Hỏi Đáp Công Giáo
Đời Sống Trong Đức Kitô · Mười điều răn · “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”
MỤC 3

Điều răn thứ ba

Số 2168–2195
2168

Điều răn thứ ba của Mười Điều Răn nhắc nhớ sự thánh thiện của ngày sabát. “Ngày thứ bảy là một ngày sabát; một ngày nghỉ hoàn toàn, dâng Chúa ” (Xh 31,15).

The third commandment of the Decalogue recalls the holiness of the sabbath: "The seventh day is a sabbath of solemn rest, holy to the LORD."

2169

Khi nói về ngày sabát, Sách Thánh nhắc nhớ công trình tạo dựng. “Vì trong sáu ngày, ĐỨC CHÚA đã dựng nên trời đất, biển khơi và muôn loài trong đó, nhưng Ngài đã nghỉ ngày thứ bảy. Bởi vậy, ĐỨC CHÚA đã chúc phúc cho ngày sabát và coi đó là ngày thánh” (Xh 20,11).

In speaking of the sabbath Scripture recalls creation: "For in six days the LORD made heaven and earth, the sea, and all that is in them, and rested the seventh day; therefore the Lord blessed the sabbath day and hallowed it."

2170

Trong ngày của Chúa, Sách Thánh cũng nhắc lại cuộc tưởng niệm biến cố giải phóng Ítraen khỏi ách nô lệ Ai Cập. “Ngươi hãy nhớ ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai Cập và ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó. Bởi vậy, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi cử hành ngày sabát” (Đnl 5,15).

Scripture also reveals in the Lord's day a memorial of Israel's liberation from bondage in Egypt: "You shall remember that you were a servant in the land of Egypt, and the LORD your God brought you out thence with mighty hand and outstretched arm; therefore the LORD your God commanded you to keep the sabbath day."

2171

Thiên Chúa ban cho Ítraen ngày sabát, để họ giữ làm một dấu chỉ giao ước không thể bị phá vỡ. Ngày sabát được hiến dâng cho Chúa, là ngày được dành cách thánh thiện để ca ngợi Thiên Chúa, ca ngợi công trình tạo dựng của Ngài và những hành động cứu độ của Ngài dành cho Ítraen.

God entrusted the sabbath to Israel to keep as a sign of the irrevocable covenant. The sabbath is for the Lord, holy and set apart for the praise of God, his work of creation, and his saving actions on behalf of Israel.

2172

Cách hành động của Thiên Chúa là mẫu mực cho cách hành động của con người. Nếu Thiên Chúa “nghỉ xả hơi” ngày thứ bảy (Xh 31,17), thì con người cũng phải “ngưng” lao động, và cho phép để những người khác, nhất là những người nghèo, “lấy lại sức.” Ngày sabát làm cho các công việc hằng ngày ngưng lại và cho tạm nghỉ ngơi. Đây là ngày phản kháng lại khía cạnh nô lệ của việc lao động và sự sùng kính tiền bạc.

God's action is the model for human action. If God "rested and was refreshed" on the seventh day, man too ought to "rest" and should let others, especially the poor, "be refreshed." The sabbath brings everyday work to a halt and provides a respite. It is a day of protest against the servitude of work and the worship of money.

2173

Tin Mừng thuật lại nhiều lần Chúa Giêsu bị tố cáo đã vi phạm luật ngày sabát. Nhưng Chúa Giêsu không bao giờ xúc phạm sự thánh thiện của ngày này. Người dùng uy quyền giải thích ý nghĩa đích thực của ngày này: “Ngày sabát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabát” (Mc 2,27). Với lòng nhân từ, Đức Kitô cho mình thẩm quyền “làm điều lành chứ không phải điều dữ, cứu sống chứ không giết chết” trong ngày sabát. Ngày sabát là ngày của lòng thương xót của Thiên Chúa và là ngày tôn vinh Thiên Chúa. “Con Người làm chủ luôn cả ngày sabát” (Mc 2,28). “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ” (Tv 118,24).

The Gospel reports many incidents when Jesus was accused of violating the sabbath law. But Jesus never fails to respect the holiness of this day. He gives this law its authentic and authoritative interpretation: "The sabbath was made for man, not man for the sabbath." With compassion, Christ declares the sabbath for doing good rather than harm, for saving life rather than killing. The sabbath is the day of the Lord of mercies and a day to honor God. "The Son of Man is lord even of the sabbath."

2174

Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết vào “ngày thứ nhất trong tuần” (Mc 16,2). Vì là “ngày thứ nhất”, nên ngày Phục sinh của Đức Kitô nhắc nhớ công trình tạo dựng lần thứ nhất. Vì là “ngày thứ tám” liền sau ngày sabát, nên mang ý nghĩa một công trình tạo dựng mới đã được khai mở với sự Phục sinh của Đức Kitô. Đối với các Kitô hữu, ngày này trở thành ngày thứ nhất của mọi ngày, ngày lễ thứ nhất của mọi ngày lễ, ngày của Chúa (Hè kuriakè hèmera, dies dominica), ngày “Chúa nhật”: “Vào ngày của mặt trời, tất cả chúng tôi tụ họp nhau, bởi vì đó là ngày thứ nhất [liền sau ngày sabát Do Thái, nhưng cũng là ngày thứ nhất], ngày mà Thiên Chúa đưa vật chất ra khỏi tối tăm để tạo dựng trần gian, và bởi vì Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu Độ chúng tôi, cũng cùng ngày đó, đã sống lại từ cõi chết.”

Jesus rose from the dead "on the first day of the week." Because it is the "first day," the day of Christ's Resurrection recalls the first creation. Because it is the "eighth day" following the sabbath, it symbolizes the new creation ushered in by Christ's Resurrection. For Christians it has become the first of all days, the first of all feasts, the Lord's Day (he kuriake hemera, dies dominica) Sunday:

2175

Ngày Chúa nhật khác biệt rõ ràng với ngày sabát. Đối với các Kitô hữu, các lề luật phụng vụ của ngày sabát được áp dụng vào ngày Chúa nhật là ngày tiếp nối ngày sabát mỗi tuần, xét về mặt thời gian. Trong cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, ngày Chúa nhật hoàn thành ý nghĩa thiêng liêng của ngày sabát Do Thái, và loan báo sự an nghỉ muôn đời của con người trong Thiên Chúa. Thật vậy, phụng tự của Lề luật đã chuẩn bị cho mầu nhiệm của Đức Kitô, và điều gì đã được thực hiện trong phụng tự đó đều phác họa một nét nào đó quy hướng về Đức Kitô: “Những ai sống theo luật cũ, nay đạt tới niềm hy vọng mới, họ không còn giữ ngày sabát nữa, nhưng sống theo ngày của Chúa, vì trong ngày đó đời sống chúng ta được khởi đầu nhờ Người và nhờ cái chết của Người.”

Sunday is expressly distinguished from the sabbath which it follows chronologically every week; for Christians its ceremonial observance replaces that of the sabbath. In Christ's Passover, Sunday fulfills the spiritual truth of the Jewish sabbath and announces man's eternal rest in God. For worship under the Law prepared for the mystery of Christ, and what was done there prefigured some aspects of Christ:

2176

Việc cử hành ngày Chúa nhật tuân theo quy định luân lý tự nhiên đã được ghi khắc trong trái tim con người, qua đó “quy định việc phụng tự bên ngoài dâng lên Thiên Chúa như dấu chỉ của một lợi ích chung liên quan đến mọi người.” Việc phụng tự ngày Chúa nhật hoàn thành mệnh lệnh luân lý của Giao Ước cũ, lấy lại chu kỳ và tinh thần của luật đó, bằng cách hàng tuần tôn vinh Đấng Tạo hóa và Đấng Cứu Chuộc của dân Ngài.

The celebration of Sunday observes the moral commandment inscribed by nature in the human heart to render to God an outward, visible, public, and regular worship "as a sign of his universal beneficence to all." Sunday worship fulfills the moral command of the Old Covenant, taking up its rhythm and spirit in the weekly celebration of the Creator and Redeemer of his people.

2177

Việc giữ ngày Chúa nhật và cử hành bí tích Thánh Thể của Chúa là trung tâm của đời sống Hội Thánh. “Theo truyền thống tông đồ, mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành trong ngày Chúa nhật, ngày đó phải được giữ như là ngày lễ buộc chính yếu trong Hội Thánh toàn cầu.” “Và cũng phải giữ như là ngày lễ buộc chính yếu những ngày lễ Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, lễ Hiển Linh, lễ Thăng Thiên, lễ Mình và Máu Rất Thánh Đức Kitô, lễ thánh Maria Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm và lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, lễ thánh Giuse, lễ hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, và sau cùng là lễ các Thánh.”

The Sunday celebration of the Lord's Day and his Eucharist is at the heart of the Church's life. "Sunday is the day on which the paschal mystery is celebrated in light of the apostolic tradition and is to be observed as the foremost holy day of obligation in the universal Church."

2178

Từ thời các Tông Đồ, các Kitô hữu đã có thói quen tập họp nhau ngày Chúa nhật. Thư gửi tín hữu Do Thái nhắc nhớ rằng: “Chúng ta đừng bỏ các buổi hội họp như vài người quen làm, trái lại phải khuyến khích nhau” (Hr 10,25). “Truyền thống còn giữ được một bài huấn đức vẫn luôn hợp thời: “Hãy tới nhà thờ sớm, lại gần Chúa và xưng thú tội lỗi, hãy thống hối bằng kinh nguyện... Tham dự vào phụng vụ thánh đến hết lời nguyện hiệp lễ và đừng ra về trước khi có lời giải tán... Như chúng tôi thường nói: ngày này được ban cho anh em để cầu nguyện và nghỉ ngơi. Đây là ngày Chúa đã tạo nên, ta hãy phấn khởi và mừng vui trong ngày đó.”

This practice of the Christian assembly dates from the beginnings of the apostolic age. The Letter to the Hebrews reminds the faithful "not to neglect to meet together, as is the habit of some, but to encourage one another."

2179

“Giáo xứ là một cộng đoàn Kitô hữu nhất định được thiết lập cách bền vững trong Giáo Hội địa phương, và trách nhiệm mục vụ được ủy thác cho cha sở như là chủ chăn riêng của giáo xứ ấy, dưới quyền Giám mục giáo phận.” Giáo xứ là nơi mọi tín hữu có thể tập họp để cử hành bí tích Thánh Thể mỗi Chúa nhật. Giáo xứ đưa dân Kitô hữu vào sinh hoạt thông thường của đời sống phụng vụ, và tập họp họ để cử hành phụng vụ, giảng dạy cho họ giáo lý cứu độ của Đức Kitô; thực thi đức mến của Chúa trong các công việc từ thiện và huynh đệ: “Bạn cũng có thể cầu nguyện ở nhà; nhưng quả thật, bạn không thể cầu nguyện như ở nhà thờ được, vì ở nhà thờ có đông người, đồng thanh kêu lên Thiên Chúa... Ở nhà thờ còn có điều hơn nữa, đó là sự đồng tâm nhất trí, có dây liên kết của đức mến và kinh nguyện của các linh mục.”

"A parish is a definite community of the Christian faithful established on a stable basis within a particular church; the pastoral care of the parish is entrusted to a pastor as its own shepherd under the authority of the diocesan bishop." It is the place where all the faithful can be gathered together for the Sunday celebration of the Eucharist. the parish initiates the Christian people into the ordinary expression of the liturgical life: it gathers them together in this celebration; it teaches Christ's saving doctrine; it practices the charity of the Lord in good works and brotherly love:

2180

Một điều răn của Hội Thánh xác định Luật của Chúa và quy định một cách cụ thể: “Các tín hữu buộc phải tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc khác.” “Người nào tham dự Thánh lễ theo nghi thức Công Giáo trong chính ngày lễ hoặc chiều ngày áp lễ ở bất cứ nơi nào, thì đã giữ trọn luật buộc phải tham dự Thánh Lễ.”

The precept of the Church specifies the law of the Lord more precisely: "On Sundays and other holy days of obligation the faithful are bound to participate in the Mass." "The precept of participating in the Mass is satisfied by assistance at a Mass which is celebrated anywhere in a Catholic rite either on the holy day or on the evening of the preceding day."

2181

Bí tích Thánh Thể ngày Chúa nhật đặt nền tảng và củng cố toàn bộ cuộc sống Kitô hữu. Vì vậy, các tín hữu bắt buộc phải tham dự thánh lễ vào các ngày lễ buộc, trừ khi được biện minh bằng một lý do quan trọng (chẳng hạn, bị bệnh, phải chăm sóc trẻ sơ sinh), hay được mục tử riêng của mình miễn chuẩn. Ai cố tình vi phạm nghĩa vụ này, là phạm tội cách nghiêm trọng.

The Sunday Eucharist is the foundation and confirmation of all Christian practice. For this reason the faithful are obliged to participate in the Eucharist on days of obligation, unless excused for a serious reason (for example, illness, the care of infants) or dispensed by their own pastor. Those who deliberately fail in this obligation commit a grave sin.

2182

Việc tham dự cuộc cử hành chung bí tích Thánh Thể Chúa nhật là bằng chứng sự liên kết và trung thành với Đức Kitô và với Hội Thánh của Người. Như vậy, các tín hữu chứng tỏ sự hiệp thông của mình trong đức tin và đức mến. Họ cùng nhau làm chứng cho sự thánh thiện của Thiên Chúa và cho niềm hy vọng của mình vào ơn cứu độ. Họ làm cho nhau nên vững mạnh dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Participation in the communal celebration of the Sunday Eucharist is a testimony of belonging and of being faithful to Christ and to his Church. the faithful give witness by this to their communion in faith and charity. Together they testify to God's holiness and their hope of salvation. They strengthen one another under the guidance of the Holy Spirit.

2183

“Nếu không thể tham dự việc cử hành Thánh Thể vì thiếu thừa tác viên có chức thánh hay vì bất cứ một lý do nghiêm trọng nào khác, tha thiết khuyên nhủ các tín hữu nên tham dự phụng vụ Lời Chúa được cử hành theo những quy định của Giám mục giáo phận, trong nhà thờ giáo xứ, nếu có, hoặc tại một nơi thánh nào khác, hoặc nên cầu nguyện trong một thời gian thích hợp, cách riêng tư hoặc với gia đình, hoặc với các nhóm gia đình, tùy dịp.”

"If because of lack of a sacred minister or for other grave cause participation in the celebration of the Eucharist is impossible, it is specially recommended that the faithful take part in the Liturgy of the Word if it is celebrated in the parish church or in another sacred place according to the prescriptions of the diocesan bishop, or engage in prayer for an appropriate amount of time personally or in a family or, as occasion offers, in groups of families."

2184

Cũng như Thiên Chúa “khi làm xong mọi công việc của Ngài, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi” (St 2,2), đời sống con người cũng được ghi dấu bằng nhịp luân chuyển giữa lao động và nghỉ ngơi. Thể chế về ngày Chúa nhật góp phần khiến mọi người được hưởng một thời gian đầy đủ để nghỉ ngơi và nhàn rỗi, điều đó cho phép họ vun trồng đời sống gia đình, văn hóa, xã hội và tôn giáo của mình.

Just as God "rested on the seventh day from all his work which he had done," human life has a rhythm of work and rest. the institution of the Lord's Day helps everyone enjoy adequate rest and leisure to cultivate their familial, cultural, social, and religious lives.

2185

Ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc, các tín hữu phải tránh đừng dấn thân vào các việc lao động hay các hoạt động nào ngăn cản việc phụng tự phải dành cho Thiên Chúa, ngăn cản niềm vui riêng trong ngày của Chúa, ngăn cản việc thực thi các công việc từ thiện và ngăn cản sự thư giãn thích hợp về tinh thần cũng như về thể xác. Luật nghỉ ngơi ngày Chúa nhật có thể được miễn chuẩn, khi có những nhu cầu của gia đình hay lợi ích lớn lao của xã hội. Nhưng tín hữu cũng phải coi chừng, đừng để những miễn chuẩn hợp pháp này dẫn đến những thói quen gây thiệt hại cho tôn giáo, cho cuộc sống gia đình hay cho sức khỏe. “Lòng yêu mến chân lý tìm kiếm sự nhàn rỗi thánh thiện; nhu cầu cấp thiết của lòng yêu mến sẵn sàng đón nhận khó nhọc chính đáng.”

On Sundays and other holy days of obligation, the faithful are to refrain from engaging in work or activities that hinder the worship owed to God, the joy proper to the Lord's Day, the performance of the works of mercy, and the appropriate relaxation of mind and body. Family needs or important social service can legitimately excuse from the obligation of Sunday rest. the faithful should see to it that legitimate excuses do not lead to habits prejudicial to religion, family life, and health.

2186

Khi hưởng những giờ nhàn rỗi, các Kitô hữu nên nhớ đến anh chị em của mình, những người cùng có nhu cầu và quyền lợi như mình, nhưng không thể nghỉ ngơi vì nghèo khó và túng cực. Theo truyền thống đạo đức Kitô Giáo, ngày Chúa nhật được dành để làm các việc lành và khiêm tốn phục vụ các bệnh nhân, các người tàn tật và các người già yếu. Các Kitô hữu cũng phải thánh hóa ngày Chúa nhật bằng cách dành thời giờ và sự chăm sóc cho gia đình mình và cho các người lân cận, là những điều khó có thể làm trong những ngày trong tuần. Ngày Chúa nhật cũng là thời gian để suy tư, thinh lặng, trau dồi văn hóa và suy niệm, những điều đó giúp cho sự tăng trưởng của đời sống nội tâm Kitô hữu.

Those Christians who have leisure should be mindful of their brethren who have the same needs and the same rights, yet cannot rest from work because of poverty and misery. Sunday is traditionally consecrated by Christian piety to good works and humble service of the sick, the infirm, and the elderly. Christians will also sanctify Sunday by devoting time and care to their families and relatives, often difficult to do on other days of the week. Sunday is a time for reflection, silence, cultivation of the mind, and meditation which furthers the growth of the Christian interior life.

2187

Việc thánh hóa các ngày Chúa nhật và lễ trọng đòi hỏi một nỗ lực chung. Mỗi Kitô hữu phải tránh bắt những người khác, nếu không cần thiết, làm điều gì khiến họ không thể giữ ngày của Chúa. Khi các tập tục (thể thao, nhà hàng, v.v...) và các nhu cầu xã hội (các dịch vụ công cộng, v.v...) đòi buộc một số người phải lao động ngày Chúa nhật, thì mỗi người vẫn có trách nhiệm phải tìm đủ thời gian để nghỉ ngơi. Với đức tiết độ và đức mến, các tín hữu phải tránh những sự thái quá và bạo lực đôi khi nảy sinh do các cuộc giải trí tập thể. Dù có những nhu cầu cấp bách về kinh tế, công quyền vẫn phải lo cho các công dân có thời gian để nghỉ ngơi và để lo việc phụng tự thần linh. Chủ nhân cũng có bổn phận tương tự đối với các công nhân của mình.

Sanctifying Sundays and holy days requires a common effort. Every Christian should avoid making unnecessary demands on others that would hinder them from observing the Lord's Day. Traditional activities (sport, restaurants, etc.), and social necessities (public services, etc.), require some people to work on Sundays, but everyone should still take care to set aside sufficient time for leisure. With temperance and charity the faithful will see to it that they avoid the excesses and violence sometimes associated with popular leisure activities. In spite of economic constraints, public authorities should ensure citizens a time intended for rest and divine worship. Employers have a similar obligation toward their employees.

2188

Khi tôn trọng sự tự do tôn giáo và công ích của mọi người, các Kitô hữu phải cố gắng làm cho các ngày Chúa nhật và các ngày lễ của Hội Thánh được luật pháp công nhận. Họ phải nêu gương công khai cho mọi người về việc cầu nguyện, sự tôn trọng và sự vui tươi, và phải bảo vệ các truyền thống của mình như một đóng góp quý báu cho đời sống tinh thần của xã hội nhân loại. Nếu luật pháp của một nước hay những lý do khác bắt buộc phải lao động ngày Chúa nhật, thì trong ngày này, vẫn phải sống như là ngày của sự giải thoát của chúng ta, sự giải thoát khiến chúng ta được tham dự vào “hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời” (Hr 12,22-23).

In respecting religious liberty and the common good of all, Christians should seek recognition of Sundays and the Church's holy days as legal holidays. They have to give everyone a public example of prayer, respect, and joy and defend their traditions as a precious contribution to the spiritual life of society. If a country's legislation or other reasons require work on Sunday, the day should nevertheless be lived as the day of our deliverance which lets us share in this "festal gathering," this "assembly of the firstborn who are enrolled in heaven."

2189

“Ngươi hãy giữ ngày sabát mà coi đó là ngày thánh” (Đnl 5,12). “Ngày thứ bảy là một ngày sabát, một ngày nghỉ hoàn toàn dâng cho ĐỨC CHÚA ” (Xh 31,15).

"Observe the sabbath day, to keep it holy" (Deut 5:12). "The seventh day is a sabbath of solemn rest, holy to the Lord" (Ex 31:15).

2190

Ngày sabát, vốn là ngày tưởng nhớ việc hoàn thành công trình tạo dựng lần thứ nhất, được thay thế bằng ngày Chúa nhật, là ngày tưởng nhớ công trình tạo dựng mới, được khai mở bằng sự Phục sinh của Đức Kitô.

The sabbath, which represented the completion of the first creation, has been replaced by Sunday which recalls the new creation inaugurated by the Resurrection of Christ.

2191

Hội Thánh cử hành ngày Phục sinh của Đức Kitô vào ngày thứ tám, được gọi một cách xác đáng là ngày của Chúa hay ngày Chúa nhật.

The Church celebrates the day of Christ's Resurrection on the "eighth day," Sunday, which is rightly called the Lord's Day (cf SC 106).

2192

“Theo truyền thống tông đồ, mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành trong ngày Chúa nhật, ngày đó phải được giữ như là ngày lễ buộc chính yếu trong Hội Thánh toàn cầu.” “Các tín hữu buộc phải tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc khác.”

"Sunday . . . is to be observed as the foremost holy day of obligation in the universal Church" (CIC, can. 1246 # 1). "On Sundays and other holy days of obligation the faithful are bound to participate in the Mass" (CIC, can. 1247).

2193

“Ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc khác, các tín hữu... còn phải kiêng làm việc xác và những công việc gây trở ngại cho việc thờ phượng Thiên Chúa, cho niềm vui riêng trong ngày của Chúa, hoặc cho việc nghỉ ngơi cần thiết của tinh thần và thể xác.”

"On Sundays and other holy days of obligation the faithful are bound . . . to abstain from those labors and business concerns which impede the worship to be rendered to God, the joy which is proper to the Lord's Day, or the proper relaxation of mind and body" (CIC, can. 1247).

2194

Thể chế về ngày Chúa nhật góp phần làm cho “mọi người có đủ thời gian nghỉ ngơi và nhàn rỗi để vun trồng đời sống gia đình, văn hóa, xã hội và tôn giáo.”

The institution of Sunday helps all "to be allowed sufficient rest and leisure to cultivate their amilial, cultural, social, and religious lives" (GS 67 # 3).

2195

Mỗi Kitô hữu phải tránh bắt người khác, nếu không cần thiết, làm điều gì khiến họ không thể giữ ngày Chúa nhật.

Every Christian should avoid making unnecessary demands on others that would hinder them from observing the Lord's Day.