Hỏi Đáp Công Giáo
Đời Sống Trong Đức Kitô · Mười điều răn · “Ngươi phải yêu thương người lân cận như chính mình”
MỤC 4

Điều răn thứ tư

Số 2196–2257
2196

Để trả lời câu hỏi về điều răn trọng nhất, Chúa Giêsu nói: “Điều răn đứng đầu là: ‘Nghe đây, hỡi Ítraen, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta là ĐỨC CHÚA duy nhất; ngươi phải yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi’; điều răn thứ hai là: ‘Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình’. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó” (Mc 12,29-31). Thánh Phaolô Tông Đồ cũng nhắc điều này: “Ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật. Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác đều tóm lại trong lời này: ‘Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình’. Đã yêu thương, thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13,8-10).

In response to the question about the first of the commandments, Jesus says: "The first is, 'Hear, O Israel: the Lord our God, the Lord is one; and you shall love the Lord your God with all your heart, and with all your soul, and with all your mind, and with all your strength.' the second is this, 'You shall love your neighbor as yourself.' There is no other commandment greater than these." The apostle St. Paul reminds us of this: "He who loves his neighbor has fulfilled the law. the commandments, 'You shall not commit adultery, You shall not kill, You shall not steal, You shall not covet,' and any other commandment, are summed up in this sentence, 'You shall love your neighbor as yourself.' Love does no wrong to a neighbor; therefore love is the fulfilling of the law."

2197

Điều răn thứ tư mở đầu bảng hai của Mười Điều Răn. Điều răn này nêu lên trật tự của đức mến. Thiên Chúa muốn rằng, sau Ngài, chúng ta phải tôn kính cha mẹ, là những vị chúng ta phải chịu ơn về sự sống, và là những vị đã lưu truyền cho chúng ta sự nhận biết Thiên Chúa. Chúng ta cũng buộc phải tôn kính tất cả những người được Thiên Chúa trao ban quyền bính của Ngài để mưu ích cho chúng ta.

The fourth commandment opens the second table of the Decalogue. It shows us the order of charity. God has willed that, after him, we should honor our parents to whom we owe life and who have handed on to us the knowledge of God. We are obliged to honor and respect all those whom God, for our good, has vested with his authority.

2198

Điều răn này được diễn tả bằng hình thức tích cực về những bổn phận phải chu toàn. Điều răn này loan báo những điều răn tiếp theo, liên quan đến việc phải tôn trọng cách đặc biệt sự sống, hôn nhân, của cải trần thế và lời nói. Điều răn này thiết lập một trong những nền tảng cho giáo huấn xã hội của Hội Thánh.

This commandment is expressed in positive terms of duties to be fulfilled. It introduces the subsequent commandments which are concerned with particular respect for life, marriage, earthly goods, and speech. It constitutes one of the foundations of the social doctrine of the Church.

2199

Điều răn thứ tư rõ rệt nhắm đến con cái, trong tương quan của họ với cha và mẹ họ, bởi vì đây là tương quan phổ quát nhất. Điều răn này cũng liên quan tới các quan hệ họ hàng giữa các thành viên trong gia tộc, đòi chúng ta phải tôn kính, mến yêu và biết ơn ông bà tổ tiên. Cuối cùng, điều răn này còn mở rộng tới các bổn phận của học trò đối với thầy cô, thợ với chủ, kẻ thuộc cấp đối với người chỉ huy, công dân đối với tổ quốc, và với tất cả những người điều hành, cai trị đất nước. Điều răn này bao hàm và hiểu ngầm những bổn phận của cha mẹ, người giám hộ, thầy cô, người lãnh đạo, các nguyên thủ, các nhà cầm quyền, nghĩa là tất cả những ai đang thực thi quyền bính trên người khác hay trên một cộng đồng các nhân vị.

The fourth commandment is addressed expressly to children in their relationship to their father and mother, because this relationship is the most universal. It likewise concerns the ties of kinship between members of the extended family. It requires honor, affection, and gratitude toward elders and ancestors. Finally, it extends to the duties of pupils to teachers, employees to employers, subordinates to leaders, citizens to their country, and to those who administer or govern it. This commandment includes and presupposes the duties of parents, instructors, teachers, leaders, magistrates, those who govern, all who exercise authority over others or over a community of persons.

2200

Sự tuân phục điều răn thứ tư có kèm theo phần thưởng: “Ngươi hãy thờ cha kính mẹ để được sống lâu trên đất mà Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi” (Xh 20,12). Việc tuân giữ điều răn này đem lại, cùng với những hoa trái thiêng liêng, những lợi ích trần thế là sự an bình và thịnh vượng. Ngược lại, việc không tuân giữ điều răn này sẽ gây nhiều thiệt hại lớn lao cho các cộng đồng và các nhân vị.

Observing the fourth commandment brings its reward: "Honor your father and your mother, that your days may be long in the land which the LORD your God gives you." Respecting this commandment provides, along with spiritual fruits, temporal fruits of peace and prosperity. Conversely, failure to observe it brings great harm to communities and to individuals.

2201

Cộng đồng phu phụ được thiết lập do sự ưng thuận của đôi phối ngẫu. Hôn nhân và gia đình được sắp xếp hướng về thiện ích của đôi phối ngẫu, về việc sinh sản và giáo dục con cái. Tình yêu của đôi phối ngẫu và việc sinh sản con cái tạo ra những tương quan cá vị và những trách nhiệm hàng đầu, giữa các phần tử trong gia đình.

The conjugal community is established upon the consent of the spouses. Marriage and the family are ordered to the good of the spouses and to the procreation and education of children. the love of the spouses and the begetting of children create among members of the same family personal relationships and primordial responsibilities.

2202

Người nam và người nữ kết hợp với nhau trong hôn nhân, cùng với con cái họ, tạo thành một gia đình. Thể chế này đi trước mọi công nhận của công quyền; hơn nữa công quyền phải nhìn nhận thể chế này. Gia đình sẽ được coi như điểm quy chiếu thông thường căn cứ theo đó mà đánh giá các hình thức khác của liên hệ gia tộc.

A man and a woman united in marriage, together with their children, form a family. This institution is prior to any recognition by public authority, which has an obligation to recognize it. It should be considered the normal reference point by which the different forms of family relationship are to be evaluated.

2203

Khi tạo dựng người nam và người nữ, Thiên Chúa đã thiết lập gia đình con người và đặt nền tảng căn bản cho gia đình. Các phần tử trong gia đình là những nhân vị bình đẳng về phẩm giá. Vì công ích của các phần tử trong gia đình và của xã hội, gia đình có những trách nhiệm, quyền lợi và bổn phận đa dạng.

In creating man and woman, God instituted the human family and endowed it with its fundamental constitution. Its members are persons equal in dignity. For the common good of its members and of society, the family necessarily has manifold responsibilities, rights, and duties.

2204

“Gia đình Kitô Giáo bày tỏ và thể hiện một cách đặc biệt sự hiệp thông trong Hội Thánh, vì lẽ đó... phải được gọi là một ‘Hội Thánh tại gia’.” Gia đình Kitô Giáo là một cộng đoàn đức tin, đức cậy và đức mến; gia đình có một tầm quan trọng độc đáo trong Hội Thánh, như thấy rõ trong Tân Ước.

"The Christian family constitutes a specific revelation and realization of ecclesial communion, and for this reason it can and should be called a domestic church." It is a community of faith, hope, and charity; it assumes singular importance in the Church, as is evident in the New Testament.

2205

Gia đình Kitô Giáo là sự hiệp thông giữa các nhân vị, là dấu vết và hình ảnh của sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần. Hoạt động sinh sản và giáo dục của gia đình là phản ánh công trình tạo dựng của Chúa Cha. Gia đình được kêu gọi tham dự vào việc cầu nguyện và hy lễ của Đức Kitô. Việc cầu nguyện hằng ngày và việc đọc Lời Chúa củng cố gia đình trong đức mến. Gia đình Kitô Giáo có sứ vụ loan báo Tin Mừng và truyền giáo.

The Christian family is a communion of persons, a sign and image of the communion of the Father and the Son in the Holy Spirit. In the procreation and education of children it reflects the Father's work of creation. It is called to partake of the prayer and sacrifice of Christ. Daily prayer and the reading of the Word of God strengthen it in charity. the Christian family has an evangelizing and missionary task.

2206

Các tương quan trong gia đình mang lại sự đồng cảm về cảm xúc, tình cảm, và tình nghĩa, chủ yếu phát xuất từ sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nhân vị. Gia đình là một cộng đồng ưu việt được kêu gọi để thực hiện một kế hoạch chung của đôi phối ngẫu và sự cộng tác chu đáo của cha mẹ trong việc giáo dục con cái.

The relationships within the family bring an affinity of feelings, affections and interests, arising above all from the members' respect for one another. the family is a privileged community called to achieve a "sharing of thought and common deliberation by the spouses as well as their eager cooperation as parents in the children's upbringing."

2207

Gia đình là tế bào nguyên thủy của đời sống xã hội. Gia đình là một xã hội tự nhiên, trong đó, người nam và người nữ được kêu gọi trao tặng bản thân mình trong tình yêu và trong việc trao tặng sự sống. Quyền bính, sự bền vững và sự sống của các tương quan trong gia đình làm nên các nền tảng cho sự tự do, sự an toàn và tình huynh đệ trong xã hội. Gia đình là một cộng đồng, trong đó, từ thời thơ ấu, con người có thể học được những giá trị luân lý, bắt đầu tôn thờ Thiên Chúa và sử dụng sự tự do một cách đúng đắn. Đời sống gia đình là khởi điểm của đời sống xã hội.

The family is the original cell of social life. It is the natural society in which husband and wife are called to give themselves in love and in the gift of life. Authority, stability, and a life of relationships within the family constitute the foundations for freedom, security, and fraternity within society. the family is the community in which, from childhood, one can learn moral values, begin to honor God, and make good use of freedom. Family life is an initiation into life in society.

2208

Gia đình phải sống thế nào để các thành viên của gia đình học biết quan tâm và biết đảm nhận việc chăm sóc những người trẻ và những người già, người đau yếu, người khuyết tật và người nghèo khổ. Nhiều gia đình nhiều khi không có khả năng mang lại sự trợ giúp này. Lúc đó, việc cung cấp những nhu cầu này thuộc về những người khác, những gia đình khác và, theo nguyên tắc bổ trợ, thuộc về xã hội: “Có lòng đạo đức tinh tuyền và không tỳ ố trước mặt Thiên Chúa Cha, là thăm viếng cô nhi quả phụ lâm cảnh gian truân, và giữ mình cho khỏi mọi vết nhơ của thế gian” (Gc 1,27).

The family should live in such a way that its members learn to care and take responsibility for the young, the old, the sick, the handicapped, and the poor. There are many families who are at times incapable of providing this help. It devolves then on other persons, other families, and, in a subsidiary way, society to provide for their needs: "Religion that is pure and undefiled before God and the Father is this: to visit orphans and widows in their affliction and to keep oneself unstained from the world."

2209

Gia đình phải được giúp đỡ và bảo vệ bằng những biện pháp xã hội thích hợp. Nơi nào các gia đình không đủ khả năng chu toàn các nhiệm vụ của mình, thì các tổ chức xã hội khác có bổn phận trợ giúp các gia đình đó và nâng đỡ thể chế gia đình. Theo nguyên tắc bổ trợ, những cộng đồng lớn hơn phải lưu ý để không tiếm quyền các gia đình đó, cũng không xen vào đời sống của họ.

The family must be helped and defended by appropriate social measures. Where families cannot fulfill their responsibilities, other social bodies have the duty of helping them and of supporting the institution of the family. Following the principle of subsidiarity, larger communities should take care not to usurp the family's prerogatives or interfere in its life.

2210

Tầm quan trọng của gia đình đối với đời sống và sự an sinh của xã hội bao hàm trách nhiệm đặc biệt của xã hội trong việc nâng đỡ và củng cố hôn nhân và gia đình. Chính quyền dân sự phải coi đây là một bổn phận quan trọng, là “nhận biết, bảo vệ và củng cố phẩm chất đích thực của hôn nhân và gia đình, là bảo vệ nền luân lý công cộng, và cổ võ sự thịnh vượng của gia đình.”

The importance of the family for the life and well-being of society entails a particular responsibility for society to support and strengthen marriage and the family. Civil authority should consider it a grave duty "to acknowledge the true nature of marriage and the family, to protect and foster them, to safeguard public morality, and promote domestic prosperity."

2211

Cộng đồng chính trị có bổn phận tôn trọng, trợ giúp và nhất là bảo đảm cho gia đình có được các quyền sau đây: — Quyền tự do lập gia đình, quyền sinh con cái và giáo dục chúng theo những xác tín luân lý và tôn giáo của mình; — Quyền bảo toàn sự vững bền của dây liên kết phu phụ và thể chế gia đình; — Quyền tự do tuyên xưng đức tin, lưu truyền và giáo dục đức tin cho con cái bằng những phương tiện và thể chế cần thiết; — Quyền tư hữu, tự do kinh doanh, có việc làm, có nhà ở, quyền di cư; — Quyền được chăm sóc y tế, trợ cấp tuổi già, phụ cấp gia đình, theo thể chế của quốc gia; — Quyền được bảo vệ về an ninh và cuộc sống lành mạnh, nhất là tránh các nguy cơ như xì ke ma túy, sự khiêu dâm, thói nghiện rượu, v.v...; — Quyền tự do liên kết với các gia đình khác để lập các hiệp hội và như thế, được có đại diện trước các quyền bính dân sự.

The political community has a duty to honor the family, to assist it, and to ensure especially: - the freedom to establish a family, have children, and bring them up in keeping with the family's own moral and religious convictions; - the protection of the stability of the marriage bond and the institution of the family; - the freedom to profess one's faith, to hand it on, and raise one's children in it, with the necessary means and institutions; - the right to private property, to free enterprise, to obtain work and housing, and the right to emigrate; - in keeping with the country's institutions, the right to medical care, assistance for the aged, and family benefits; - the protection of security and health, especially with respect to dangers like drugs, pornography, alcoholism, etc.; - the freedom to form associations with other families and so to have representation before civil authority.

2212

Điều răn thứ tư làm sáng tỏ các tương quan khác trong xã hội: Anh chị em ruột, là con cái của cha mẹ chúng ta; anh chị em họ, là con cháu của tổ tiên chúng ta; đồng bào là con cái của tổ quốc chúng ta; những người đã chịu Phép Rửa là con cái của Mẹ chúng ta là Hội Thánh; mỗi nhân vị là con trai hoặc con gái của Đấng muốn chúng ta gọi Ngài là “Cha chúng con.” Vì vậy, các tương quan của chúng ta với tha nhân được nhận biết như là những tương quan nhân vị. Người lân cận không phải là một “cá thể” nào đó giữa tập thể nhân loại, nhưng là “một ai đó”, có nguồn gốc rõ ràng, đáng được mọi người quan tâm và tôn trọng.

The fourth commandment illuminates other relationships in society. In our brothers and sisters we see the children of our parents; in our cousins, the descendants of our ancestors; in our fellow citizens, the children of our country; in the baptized, the children of our mother the Church; in every human person, a son or daughter of the One who wants to be called "our Father." In this way our relationships with our neighbors are recognized as personal in character. the neighbor is not a "unit" in the human collective; he is "someone" who by his known origins deserves particular attention and respect.

2213

Các cộng đồng nhân loại do các cá vị họp lại mà thành. Việc quản trị tốt các cộng đồng này không chỉ giới hạn trong việc bảo đảm các quyền, và việc chu toàn các bổn phận, mà cả sự trung tín với các khế ước. Những tương quan công bằng giữa chủ với thợ, giữa nhà cầm quyền với các công dân, giả thiết phải có lòng nhân hậu tự nhiên xứng hợp với phẩm giá của các nhân vị, là những người quan tâm đến sự công bằng và tình huynh đệ.

Human communities are made up of persons. Governing them well is not limited to guaranteeing rights and fulfilling duties such as honoring contracts. Right relations between employers and employees, between those who govern and citizens, presuppose a natural good will in keeping with the dignity of human persons concerned for justice and fraternity.

2214

Tình phụ tử thần linh là nguồn mạch của tình phụ tử nhân loại; chính tình phụ tử đó đặt nền tảng cho việc tôn kính cha mẹ. Lòng tôn kính của con cái, còn nhỏ hay đã trưởng thành, đối với cha và mẹ mình được nuôi dưỡng bằng tình cảm tự nhiên xuất phát từ mối dây kết hợp họ. Lòng tôn kính đó được đòi buộc bởi một điều răn của Thiên Chúa.

The divine fatherhood is the source of human fatherhood; this is the foundation of the honor owed to parents. the respect of children, whether minors or adults, for their father and mother is nourished by the natural affection born of the bond uniting them. It is required by God's commandment.

2215

Lòng tôn kính cha mẹ (lòng hiếu thảo) dựa trên sự biết ơn đối với những người, bằng việc trao ban sự sống, bằng tình yêu và công lao của mình, đã sinh ra các con cái mình, giúp chúng có khả năng lớn lên về tuổi tác, về sự khôn ngoan và ân sủng. “Cha con, con hãy hết lòng tôn kính, và đừng quên ơn mẹ đã mang nặng đẻ đau. Hãy luôn nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, công ơn ấy, con sẽ lấy chi đáp đền cho cân xứng?” (Hc 7,27-28).

Respect for parents (filial piety) derives from gratitude toward those who, by the gift of life, their love and their work, have brought their children into the world and enabled them to grow in stature, wisdom, and grace. "With all your heart honor your father, and do not forget the birth pangs of your mother. Remember that through your parents you were born; what can you give back to them that equals their gift to you?"

2216

Lòng hiếu thảo được bày tỏ qua sự ngoan ngoãn và vâng phục chân thành. “Hỡi con, lệnh cha con truyền, hãy lo tuân giữ; lời mẹ con dạy, chớ bỏ ngoài tai... Những lời đó sẽ hướng dẫn con lúc con tới lui, sẽ giữ gìn con khi con nằm xuống, sẽ cùng con chuyện trò khi con thức dậy” (Cn 6,20-22). “Con khôn giữ lời cha nghiêm huấn, kẻ nhạo báng chẳng nghe lời sửa dạy” (Cn 13,1).

Filial respect is shown by true docility and obedience. "My son, keep your father's commandment, and forsake not your mother's teaching.... When you walk, they will lead you; when you lie down, they will watch over you; and when you awake, they will talk with you." "A wise son hears his father's instruction, but a scoffer does not listen to rebuke."

2217

Bao lâu còn chung sống với cha mẹ, con cái phải tuân giữ mọi điều cha mẹ dạy liên quan đến lợi ích bản thân hoặc của gia đình. “Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa” (Cl 3,20). Con cái cũng phải vâng theo những lời dạy bảo hữu lý của những người giáo dục chúng, và của những người cha mẹ đã giao phó chúng cho họ chăm sóc. Nhưng nếu người con theo lương tâm, thấy vâng theo một lệnh truyền nào đó là làm điều xấu về mặt luân lý, thì không được vâng lời. Khi trưởng thành, con cái vẫn phải tôn kính cha mẹ. Con cái phải biết đón trước những điều cha mẹ mong muốn, sẵn sàng hỏi ý kiến và đón nhận những lời khuyên bảo chính đáng của cha mẹ. Sự vâng lời của con cái đối với cha mẹ ngưng khi con cái không còn sống chung với cha mẹ nữa, nhưng lòng tôn kính thì không như thế, mà phải tồn tại luôn mãi. Thật ra, lòng tôn kính này có gốc rễ từ lòng kính sợ Thiên Chúa, là một trong các hồng ân của Chúa Thánh Thần.

As long as a child lives at home with his parents, the child should obey his parents in all that they ask of him when it is for his good or that of the family. "Children, obey your parents in everything, for this pleases the Lord." Children should also obey the reasonable directions of their teachers and all to whom their parents have entrusted them. But if a child is convinced in conscience that it would be morally wrong to obey a particular order, he must not do so. As they grow up, children should continue to respect their parents. They should anticipate their wishes, willingly seek their advice, and accept their just admonitions. Obedience toward parents ceases with the emancipation of the children; not so respect, which is always owed to them. This respect has its roots in the fear of God, one of the gifts of the Holy Spirit.

2218

Điều răn thứ tư còn nhắc cho những người con, khi đã trưởng thành, nhớ các trách nhiệm của họ đối với cha mẹ. Con cái phải trợ giúp cho cha mẹ về vật chất và tinh thần, bao nhiêu có thể, trong những năm tháng của tuổi già, hoặc suốt thời gian bệnh tật, cô đơn hoặc túng thiếu. Chúa Giêsu nhắc lại bổn phận biết ơn này. “Chúa làm cho người cha được vẻ vang vì con cái, cho người mẹ thêm uy quyền đối với các con. Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe. Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng” (Hc 3,2-6). “Con ơi, hãy săn sóc cha con, khi người đến tuổi già, bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người... Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc giận mẹ mình, sẽ bị Chúa nguyền rủa” (Hc 3,12-13.16).

The fourth commandment reminds grown children of their responsibilities toward their parents. As much as they can, they must give them material and moral support in old age and in times of illness, loneliness, or distress. Jesus recalls this duty of gratitude.

2219

Lòng hiếu thảo củng cố sự hài hòa trong toàn bộ đời sống gia đình, ảnh hưởng cả đến các tương quan giữa anh chị em. Lòng hiếu thảo đối với cha mẹ làm rạng rỡ bầu khí gia đình. “Triều thiên của người già là đàn con cháu, vinh dự của con cái là chính người cha” (Cn 17,6). “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau” (Ep 4,2).

Filial respect promotes harmony in all of family life; it also concerns relationships between brothers and sisters. Respect toward parents fills the home with light and warmth. "Grandchildren are the crown of the aged." "With all humility and meekness, with patience, [support] one another in charity."

2220

Các Kitô hữu còn phải biết ơn đặc biệt những ai đã giúp mình lãnh nhận hồng ân đức tin, ân sủng bí tích Rửa Tội và sự sống trong Hội Thánh. Những người này có thể là cha mẹ, những phần tử khác của gia đình, ông bà, các vị mục tử, các giáo lý viên, thầy cô giáo hay bạn bè. “Tôi hồi tưởng lại lòng tin không giả hình của anh, lòng tin đã có nơi cụ Lôít, bà ngoại anh, nơi bà Êunikê, mẹ anh, cũng như chính nơi anh, tôi xác tín như vậy” (2 Tm 1,5).

For Christians a special gratitude is due to those from whom they have received the gift of faith, the grace of Baptism, and life in the Church. These may include parents, grandparents, other members of the family, pastors, catechists, and other teachers or friends. "I am reminded of your sincere faith, a faith that dwelt first in your grandmother Lois and your mother Eunice and now, I am sure, dwells in you."

2221

Sự phong phú của tình yêu phu phụ không chỉ giới hạn ở việc sinh sản con cái, mà còn phải mở rộng đến cả việc giáo dục luân lý và đào tạo thiêng liêng cho con cái. “Nhiệm vụ của cha mẹ trong việc giáo dục hết sức quan trọng đến nỗi, nếu thiếu, chắc chắn là không gì thay thế được.” Quyền và bổn phận giáo dục con cái là quyền và bổn phận hàng đầu và bất khả nhượng của cha mẹ.

The fecundity of conjugal love cannot be reduced solely to the procreation of children, but must extend to their moral education and their spiritual formation. "The role of parents in education is of such importance that it is almost impossible to provide an adequate substitute." The right and the duty of parents to educate their children are primordial and inalienable.

2222

Cha mẹ phải xem con cái của mình như những người con của Thiên Chúa và tôn trọng chúng như những nhân vị. Họ phải dạy cho con cái biết chu toàn Luật Thiên Chúa, bằng cách cho con cái thấy chính họ cũng vâng phục thánh ý Cha trên trời.

Parents must regard their children as children of God and respect them as human persons. Showing themselves obedient to the will of the Father in heaven, they educate their children to fulfill God's law.

2223

Cha mẹ là những người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục con cái. Họ thể hiện trách nhiệm này trước hết trong việc xây dựng gia đình, trong đó, tình âu yếm, lòng tha thứ, sự tôn trọng lẫn nhau, lòng chung thủy và sự phục vụ vô vị lợi phải là những chuẩn mực. Gia đình là nơi thích hợp cho việc giáo dục các nhân đức. Việc giáo dục này đòi phải tập bỏ mình, tập phán đoán lành mạnh, tập tự chủ, là những điều kiện để có sự tự do đích thực. Cha mẹ phải dạy cho con cái biết “đặt những gì là vật chất và tự nhiên phụ thuộc những gì thuộc nội tâm và tinh thần.” Cha mẹ có trách nhiệm quan trọng là phải nêu gương tốt cho con cái. Khi biết nhìn nhận những thiếu sót của mình trước mặt con cái, cha mẹ có uy tín hơn để hướng dẫn và sửa dạy con cái: “Thương con thì cho roi cho vọt... Ai biết giáo dục con sẽ được thỏa lòng về con” (Hc 30,1-2). “Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái tức giận, nhưng hãy thay mặt Chúa giáo dục chúng bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (Ep 6,4).

Parents have the first responsibility for the education of their children. They bear witness to this responsibility first by creating a home where tenderness, forgiveness, respect, fidelity, and disinterested service are the rule. the home is well suited for education in the virtues. This requires an apprenticeship in self-denial, sound judgment, and self-mastery - the preconditions of all true freedom. Parents should teach their children to subordinate the "material and instinctual dimensions to interior and spiritual ones." Parents have a grave responsibility to give good example to their children. By knowing how to acknowledge their own failings to their children, parents will be better able to guide and correct them:

2224

Gia đình là môi trường tự nhiên để khai tâm cho nhân vị về tình liên đới và về các trách nhiệm trong cộng đồng. Cha mẹ phải dạy cho con cái biết giữ mình khỏi những nguy hiểm và những sa đọa đang đe dọa xã hội loài người.

The home is the natural environment for initiating a human being into solidarity and communal responsibilities. Parents should teach children to avoid the compromising and degrading influences which threaten human societies.

2225

Nhờ ân sủng của bí tích Hôn Phối, cha mẹ nhận trách nhiệm và đặc ân loan báo Tin Mừng cho con cái. Cha mẹ khai tâm cho con cái về các mầu nhiệm đức tin ngay từ lúc đầu đời, chính họ là “những sứ giả đầu tiên” của đức tin đối với con cái mình. Lúc chúng còn thơ ấu, cha mẹ phải cho con cái hòa nhập vào đời sống của Hội Thánh. Cách sống của gia đình có thể nuôi dưỡng những tâm tình tốt đẹp, những tâm tình đó vẫn luôn là sự chuẩn bị và sự nâng đỡ đích thực cho đức tin sống động trong suốt cuộc đời.

Through the grace of the sacrament of marriage, parents receive the responsibility and privilege of evangelizing their children. Parents should initiate their children at an early age into the mysteries of the faith of which they are the "first heralds" for their children. They should associate them from their tenderest years with the life of the Church. A wholesome family life can foster interior dispositions that are a genuine preparation for a living faith and remain a support for it throughout one's life.

2226

Việc giáo dục đức tin cho con cái phải được cha mẹ bắt đầu ngay từ tuổi ấu thơ của chúng. Việc giáo dục này đã khởi đầu, khi các phần tử trong gia đình giúp nhau lớn lên trong đức tin, nhờ chứng từ của một đời sống Kitô hữu theo Tin Mừng. Việc dạy giáo lý trong gia đình đi trước, đồng hành và làm phong phú các hình thức khác của việc giáo dục đức tin. Cha mẹ có sứ vụ dạy con cái cầu nguyện và khám phá ra ơn gọi làm con Thiên Chúa. Giáo xứ là cộng đồng Thánh Thể và là trung tâm đời sống phụng vụ của các gia đình Kitô Giáo; đó là nơi tốt nhất để dạy giáo lý cho con cái và cho cha mẹ chúng.

Education in the faith by the parents should begin in the child's earliest years. This already happens when family members help one another to grow in faith by the witness of a Christian life in keeping with the Gospel. Family catechesis precedes, accompanies, and enriches other forms of instruction in the faith. Parents have the mission of teaching their children to pray and to discover their vocation as children of God. The parish is the Eucharistic community and the heart of the liturgical life of Christian families; it is a privileged place for the catechesis of children and parents.

2227

Về phần mình, con cái cũng làm cho cha mẹ chúng tăng trưởng trong sự thánh thiện. Mọi người và mỗi người phải biết quảng đại và luôn sẵn sàng tha thứ cho nhau khi gặp những xúc phạm, gây gỗ, bất công và bỏ rơi. Tình yêu thương lẫn nhau gợi lên điều đó. Tình yêu đối với Đức Kitô đòi buộc điều đó.

Children in turn contribute to the growth in holiness of their parents. Each and everyone should be generous and tireless in forgiving one another for offenses, quarrels, injustices, and neglect. Mutual affection suggests this. the charity of Christ demands it.

2228

Khi con cái còn nhỏ, sự tôn trọng và yêu thương của cha mẹ được biểu lộ trước hết qua việc chăm sóc và lưu tâm nhằm dạy dỗ con cái mình, để đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của chúng. Khi chúng lớn lên, cũng vẫn sự tôn trọng và tận tụy đó thúc đẩy cha mẹ giáo dục con cái để chúng biết sử dụng lý trí và sự tự do của mình một cách đúng đắn.

Parents' respect and affection are expressed by the care and attention they devote to bringing up their young children and providing for their physical and spiritual needs. As the children grow up, the same respect and devotion lead parents to educate them in the right use of their reason and freedom.

2229

Cha mẹ là những người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục con cái, nên có quyền lựa chọn cho con cái một trường học đáp ứng được những xác tín riêng của mình. Quyền này là một quyền căn bản. Cha mẹ có bổn phận, bao nhiêu có thể, lựa chọn những trường học nào giúp mình cách tốt nhất, để chu toàn nhiệm vụ của mình là nhà giáo dục Kitô Giáo. Công quyền có bổn phận bảo đảm quyền này của các bậc cha mẹ và tạo những điều kiện thực tế để cha mẹ thực thi quyền đó.

As those first responsible for the education of their children, parents have the right to choose a school for them which corresponds to their own convictions. This right is fundamental. As far as possible parents have the duty of choosing schools that will best help them in their task as Christian educators. Public authorities have the duty of guaranteeing this parental right and of ensuring the concrete conditions for its exercise.

2230

Khi đến tuổi trưởng thành, con cái có bổn phận và có quyền lựa chọn nghề nghiệp và bậc sống của mình. Con cái đảm nhận những trách nhiệm mới trong tương quan đầy tin tưởng đối với cha mẹ, sẵn sàng bàn hỏi và đón nhận các ý kiến và lời khuyên của cha mẹ. Cha mẹ phải lưu ý để không ép buộc con cái trong việc chọn nghề nghiệp hoặc chọn bạn trăm năm. Bổn phận giữ sự chừng mực này không ngăn cản họ - mà trái lại - trong việc trợ giúp con cái bằng những lời khuyên khôn ngoan, nhất là khi con cái có ý định lập gia đình.

When they become adults, children have the right and duty to choose their profession and state of life. They should assume their new responsibilities within a trusting relationship with their parents, willingly asking and receiving their advice and counsel. Parents should be careful not to exert pressure on their children either in the choice of a profession or in that of a spouse. This necessary restraint does not prevent them - quite the contrary from giving their children judicious advice, particularly when they are planning to start a family.

2231

Có những người không lập gia đình, để đảm nhận việc chăm sóc cha mẹ hoặc anh chị em mình, hoặc để dồn hết tâm trí vào một nghề nghiệp hay vì những động lực cao đẹp khác. Họ có thể góp phần lớn lao vào lợi ích của gia đình nhân loại.

Some forgo marriage in order to care for their parents or brothers and sisters, to give themselves more completely to a profession, or to serve other honorable ends. They can contribute greatly to the good of the human family.

2232

Các mối liên hệ trong gia đình dù quan trọng, nhưng không phải tuyệt đối. Cũng như đứa trẻ tăng trưởng trong sự trưởng thành và sự tự lập về mặt nhân bản và thiêng liêng, thì cũng vậy, ơn gọi riêng của nó, ơn gọi đến từ Thiên Chúa, cũng được khẳng định một cách rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn. Cha mẹ phải tôn trọng ơn gọi này và khuyến khích con cái đáp trả bằng việc đi theo ơn gọi đó. Phải xác tín rằng ơn gọi thứ nhất của Kitô hữu là đi theo Chúa Giêsu . “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai, con gái hơn Thầy thì không xứng với Thầy” (Mt 10,37).

Family ties are important but not absolute. Just as the child grows to maturity and human and spiritual autonomy, so his unique vocation which comes from God asserts itself more clearly and forcefully. Parents should respect this call and encourage their children to follow it. They must be convinced that the first vocation of the Christian is to follow Jesus: "He who loves father or mother more than me is not worthy of me; and he who loves son or daughter more than me is not worthy of me."

2233

Trở thành môn đệ Chúa Giêsu là chấp nhận lời mời gọi thuộc về gia đình Thiên Chúa, sống theo cách sống của Người: “Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12,50). Cha mẹ phải đón nhận và tôn trọng, với tâm tình vui mừng và tạ ơn, ơn gọi mà Chúa dành cho một người nào đó trong số con cái mình để đi theo Người trong sự trinh khiết vì Nước Trời, trong đời sống thánh hiến hay trong thừa tác vụ tư tế.

Becoming a disciple of Jesus means accepting the invitation to belong to God's family, to live in conformity with His way of life: "For whoever does the will of my Father in heaven is my brother, and sister, and mother." Parents should welcome and respect with joy and thanksgiving the Lord's call to one of their children to follow him in virginity for the sake of the Kingdom in the consecrated life or in priestly ministry.

2234

Điều răn thứ tư cũng truyền dạy chúng ta phải tôn trọng tất cả những ai đã đón nhận từ Thiên Chúa một quyền bính trong xã hội để mưu ích cho chúng ta. Điều răn này soi sáng các bổn phận của những người thực thi quyền bính cũng như của cả những người được hưởng phúc lợi của quyền bính.

God's fourth commandment also enjoins us to honor all who for our good have received authority in society from God. It clarifies the duties of those who exercise authority as well as those who benefit from it.

2235

Những ai thực thi một quyền bính nào đó, phải thực thi như một việc phục vụ: “Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20,26). Việc thực thi quyền bính được quy định về mặt luân lý bởi nguồn gốc thần linh, bản chất hợp lý và đối tượng đặc trưng của nó. Không ai có thể truyền lệnh hay thiết lập điều gì trái với nhân phẩm và luật tự nhiên.

Those who exercise authority should do so as a service. "Whoever would be great among you must be your servant." The exercise of authority is measured morally in terms of its divine origin, its reasonable nature and its specific object. No one can command or establish what is contrary to the dignity of persons and the natural law.

2236

Việc thực thi quyền bính nhằm biểu lộ trật tự chính đáng của các giá trị giúp mọi người dễ dàng thực thi quyền tự do và trách nhiệm. Cấp trên phải khôn ngoan thực thi sự công bằng phân phối, bằng cách quan tâm đến những nhu cầu và phần đóng góp của mỗi người, và nhằm mưu cầu sự hòa thuận và bình an. Họ phải cảnh giác không để các chuẩn mực và quy định họ thiết lập, đưa đến cơn cám dỗ, là lợi ích cá vị đối nghịch với lợi ích của cộng đồng.

The exercise of authority is meant to give outward expression to a just hierarchy of values in order to facilitate the exercise of freedom and responsibility by all. Those in authority should practice distributive justice wisely, taking account of the needs and contribution of each, with a view to harmony and peace. They should take care that the regulations and measures they adopt are not a source of temptation by setting personal interest against that of the community.

2237

Công quyền buộc phải tôn trọng các quyền lợi căn bản của nhân vị. Họ phải thực thi công bằng với lòng nhân đạo, trong khi tôn trọng quyền lợi của từng người, nhất là của các gia đình và của những người cùng khốn. Các quyền lợi chính trị gắn liền với tư cách công dân, có thể và phải được công nhận theo các đòi hỏi của công ích. Các quyền ấy không thể bị công quyền đình chỉ khi không có lý do hợp pháp và tương xứng. Việc thực thi các quyền lợi chính trị được sắp xếp hướng tới công ích của quốc gia và của cộng đồng nhân loại.

Political authorities are obliged to respect the fundamental rights of the human person. They will dispense justice humanely by respecting the rights of everyone, especially of families and the disadvantaged. The political rights attached to citizenship can and should be granted according to the requirements of the common good. They cannot be suspended by public authorities without legitimate and proportionate reasons. Political rights are meant to be exercised for the common good of the nation and the human community.

2238

Những người phục tùng quyền bính phải coi cấp trên của mình như những người đại diện Thiên Chúa, Đấng đã đặt họ làm thừa tác viên phân phát các hồng ân của Ngài: “Vì Chúa, anh em hãy tuân phục mọi thể chế do loài người đặt ra... Hãy hành động như những người tự do, không phải như những người lấy sự tự do làm màn che sự gian ác, nhưng như những tôi tớ của Thiên Chúa” (1 Pr 2,13.16). Sự cộng tác trung thành của những người phục tùng quyền bính bao hàm quyền, đôi khi là bổn phận, phải lên tiếng phê phán cách công bằng những gì họ coi là có hại cho phẩm giá của các nhân vị và cho công ích.

Those subject to authority should regard those in authority as representatives of God, who has made them stewards of his gifts: "Be subject for the Lord's sake to every human institution.... Live as free men, yet without using your freedom as a pretext for evil; but live as servants of God." Their loyal collaboration includes the right, and at times the duty, to voice their just criticisms of that which seems harmful to the dignity of persons and to the good of the community.

2239

Bổn phận của các công dân là cộng tác với chính quyền dân sự để mưu ích cho xã hội trong tinh thần tôn trọng chân lý, công bằng, tình liên đới và sự tự do. Lòng yêu mến và sự phục vụ Tổ quốc phát xuất từ bổn phận của sự biết ơn và theo trật tự của đức mến. Việc tùng phục quyền bính hợp pháp và sự phục vụ công ích đòi hỏi các công dân thực thi nhiệm vụ của mình trong đời sống của cộng đồng chính trị.

It is the duty of citizens to contribute along with the civil authorities to the good of society in a spirit of truth, justice, solidarity, and freedom. the love and service of one's country follow from the duty of gratitude and belong to the order of charity. Submission to legitimate authorities and service of the common good require citizens to fulfill their roles in the life of the political community.

2240

Việc tùng phục quyền bính và tinh thần đồng trách nhiệm đối với công ích đòi hỏi các công dân, về mặt luân lý, phải đóng thuế, thực thi quyền bầu cử và bảo vệ quê hương: “Anh em nợ ai cái gì, hãy trả cho người ta cái đó: nộp sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người đòi thuế, sợ người phải sợ, kính người phải kính” (Rm 13,7). Các Kitô hữu “cư ngụ trên quê hương riêng của mình, nhưng như những ngoại kiều; họ có chung mọi sự với những người khác, như các công dân, và chịu đựng mọi sự như những lữ khách... Họ tuân theo luật pháp thiết định nhưng cách sống của họ vượt trên luật pháp... Thiên Chúa đã dành cho họ một địa vị cao quý đến độ họ không bỏ đi được.” Thánh Tông Đồ cũng khuyến dụ chúng ta phải cầu nguyện và tạ ơn Chúa cho các vua và tất cả những người thực thi quyền bính, “để chúng ta được an cư lạc nghiệp mà sống thật đạo đức và nghiêm chỉnh” (1 Tm 2,2).

Submission to authority and co-responsibility for the common good make it morally obligatory to pay taxes, to exercise the right to vote, and to defend one's country:

2241

Những quốc gia giàu hơn buộc phải đón nhận, bao nhiêu có thể, những người nước ngoài đến tìm kiếm an ninh và sinh kế mà họ không có được nơi chính quê hương họ. Công quyền phải quan tâm tôn trọng quyền tự nhiên là luật đặt người khách dưới sự che chở của những ai đón nhận họ. Vì công ích, chính quyền có thể quy định một số điều kiện pháp lý cho quyền nhập cư, nhất là đòi hỏi các người di cư phải tôn trọng các bổn phận đối với quốc gia đón nhận họ. Người nhập cư buộc phải tôn trọng, với lòng biết ơn, di sản vật chất và tinh thần của đất nước đón nhận họ, tuân thủ luật pháp và chia sẻ các nhiệm vụ trong nước đó.

The more prosperous nations are obliged, to the extent they are able, to welcome the foreigner in search of the security and the means of livelihood which he cannot find in his country of origin. Public authorities should see to it that the natural right is respected that places a guest under the protection of those who receive him.

2242

Người công dân bị buộc theo lương tâm, không được tuân theo những chỉ thị của chính quyền dân sự, khi những mệnh lệnh đó đi ngược lại các đòi hỏi trong lãnh vực luân lý, các quyền lợi căn bản của con người hoặc các giáo huấn của Tin Mừng. Sự khước từ vâng phục chính quyền dân sự, khi những đòi hỏi của chính quyền dân sự đi ngược lại những đòi hỏi của lương tâm ngay thẳng, được biện minh bằng việc phải phân biệt giữa việc phục vụ Thiên Chúa và việc phục vụ cộng đồng chính trị. “Của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” (Mt 22,21). “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm” (Cv 5,29): “Khi công quyền vượt quá quyền hạn của mình mà đàn áp các công dân, thì chính các công dân đừng từ chối những gì công ích đòi hỏi cách khách quan. Họ được phép bảo vệ các quyền lợi của mình và của đồng bào mình, chống lại sự lạm dụng của quyền bính này, với sự tôn trọng các giới hạn, mà Luật tự nhiên và Luật Tin Mừng đã vạch ra.”

The citizen is obliged in conscience not to follow the directives of civil authorities when they are contrary to the demands of the moral order, to the fundamental rights of persons or the teachings of the Gospel. Refusing obedience to civil authorities, when their demands are contrary to those of an upright conscience, finds its justification in the distinction between serving God and serving the political community. "Render therefore to Caesar the things that are Caesar's, and to God the things that are God's." "We must obey God rather than men":

2243

Hành động dùng vũ khí chống lại sự áp bức của chính quyền là không hợp pháp, trừ khi đồng thời hội đủ các điều kiện sau đây: 1) Trong trường hợp chắc chắn các quyền lợi căn bản bị vi phạm một cách nghiêm trọng và kéo dài; 2) Sau khi đã dùng hết mọi phương cách khác; 3) Không gây ra những xáo trộn tệ hại hơn; 4) Có đủ cơ sở để hy vọng thành công tốt đẹp. 5) Không thể tiên liệu hợp lý được những giải pháp tốt hơn.

Armed resistance to oppression by political authority is not legitimate, unless all the following conditions are met: 1) there is certain, grave, and prolonged violation of fundamental rights; 2) all other means of redress have been exhausted; 3) such resistance will not provoke worse disorders; 4) there is well-founded hope of success; and 5) it is impossible reasonably to foresee any better solution.

2244

Mọi thể chế đều, ít là cách mặc nhiên, được cảm hứng bởi một tầm nhìn (visio) nào đó về con người và về vận mệnh của con người, từ đó, thể chế rút ra điểm quy chiếu cho các phán đoán của mình, bậc thang các giá trị và quy tắc hành động của mình. Đa số các xã hội xây dựng thể chế của mình dựa trên một sự ưu việt nào đó của con người trên các sự vật. Chỉ có tôn giáo được Thiên Chúa mặc khải, mới nhận biết cách rõ ràng rằng nguồn gốc và vận mệnh của con người ở nơi Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa và Cứu Chuộc. Hội Thánh mời gọi các chính quyền quy chiếu các phán đoán và quyết định của mình theo sự linh hứng của chân lý về Thiên Chúa và về con người. Các xã hội không biết đến hay khước từ sự linh hứng này, nhân danh sự độc lập của mình đối với Thiên Chúa, đều đi tới chỗ tìm nơi chính mình hay vay mượn ở một ý thức hệ nào đó những điểm quy chiếu và vận mệnh của mình và, vì không chấp nhận cho người ta bảo vệ một tiêu chuẩn khách quan về điều tốt điều xấu, các xã hội ấy tự cho mình một quyền lực độc tài, một cách công khai hoặc ngấm ngầm, đối với con người và vận mệnh con người, như lịch sử đã cho thấy.

Every institution is inspired, at least implicitly, by a vision of man and his destiny, from which it derives the point of reference for its judgment, its hierarchy of values, its line of conduct. Most societies have formed their institutions in the recognition of a certain preeminence of man over things. Only the divinely revealed religion has clearly recognized man's origin and destiny in God, the Creator and Redeemer. the Church invites political authorities to measure their judgments and decisions against this inspired truth about God and man:

2245

“Do nhiệm vụ và thẩm quyền của mình, Hội Thánh không hề bị lẫn lộn với một cộng đồng chính trị... Hội Thánh vừa là dấu chỉ, vừa là người bảo vệ tính cách siêu việt của nhân vị.” Hội Thánh “tôn trọng và cổ võ sự tự do chính trị và trách nhiệm của các công dân.”

The Church, because of her commission and competence, is not to be confused in any way with the political community. She is both the sign and the safeguard of the transcendent character of the human person. "The Church respects and encourages the political freedom and responsibility of the citizen."

2246

Hội Thánh có sứ vụ “đưa ra phán đoán luân lý, cả trong những vấn đề liên quan tới lãnh vực chính trị, khi các quyền lợi căn bản của con người hay ơn cứu độ các linh hồn đòi hỏi, bằng cách sử dụng mọi phương tiện và chỉ những phương tiện nào phù hợp với Tin Mừng và hòa hợp với lợi ích của mọi người, tùy theo các thời đại và các hoàn cảnh khác nhau.”

It is a part of the Church's mission "to pass moral judgments even in matters related to politics, whenever the fundamental rights of man or the salvation of souls requires it. the means, the only means, she may use are those which are in accord with the Gospel and the welfare of all men according to the diversity of times and circumstances."

2247

“Hãy thờ cha kính mẹ” (Đnl 5,16; Mc 7,10).

"Honor your father and your mother" (Deut 5:16; Mk 7:10).

2248

Theo điều răn thứ tư, Thiên Chúa muốn rằng, sau Ngài, chúng ta phải tôn kính cha mẹ và những người được Ngài trao ban quyền bính để mưu ích cho chúng ta.

According to the fourth commandment, God has willed that, after him, we should honor our parents and those whom he has vested with authority for our good.

2249

Cộng đồng phu phụ được thiết lập trên giao ước và sự ưng thuận của đôi phối ngẫu. Hôn nhân và gia đình được sắp xếp hướng về lợi ích của đôi phối ngẫu, về việc sinh sản và giáo dục con cái.

The conjugal community is established upon the covenant and consent of the spouses. Marriage and family are ordered to the good of the spouses, to the procreation and the education of children.

2250

“Sự an sinh của nhân vị, của xã hội nhân loại và Kitô Giáo liên kết chặt chẽ với tình trạng tốt đẹp của cộng đồng hôn nhân và gia đình.”

"The well-being of the individual person and of both human and Christian society is closely bound up with the healthy state of conjugal and family life" (GS 47 # 1).

2251

Con cái phải tôn kính, biết ơn, vâng lời chính đáng và trợ giúp cha mẹ. Lòng hiếu thảo của con cái củng cố sự hài hòa của toàn bộ đời sống gia đình.

Children owe their parents respect, gratitude, just obedience, and assistance. Filial respect fosters harmony in all of family life.

2252

Cha mẹ là những người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục con cái về đức tin, về việc cầu nguyện và về mọi nhân đức. Bao nhiêu có thể, cha mẹ có bổn phận đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của con cái mình.

Parents have the first responsibility for the education of their children in the faith, prayer, and all the virtues. They have the duty to provide as far as possible for the physical and spiritual needs of their children.

2253

Cha mẹ phải tôn trọng và khuyến khích ơn gọi của con cái mình. Họ phải ý thức và dạy cho con cái biết rằng, đi theo Chúa Giêsu, là ơn gọi thứ nhất của Kitô hữu.

Parents should respect and encourage their children's vocations. They should remember and teach that the first calling of the Christian is to follow Jesus.

2254

Công quyền buộc phải tôn trọng các quyền lợi căn bản của nhân vị và các điều kiện để thực thi sự tự do của nhân vị.

Public authority is obliged to respect the fundamental rights of the human person and the conditions for the exercise of his freedom.

2255

Các công dân có bổn phận phải cộng tác với quyền bính dân sự để xây dựng xã hội trong tinh thần tôn trọng chân lý, sự công bằng, tình liên đới và sự tự do.

It is the duty of citizens to work with civil authority for building up society in a spirit of truth, justice, solidarity, and freedom.

2256

Theo lương tâm, công dân bắt buộc không được tuân theo các chỉ thị của quyền bính dân sự, khi những mệnh lệnh này đi ngược lại những đòi hỏi thuộc lãnh vực luân lý. “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm” (Cv 5,29).

Citizens are obliged in conscience not to follow the directives of civil authorities when they are contrary to the demands of the moral order. "We must obey God rather than men" (Acts 5:29).

2257

Mọi xã hội đều quy chiếu các phán đoán và cách hành động của mình dựa trên một tầm nhìn (visio) nào đó về con người và vận mệnh của con người. Ngoài ánh sáng của Tin Mừng về Thiên Chúa và về con người, các xã hội sẽ dễ trở thành “độc tài.”

Every society's judgments and conduct reflect a vision of man and his destiny. Without the light the Gospel sheds on God and man, societies easily become totalitarian.