy định cho con người những con đường dẫn tới vinh phúc Thiên Chúa đã hứa và ngăn cấm những con đường của sự dữ.
According to Scripture the Law is a fatherly instruction by God which prescribes for man the ways that lead to the promised beatitude, and proscribes the ways of evil.
Luật là “một quy định nào đó của lý trí hướng về công ích, được công bố bởi người có trách nhiệm của cộng đồng.”
"Law is an ordinance of reason for the common good, promulgated by the one who is in charge of the community" (St. Thomas Aquinas, STh I-II, 90, 4).
Đức Kitô là mục đích của Lề Luật. Chỉ có Người dạy dỗ và ban sự công chính của Thiên Chúa.
Christ is the end of the law (cf Rom 10:4); only he teaches and bestows the justice of God.
Luật tự nhiên là sự tham dự của con người vào sự khôn ngoan và sự tốt lành của Thiên Chúa, vì con người đã được tạo dựng theo hình ảnh của Đấng Tạo hóa của mình. Luật tự nhiên diễn tả phẩm giá của nhân vị và đặt nền tảng cho các quyền lợi và nghĩa vụ căn bản của nhân vị.
The natural law is a participation in God's wisdom and goodness by man formed in the image of his Creator. It expresses the dignity of the human person and forms the basis of his fundamental rights and duties.
Luật tự nhiên là bất biến và trường tồn qua dòng lịch sử. Những quy tắc diễn tả luật tự nhiên, về bản chất vẫn luôn có hiệu lực. Luật tự nhiên là nền tảng cần thiết cho việc xây dựng các quy luật luân lý và cho luật dân sự.
The natural law is immutable, permanent throughout history. the rules that express it remain substantially valid. It is a necessary foundation for the erection of moral rules and civil law.
Luật cũ là cấp độ đầu tiên của Lề Luật được mặc khải. Những mệnh lệnh luân lý của Luật cũ được tóm lại trong Mười Điều Răn.
The Old Law is the first stage of revealed law. Its moral prescriptions are summed up in the Ten Commandments.
Luật Môsê chứa đựng nhiều chân lý mà lý trí có thể đạt tới một cách tự nhiên. Thiên Chúa đã mặc khải các chân lý ấy bởi vì người ta đã không đọc nổi chúng trong trái tim của mình.
The Law of Moses contains many truths naturally accessible to reason. God has revealed them because men did not read them in their hearts.
Luật cũ là một sự chuẩn bị nào đó cho Tin Mừng.
The Old Law is a preparation for the Gospel.
Luật mới là ân sủng của Chúa Thánh Thần được lãnh nhận nhờ đức tin vào Đức Kitô và hoạt động nhờ đức mến. Luật mới được diễn tả cách đặc biệt trong Bài giảng trên núi của Chúa và dùng các bí tích để truyền thông ân sủng cho chúng ta.
The New Law is the grace of the Holy Spirit received by faith in Christ, operating through charity. It finds expression above all in the Lord's Sermon on the Mount and uses the sacraments to communicate grace to us.
Luật Tin Mừng hoàn thành, vượt qua và đưa Luật cũ đến sự trọn hảo của nó: kiện toàn các lời hứa của Luật cũ bằng các mối phúc của Nước Trời, kiện toàn các mệnh lệnh của Luật cũ bằng sự biến đổi gốc rễ của các hành vi, là trái tim.
The Law of the Gospel fulfills and surpasses the Old Law and brings it to perfection: its promises, through the Beatitudes of the Kingdom of heaven; its commandments, by reforming the heart, the root of human acts.
Luật mới là luật của tình yêu, luật của ân sủng, luật của sự tự do.
The New Law is a law of love, a law of grace, a law of freedom.
Ngoài các điều răn, Luật mới còn chứa đựng những lời khuyên Phúc Âm. “Sự thánh thiện của Hội Thánh còn được khích lệ một cách đặc biệt bởi nhiều lời khuyên, mà trong Tin Mừng Chúa đã đề ra để các môn đệ của Người phải tuân giữ.”
Besides its precepts the New Law includes the evangelical counsels. "The Church's holiness is fostered in a special way by the manifold counsels which the Lord proposes to his disciples in the Gospel" (LG 42 # 2).