Hỏi Đáp Công Giáo
Tuyên Xưng Đức Tin · Tuyên xưng đức tin Kitô Giáo · “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là cha” · “Tôi tin kính Đức Chúa Trời, là Cha phép tắc vô cùng, dựng nên trời đất”
TIẾT 2

Chúa Cha

Số 232–267
232

Các Kitô hữu được rửa tội “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Trước đó họ đã ba lần trả lời “Tôi tin” để đáp lại ba câu hỏi yêu cầu họ tuyên xưng đức tin vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. “Đức tin của mọi Kitô hữu cốt tại Chúa Ba Ngôi.”

Christians are baptized "in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit" Before receiving the sacrament, they respond to a three-part question when asked to confess the Father, the Son and the Spirit: "I do." "The faith of all Christians rests on the Trinity."

233

Các Kitô hữu được rửa tội “nhân danh” Cha và Con và Thánh Thần, chứ không “nhân các danh” của các Ngài, bởi vì chỉ có một Thiên Chúa, Cha toàn năng, Con duy nhất của Ngài và Thánh Thần: Đó là Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.

Christians are baptized in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit: not in their names, for there is only one God, the almighty Father, his only Son and the Holy Spirit: the Most Holy Trinity.

234

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Kitô hữu. Đây là mầu nhiệm của Thiên Chúa trong chính bản thể của Ngài. Vì vậy, đây là nguồn mạch của các mầu nhiệm khác của đức tin và là ánh sáng chiếu soi các mầu nhiệm ấy. Đây là giáo lý căn bản nhất và chủ yếu nhất trong “phẩm trật các chân lý” đức tin. “Lịch sử cứu độ chính là lịch sử của đường lối và phương thế, mà Thiên Chúa thật và duy nhất là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dùng để tự mặc khải cho con người, và giao hòa và kết hợp với Ngài những ai từ bỏ tội lỗi.”

The mystery of the Most Holy Trinity is the central mystery of Christian faith and life. It is the mystery of God in himself. It is therefore the source of all the other mysteries of faith, the light that enlightens them. It is the most fundamental and essential teaching in the "hierarchy of the truths of faith". The whole history of salvation is identical with the history of the way and the means by which the one true God, Father, Son and Holy Spirit, reveals himself to men "and reconciles and unites with himself those who turn away from sin".

235

Trong tiết này sẽ vắn tắt trình bày mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được mặc khải thế nào (I), Hội Thánh đã trình bày giáo lý đức tin về mầu nhiệm này thế nào (II), và sau cùng, Chúa Cha, nhờ sứ vụ thần linh của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, thực hiện “kế hoạch nhân hậu” của Ngài trong việc tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa như thế nào (III).

This paragraph expounds briefly (I) how the mystery of the Blessed Trinity was revealed, (II) how the Church has articulated the doctrine of the faith regarding this mystery, and (III) how, by the divine missions of the Son and the Holy Spirit, God the Father fulfils the "plan of his loving goodness" of creation, redemption and sanctification.

236

Các Giáo phụ phân biệt Theologia với Oikonomia. Thuật ngữ thứ nhất chỉ mầu nhiệm sự sống nội tại của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thuật ngữ thứ hai chỉ mọi công trình của Thiên Chúa, qua đó Ngài tự mặc khải và truyền thông sự sống của Ngài. Nhờ Oikonomia mà Theologia được mặc khải cho chúng ta, nhưng ngược lại, Theologia soi sáng toàn thể Oikonomia. Các công trình của Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta biết Ngài trong bản thể của Ngài, và ngược lại, mầu nhiệm bản thể nội tại của Thiên Chúa soi sáng cho chúng ta hiểu tất cả các công trình của Ngài. Trong các tương quan nhân loại, sự việc cũng diễn ra tương tự như vậy. Con người biểu lộ mình qua hành động và càng biết rõ một người nào đó, chúng ta càng hiểu rõ hành động của họ.

The Fathers of the Church distinguish between theology (theologia) and economy (oikonomia). "Theology" refers to the mystery of God's inmost life within the Blessed Trinity and "economy" to all the works by which God reveals himself and communicates his life. Through the oikonomia the theologia is revealed to us; but conversely, the theologia illuminates the whole oikonomia. God's works reveal who he is in himself; the mystery of his inmost being enlightens our understanding of all his works. So it is, analogously, among human persons. A person discloses himself in his actions, and the better we know a person, the better we understand his actions.

237

Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm đức tin theo nghĩa hẹp, là một trong những mầu nhiệm được ẩn giấu nơi Thiên Chúa, “mà nếu Thiên Chúa không mặc khải thì không ai có thể biết được.” Chắc chắn Thiên Chúa đã để lại những dấu vết nào đó về thực thể Ba Ngôi của Ngài trong công trình tạo dựng và trong việc Ngài mặc khải suốt dòng Cựu Ước. Nhưng đời sống nội tại của thực thể Ngài, là Ba Ngôi Chí Thánh, vẫn là một mầu nhiệm mà lý trí thuần túy của con người không thể nào đạt đến được, và ngay cả đức tin của Ítraen cũng không thể biết mầu nhiệm đó, trước khi Con Thiên Chúa nhập thể và Chúa Thánh Thần được sai đến.

The Trinity is a mystery of faith in the strict sense, one of the "mysteries that are hidden in God, which can never be known unless they are revealed by God". To be sure, God has left traces of his Trinitarian being in his work of creation and in his Revelation throughout the Old Testament. But his inmost Being as Holy Trinity is a mystery that is inaccessible to reason alone or even to Israel's faith before the Incarnation of God's Son and the sending of the Holy Spirit.

238

Việc khẩn cầu Thiên Chúa với tước hiệu là “Cha” đã được biết đến trong nhiều tôn giáo. Thượng Đế thường được coi như “cha của các vị thần và của người phàm.” Trong dân Ítraen, Thiên Chúa được gọi là Cha, với tư cách là Đấng tạo dựng trần gian. Hơn nữa Thiên Chúa còn là Cha vì Ngài đã lập Giao ước và ban Lề luật cho dân được gọi là “Ítraen con đầu lòng của Ta” (Xh 4,22). Ngài cũng được gọi là Cha của vua Ítraen. Và đặc biệt hơn nữa, Ngài là “Cha của người nghèo”, của cô nhi, quả phụ, những kẻ được Ngài thương yêu che chở.

Many religions invoke God as "Father". the deity is often considered the "father of gods and of men". In Israel, God is called "Father" inasmuch as he is Creator of the world. Even more, God is Father because of the covenant and the gift of the law to Israel, "his first-born son". God is also called the Father of the king of Israel. Most especially he is "the Father of the poor", of the orphaned and the widowed, who are under his loving protection.

239

Khi gọi Thiên Chúa là “Cha”, ngôn ngữ đức tin chủ yếu muốn nêu lên hai khía cạnh: Thiên Chúa là nguồn gốc thứ nhất và là Đấng uy quyền siêu việt trên hết mọi sự, đồng thời là Đấng nhân hậu và yêu thương chăm sóc mọi con cái của Ngài. Tình phụ tử này của Thiên Chúa cũng có thể được diễn tả qua hình ảnh tình mẫu tử. Hình ảnh tình mẫu tử nói lên rõ hơn sự gần gũi của Thiên Chúa và sự thân mật giữa Thiên Chúa với thụ tạo của Ngài. Như vậy, ngôn ngữ đức tin múc nguồn nơi kinh nghiệm phàm nhân về cha mẹ, các vị này một cách nào đó, là những đại diện đầu tiên của Thiên Chúa đối với con người. Nhưng kinh nghiệm đó cũng cho thấy rằng, cha mẹ phàm nhân có thể phạm sai lầm và họ có thể làm méo mó dung mạo của tình phụ tử và mẫu tử. Vì vậy, phải nhớ rằng Thiên Chúa siêu việt hẳn trên sự phân biệt phái tính của phàm nhân. Ngài không là nam mà cũng không là nữ. Ngài là Thiên Chúa. Ngài cũng siêu việt hẳn trên sự làm cha làm mẹ của người phàm, mặc dù Ngài là nguồn gốc và là chuẩn mực của chức năng làm cha làm mẹ: không ai là cha như Thiên Chúa là Cha.

By calling God "Father", the language of faith indicates two main things: that God is the first origin of everything and transcendent authority; and that he is at the same time goodness and loving care for all his children. God's parental tenderness can also be expressed by the image of motherhood, which emphasizes God's immanence, the intimacy between Creator and creature. the language of faith thus draws on the human experience of parents, who are in a way the first representatives of God for man. But this experience also tells us that human parents are fallible and can disfigure the face of fatherhood and motherhood. We ought therefore to recall that God transcends the human distinction between the sexes. He is neither man nor woman: he is God. He also transcends human fatherhood and motherhood, although he is their origin and standard: no one is father as God is Father.

240

Chúa Giêsu đã mặc khải Thiên Chúa là “Cha” theo một nghĩa chưa từng có: Ngài là Cha không những vì Ngài là Đấng Tạo Hóa, nhưng từ đời đời Ngài là Cha trong tương quan với Con duy nhất của Ngài, Đấng từ đời đời là Con trong tương quan với Cha của Người: “Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11,27).

Jesus revealed that God is Father in an unheard-of sense: he is Father not only in being Creator; he is eternally Father by his relationship to his only Son who, reciprocally, is Son only in relation to his Father: "No one knows the Son except the Father, and no one knows the Father except the Son and any one to whom the Son chooses to reveal him."

241

Vì vậy, các Tông Đồ tuyên xưng Chúa Giêsu là “Ngôi Lời”, “lúc khởi đầu... vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1), là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Cl 1,15), và là “phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Hr 1,3).

For this reason the apostles confess Jesus to be the Word: "In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God"; as "the image of the invisible God"; as the "radiance of the glory of God and the very stamp of his nature".

242

Sau các ngài, Hội Thánh tiếp nối Truyền thống Tông Đồ, trong Công đồng chung thứ nhất họp tại Nicêa năm 325, đã tuyên xưng Chúa Con “đồng bản thể với Chúa Cha”, nghĩa là, Người là một Thiên Chúa duy nhất cùng với Chúa Cha. Công đồng chung thứ hai họp tại Constantinôpôli năm 381, vẫn duy trì cách diễn tả trong công thức của tín biểu Nicêa và đã tuyên xưng: “Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời, Người là Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha.”

Following this apostolic tradition, the Church confessed at the first ecumenical council at Nicaea (325) that the Son is "consubstantial" with the Father, that is, one only God with him. The second ecumenical council, held at Constantinople in 381, kept this expression in its formulation of the Nicene Creed and confessed "the only-begotten Son of God, eternally begotten of the Father, light from light, true God from true God, begotten not made, consubstantial with the Father".

243

Trước cuộc Vượt Qua của Người, Chúa Giêsu báo tin sẽ sai đến một “Đấng Bào Chữa (Đấng Bảo Vệ) khác”, là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần, Đấng đã hoạt động trong công trình tạo dựng và sau khi “đã dùng các Tiên tri mà phán dạy”, nay Ngài sẽ đến với và ở trong các môn đệ, để dạy bảo họ, và dẫn họ tới “sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Như vậy, Chúa Thánh Thần được mặc khải như một Ngôi Vị thần linh khác, trong tương quan với Chúa Giêsu và với Chúa Cha.

Before his Passover, Jesus announced the sending of "another Paraclete" (Advocate), the Holy Spirit. At work since creation, having previously "spoken through the prophets", the Spirit will now be with and in the disciples, to teach them and guide them "into all the truth". The Holy Spirit is thus revealed as another divine person with Jesus and the Father.

244

Nguồn gốc vĩnh cửu của Chúa Thánh Thần được mặc khải trong ‘sứ vụ trong thời gian’ của Ngài. Chúa Thánh Thần được sai đến với các Tông Đồ và với Hội Thánh, hoặc do Chúa Cha nhân danh Chúa Con, hoặc do chính Chúa Con, sau khi Người trở về với Chúa Cha. Sứ vụ của Ngôi Vị Chúa Thánh Thần sau khi Chúa Giêsu được tôn vinh mặc khải một cách đầy đủ mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh.

The eternal origin of the Holy Spirit is revealed in his mission in time. the Spirit is sent to the apostles and to the Church both by the Father in the name of the Son, and by the Son in person, once he had returned to the Father. The sending of the person of the Spirit after Jesus' glorification reveals in its fullness the mystery of the Holy Trinity.

245

Đức tin tông truyền về Chúa Thánh Thần đã được Công đồng chung thứ hai họp tại Constantinôpôli năm 381 tuyên xưng: Chúng tôi tin kính “Chúa Thánh Thần, là Chúa và là Đấng ban sự sống; Ngài bởi Chúa Cha mà ra.” Bằng lời tuyên xưng đó, Hội Thánh nhìn nhận Chúa Cha như “nguồn mạch và cội nguồn của tất cả thần tính.” Nhưng cội nguồn vĩnh cửu của Chúa Thánh Thần không phải không có liên hệ với cội nguồn của Chúa Con: “Chúng tôi tin rằng Chúa Thánh Thần, Ngôi Thứ Ba trong Ba Ngôi, là Thiên Chúa duy nhất và đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Con, cùng một bản thể, cùng một bản tính;... Ngài được gọi là Thần Khí không phải chỉ của Chúa Cha cũng không phải chỉ của Chúa Con, nhưng một trật là của Chúa Cha và của Chúa Con.” Tín biểu Constantinôpôli của Hội Thánh tuyên xưng: “Ngài được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.”

The apostolic faith concerning the Spirit was confessed by the second ecumenical council at Constantinople (381): "We believe in the Holy Spirit, the Lord and giver of life, who proceeds from the Father." By this confession, the Church recognizes the Father as "the source and origin of the whole divinity". But the eternal origin of the Spirit is not unconnected with the Son's origin: "The Holy Spirit, the third person of the Trinity, is God, one and equal with the Father and the Son, of the same substance and also of the same nature. . . Yet he is not called the Spirit of the Father alone,. . . but the Spirit of both the Father and the Son." The Creed of the Church from the Council of Constantinople confesses: "With the Father and the Son, he is worshipped and glorified."

246

Tín biểu theo truyền thống Latinh tuyên xưng rằng Chúa Thánh Thần “bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con (Filioque) mà ra.” Công đồng Florentina, năm 1439, giải thích: “Chúa Thánh Thần... có bản tính và hữu thể của Ngài bởi Chúa Cha và một trật bởi Chúa Con, và từ đời đời Ngài xuất phát bởi Hai Ngôi như bởi một nguyên lý duy nhất và bởi một hơi thở duy nhất... Và bởi vì mọi sự, vốn là của Chúa Cha, chính Chúa Cha đã ban cho Con Một khi sinh ra Con Một, trừ cương vị làm Cha, nên việc Thần Khí xuất phát bởi Chúa Con, thì từ đời đời Chúa Con có việc xuất phát đó là bởi Chúa Cha, Đấng cũng sinh ra Chúa Con từ đời đời.”

The Latin tradition of the Creed confesses that the Spirit "proceeds from the Father and the Son (filioque)". the Council of Florence in 1438 explains: "The Holy Spirit is eternally from Father and Son; He has his nature and subsistence at once (simul) from the Father and the Son. He proceeds eternally from both as from one principle and through one spiration... And, since the Father has through generation given to the only-begotten Son everything that belongs to the Father, except being Father, the Son has also eternally from the Father, from whom he is eternally born, that the Holy Spirit proceeds from the Son."

247

Lời khẳng định “và bởi Đức Chúa Con” (Filioque) không có trong Tín biểu công bố năm 381 tại Constantinôpôli. Nhưng thánh Giáo Hoàng Lêô, dựa theo truyền thống cổ xưa của Latinh và Alexandria, đã công bố điều này như một tín điều vào năm 447, trước khi Rôma, tại Công đồng Chalcêđônia năm 451, biết đến và tiếp nhận Tín biểu của năm 381. Việc sử dụng công thức này trong Tín biểu được dần dần đưa vào phụng vụ Latinh (từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XI). Tuy nhiên, việc phụng vụ Latinh đưa công thức Filioque vào trong Tín biểu Nicêa - Constantinôpôli, đã tạo nên sự bất đồng, mãi cho đến nay, với các Giáo Hội Chính Thống.

The affirmation of the filioque does not appear in the Creed confessed in 381 at Constantinople. But Pope St. Leo I, following an ancient Latin and Alexandrian tradition, had already confessed it dogmatically in 447, even before Rome, in 451 at the Council of Chalcedon, came to recognize and receive the Symbol of 381. the use of this formula in the Creed was gradually admitted into the Latin liturgy (between the eighth and eleventh centuries). the introduction of the filioque into the Niceno-Constantinopolitan Creed by the Latin liturgy constitutes moreover, even today, a point of disagreement with the Orthodox Churches.

248

Truyền thống Đông phương trước hết diễn tả rằng Chúa Cha là cội nguồn thứ nhất của Chúa Thánh Thần. Khi tuyên xưng Chúa Thánh Thần “xuất phát từ Chúa Cha” (Ga 15,26), truyền thống đó xác quyết Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha qua Chúa Con (a Patre per Filium procedere). Còn truyền thống Tây phương trước hết xác quyết sự hiệp thông đồng bản thể giữa Chúa Cha và Chúa Con, khi nói rằng Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con (ex Patre Filioque procedere). Truyền thống này nói như vậy là “hợp pháp và hợp lý”, bởi vì theo trật tự vĩnh cửu giữa các Ngôi Vị Thiên Chúa trong sự hiệp thông đồng bản thể, Chúa Cha, với tư cách là “nguyên lý không có khởi đầu”, là cội nguồn thứ nhất của Chúa Thánh Thần, nhưng còn với tư cách là Cha của Con duy nhất, thì Chúa Cha là nguyên lý duy nhất cùng với Con của Ngài, từ đó, Chúa Thánh Thần xuất phát “như từ một nguyên lý duy nhất.” Sự bổ túc hợp pháp này, nếu không bị thổi phồng, thì không tác động gì đến sự đồng nhất của đức tin vào thực tại của cùng một mầu nhiệm được tuyên xưng.

At the outset the Eastern tradition expresses the Father's character as first origin of the Spirit. By confessing the Spirit as he "who proceeds from the Father", it affirms that he comes from the Father through the Son. The Western tradition expresses first the consubstantial communion between Father and Son, by saying that the Spirit proceeds from the Father and the Son (filioque). It says this, "legitimately and with good reason", for the eternal order of the divine persons in their consubstantial communion implies that the Father, as "the principle without principle", is the first origin of the Spirit, but also that as Father of the only Son, he is, with the Son, the single principle from which the Holy Spirit proceeds. This legitimate complementarity, provided it does not become rigid, does not affect the identity of faith in the reality of the same mystery confessed.

249

Ngay từ buổi đầu, chân lý được mặc khải về Ba Ngôi Chí Thánh đã có trong những điều căn bản của đức tin sống động của Hội Thánh, chủ yếu qua bí tích Rửa Tội. Chân lý đó được diễn tả trong quy luật đức tin về phép Rửa, được công thức hóa trong việc rao giảng, trong việc dạy giáo lý và trong kinh nguyện của Hội Thánh. Người ta đã gặp những công thức như vậy trong các tác phẩm của các Tông Đồ, như lời chào sau đây làm chứng, lời chào này đã được sử dụng lại trong Thánh lễ: “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em” (2 Cr 13,13).

From the beginning, the revealed truth of the Holy Trinity has been at the very root of the Church's living faith, principally by means of Baptism. It finds its expression in the rule of baptismal faith, formulated in the preaching, catechesis and prayer of the Church. Such formulations are already found in the apostolic writings, such as this salutation taken up in the Eucharistic liturgy: "The grace of the Lord Jesus Christ and the love of God and the fellowship of the Holy Spirit be with you all."

250

Trong những thế kỷ đầu, Hội Thánh đã cố gắng trình bày minh bạch hơn đức tin của mình vào Thiên Chúa Ba Ngôi, vừa để đào sâu sự hiểu biết của chính mình về đức tin, vừa để bảo vệ đức tin khỏi những sai lạc muốn bóp méo đức tin. Đó là công trình của các Công đồng đầu tiên, được trợ lực bởi hoạt động thần học của các Giáo Phụ và được đón nhận bởi cảm thức đức tin của dân Kitô Giáo.

During the first centuries the Church sought to clarify her Trinitarian faith, both to deepen her own understanding of the faith and to defend it against the errors that were deforming it. This clarification was the work of the early councils, aided by the theological work of the Church Fathers and sustained by the Christian people's sense of the faith.

251

Để công thức hóa tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi, Hội Thánh phải triển khai một thuật ngữ riêng, dựa vào những khái niệm bắt nguồn từ triết học, như: “bản thể” (substantia), “ngôi” hoặc “ngôi vị” (persona hoặc hypostasis), “tương quan” (relatio) v.v... Làm như vậy, Hội Thánh đã không giao phó đức tin cho sự khôn ngoan phàm nhân, nhưng đã cho các từ ngữ này một ý nghĩa mới, chưa từng biết đến, những từ ngữ này từ nay sẽ được sử dụng để nói lên mầu nhiệm khôn tả, vốn “vô cùng vượt trên mọi điều chúng ta có thể hiểu được theo cách thức phàm nhân.”

In order to articulate the dogma of the Trinity, the Church had to develop her own terminology with the help of certain notions of philosophical origin: "substance", "person" or "hypostasis", "relation" and so on. In doing this, she did not submit the faith to human wisdom, but gave a new and unprecedented meaning to these terms, which from then on would be used to signify an ineffable mystery, "infinitely beyond all that we can humanly understand".

252

Hội Thánh sử dụng từ “bản thể” (substantia) (hoặc “yếu tính”, essentia hoặc “bản tính”, natura) để chỉ Hữu Thể thần linh trong sự duy nhất của Ngài, từ “ngôi” hoặc “ngôi vị” (persona hoặc hypostasis) để chỉ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong sự phân biệt thật sự với nhau giữa các Ngài, còn từ “tương quan” (relatio) để chỉ sự phân biệt của các Ngài trong vấn đề các Ngài quy chiếu về nhau.

The Church uses (I) the term "substance" (rendered also at times by "essence" or "nature") to designate the divine being in its unity, (II) the term "person" or "hypostasis" to designate the Father, Son and Holy Spirit in the real distinction among them, and (III) the term "relation" to designate the fact that their distinction lies in the relationship of each to the others.

253

Tam Vị Nhất Thể. Chúng ta không tuyên xưng ba Thiên Chúa, nhưng một Thiên Chúa duy nhất có Ba Ngôi: “Ba Ngôi đồng bản thể.” Các Ngôi Vị Thiên Chúa không chia nhau một thần tính duy nhất, nhưng mỗi Ngôi Vị đều là Thiên Chúa trọn vẹn: “Chúa Cha là gì thì Chúa Con là thế ấy, Chúa Con là gì thì Chúa Cha là thế ấy, Chúa Cha và Chúa Con là gì thì Chúa Thánh Thần là thế ấy, nghĩa là một Thiên Chúa duy nhất theo bản tính.” “Ba Ngôi Vị đều là thực thể đó, nghĩa là bản thể, yếu tính hoặc bản tính thần linh.”

The Trinity is One. We do not confess three Gods, but one God in three persons, the "consubstantial Trinity". The divine persons do not share the one divinity among themselves but each of them is God whole and entire: "The Father is that which the Son is, the Son that which the Father is, the Father and the Son that which the Holy Spirit is, i.e. by nature one God." In the words of the Fourth Lateran Council (1215), "Each of the persons is that supreme reality, viz., the divine substance, essence or nature."

254

Các Ngôi Vị Thiên Chúa thật sự phân biệt với nhau. “Chúng tôi tôn thờ và tuyên xưng một Thiên Chúa duy nhất nhưng không đơn độc.” “Chúa Cha”, “Chúa Con”, “Chúa Thánh Thần”, không phải đơn thuần là những danh xưng chỉ các dạng thức của “Hữu Thể” thần linh, bởi vì Ba Ngôi thật sự phân biệt với nhau: “Chúa Con không phải là Chúa Cha, và Chúa Cha không phải là Chúa Con, và Chúa Thánh Thần không phải là Chúa Cha hoặc Chúa Con.” Ba Ngôi phân biệt nhau qua các tương quan về nguồn gốc: “Chúa Cha là Đấng sinh thành, Chúa Con là Đấng được sinh ra, Chúa Thánh Thần là Đấng xuất phát.” Thiên Chúa Nhất Thể Tam Vị.

The divine persons are really distinct from one another. "God is one but not solitary." "Father", "Son", "Holy Spirit" are not simply names designating modalities of the divine being, for they are really distinct from one another: "He is not the Father who is the Son, nor is the Son he who is the Father, nor is the Holy Spirit he who is the Father or the Son." They are distinct from one another in their relations of origin: "It is the Father who generates, the Son who is begotten, and the Holy Spirit who proceeds." The divine Unity is Triune.

255

Các Ngôi vị Thiên Chúa có tương quan với nhau. Bởi vì sự phân biệt thật sự giữa các Ngôi Vị với nhau không phân chia thần tính duy nhất, nên sự phân biệt đó chỉ cốt tại các mối tương quan quy chiếu các Ngôi Vị với nhau. “Trong các danh xưng nói lên mối tương quan giữa các Ngôi vị, Chúa Cha có tương quan với Chúa Con, Chúa Con có tương quan với Chúa Cha, và Chúa Thánh Thần có tương quan với Hai Ngôi kia. Khi xét về tương quan thì chúng ta nói là Ba Ngôi, nhưng chúng ta tin vào một bản tính hay một bản thể.” Thật vậy, giữa Ba Ngôi “mọi sự... đều là một, khi không nói đến sự đối lập về tương quan.” “Vì sự duy nhất đó, Chúa Cha hoàn toàn ở trong Chúa Con, hoàn toàn ở trong Chúa Thánh Thần; Chúa Con hoàn toàn ở trong Chúa Cha, hoàn toàn ở trong Chúa Thánh Thần; Chúa Thánh Thần hoàn toàn ở trong Chúa Cha, hoàn toàn ở trong Chúa Con.”

The divine persons are relative to one another. Because it does not divide the divine unity, the real distinction of the persons from one another resides solely in the relationships which relate them to one another: "In the relational names of the persons the Father is related to the Son, the Son to the Father, and the Holy Spirit to both. While they are called three persons in view of their relations, we believe in one nature or substance." Indeed "everything (in them) is one where there is no opposition of relationship." "Because of that unity the Father is wholly in the Son and wholly in the Holy Spirit; the Son is wholly in the Father and wholly in the Holy Spirit; the Holy Spirit is wholly in the Father and wholly in the Son."

256

Thánh Grêgôriô thành Nazien, có biệt danh là “Nhà thần học”, cống hiến cho các dự tòng tại Constantinôpôli bản toát yếu đức tin về Ba Ngôi như sau: “Trên hết mọi sự, tôi yêu cầu, bạn hãy gìn giữ kho tàng quý giá này, kho tàng đó là lý do để tôi sống và chiến đấu, là điều tôi muốn đem theo khi chết, là điều giúp tôi chấp nhận tất cả mọi gian khổ và khinh chê mọi lạc thú: tôi muốn nói đến đức tin, đến việc tuyên xưng vào Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Hôm nay tôi trao lời tuyên xưng đó cho bạn. Với lời tuyên xưng đức tin đó, tôi sắp dìm bạn xuống nước thanh tẩy, rồi kéo bạn lên. Tôi trao cho bạn để làm người bạn đường, người bảo trợ suốt đời, lời tuyên xưng vào một Thần Tính và một Quyền Năng duy nhất, cùng gặp được trong Ba Ngôi, và gồm Ba Ngôi một cách phân biệt, không hơn kém về bản thể hoặc bản tính, không tăng giảm về sự cao hơn hoặc thấp hơn... Ba Ngôi vô cùng, kết hợp với nhau vô cùng. Nếu xét riêng, mỗi Ngôi đều là Thiên Chúa. Nếu suy tưởng một trật, Ba Ngôi vẫn là một Thiên Chúa... Tôi vừa suy tưởng đến Thiên Chúa Duy Nhất, thì lập tức hào quang của Ba Ngôi tràn ngập tâm hồn tôi. Tôi vừa bắt đầu phân biệt Ba Ngôi, thì bị kéo trở lại Thiên Chúa Duy Nhất.”

St. Gregory of Nazianzus, also called "the Theologian", entrusts this summary of Trinitarian faith to the catechumens of Constantinople: Above all guard for me this great deposit of faith for which I live and fight, which I want to take with me as a companion, and which makes me bear all evils and despise all pleasures: I mean the profession of faith in the Father and the Son and the Holy Spirit. I entrust it to you today. By it I am soon going to plunge you into water and raise you up from it. I give it to you as the companion and patron of your whole life. I give you but one divinity and power, existing one in three, and containing the three in a distinct way. Divinity without disparity of substance or nature, without superior degree that raises up or inferior degree that casts down. . . the infinite co-naturality of three infinites. Each person considered in himself is entirely God. . . the three considered together. . . I have not even begun to think of unity when the Trinity bathes me in its splendour. I have not even begun to think of the Trinity when unity grasps me. .

257

“Ôi nguồn sáng, Ba Ngôi diễm phúc, là Căn Nguyên Độc Nhất vũ hoàn!” Thiên Chúa là hạnh phúc vĩnh cửu, là sự sống bất tử, là ánh sáng không tàn lụi. Thiên Chúa là tình yêu: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa tự ý muốn truyền thông vinh quang của sự sống hạnh phúc của Ngài. Đó là “kế hoạch yêu thương” (Ep 1,9) mà Ngài đã cưu mang từ trước khi tạo dựng trần gian trong Con yêu dấu của Ngài, và quả thật “Ngài đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Chúa Giêsu Kitô” (Ep 1,5), nghĩa là, Ngài đã tiền định cho chúng ta “nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài” (Rm 8,29) nhờ “Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử” (Rm 8,15). Kế hoạch này là ân sủng “Ngài đã ban cho chúng ta từ muôn thuở” (2 Tm 1,9), xuất phát trực tiếp từ tình yêu của Chúa Ba Ngôi. Kế hoạch đó được thể hiện trong công trình tạo dựng, và sau khi con người sa ngã, trong toàn bộ lịch sử cứu độ, trong các sứ vụ của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, được tiếp nối trong sứ vụ của Hội Thánh.

"O blessed light, O Trinity and first Unity!" God is eternal blessedness, undying life, unfading light. God is love: Father, Son and Holy Spirit. God freely wills to communicate the glory of his blessed life. Such is the "plan of his loving kindness", conceived by the Father before the foundation of the world, in his beloved Son: "He destined us in love to be his sons" and "to be conformed to the image of his Son", through "the spirit of sonship". This plan is a "grace [which] was given to us in Christ Jesus before the ages began", stemming immediately from Trinitarian love. It unfolds in the work of creation, the whole history of salvation after the fall, and the missions of the Son and the Spirit, which are continued in the mission of the Church.

258

Toàn bộ Nhiệm cục thần linh là công trình chung của Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì cũng như Ba Ngôi chỉ có một bản tính, Ba Ngôi cũng chỉ có cùng một hoạt động. “Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần không phải là ba nguyên lý của thụ tạo nhưng là một nguyên lý duy nhất.” Tuy nhiên, mỗi Ngôi Vị Thiên Chúa thực hiện công trình chung theo cách đặc thù của mình trong Ba Ngôi. Cho nên, theo sau Tân Ước, Hội Thánh tuyên xưng: “Một Thiên Chúa là Cha, mọi sự đều bởi Ngài; Một Chúa Giêsu Kitô, mọi sự đều nhờ Người; và Một Chúa Thánh Thần, mọi sự đều trong Ngài.” Các sứ vụ thần linh là việc Nhập thể của Chúa Con và việc trao ban Chúa Thánh Thần biểu lộ cách đặc biệt các đặc tính riêng của các Ngôi Vị Thiên Chúa.

The whole divine economy is the common work of the three divine persons. For as the Trinity has only one and the same natures so too does it have only one and the same operation: "The Father, the Son and the Holy Spirit are not three principles of creation but one principle." However, each divine person performs the common work according to his unique personal property. Thus the Church confesses, following the New Testament, "one God and Father from whom all things are, and one Lord Jesus Christ, through whom all things are, and one Holy Spirit in whom all things are". It is above all the divine missions of the Son's Incarnation and the gift of the Holy Spirit that show forth the properties of the divine persons.

259

Toàn bộ Nhiệm cục thần linh là công trình vừa có tính chung, vừa có tính riêng, nên vừa cho thấy đặc tính của từng Ngôi Vị Thiên Chúa vừa cho thấy bản tính duy nhất của Ba Ngôi. Toàn bộ đời sống Kitô hữu cũng là sự hiệp thông với mỗi Ngôi Vị Thiên Chúa mà không hề phân biệt Ba Ngôi. Ai tôn vinh Chúa Cha, là làm điều đó nhờ Chúa Con trong Chúa Thánh Thần; ai bước theo Chúa Kitô, là làm điều đó bởi vì Chúa Cha lôi kéo người ấy và Chúa Thánh Thần thúc đẩy người ấy.

Being a work at once common and personal, the whole divine economy makes known both what is proper to the divine persons, and their one divine nature. Hence the whole Christian life is a communion with each of the divine persons, without in any way separating them. Everyone who glorifies the Father does so through the Son in the Holy Spirit; everyone who follows Christ does so because the Father draws him and the Spirit moves him.

260

Cùng đích của toàn bộ Nhiệm cục thần linh là đưa các thụ tạo đến hợp nhất trọn vẹn với Ba Ngôi Diễm Phúc. Nhưng ngay từ bây giờ, chúng ta được kêu gọi trở nên nơi cư ngụ của Ba Ngôi Chí Thánh. Chúa nói: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23): “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Ba Ngôi con tôn thờ, xin giúp con quên hẳn mình để an trú trong Chúa, bất động và thanh thản như thể linh hồn con đã ở trong cõi vĩnh hằng; xin đừng để điều gì có thể quấy phá sự bình an của con, và làm con phải ra khỏi Chúa, ôi Đấng Bất Biến của con, nhưng mỗi giây phút xin đem con vào sâu hơn nữa trong mầu nhiệm thẳm sâu của Chúa! Xin ban bình an cho linh hồn con; xin biến linh hồn con thành thiên đàng của Chúa, thành nơi cư ngụ mà Chúa ưa thích, và nơi nghỉ ngơi của Chúa. Ước gì con không bao giờ bỏ mặc Chúa một mình, nhưng ước gì con ở đó với trọn vẹn bản thân, hoàn toàn tỉnh thức trong đức tin, hoàn toàn thờ lạy, và hoàn toàn phó thác cho hoạt động sáng tạo của Chúa.”

The ultimate end of the whole divine economy is the entry of God's creatures into the perfect unity of the Blessed Trinity. But even now we are called to be a dwelling for the Most Holy Trinity: "If a man loves me", says the Lord, "he will keep my word, and my Father will love him, and we will come to him, and make our home with him":

261

Mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh là mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Kitô hữu. Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể cho ta biết được mầu nhiệm ấy khi Ngài tự mặc khải là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

The mystery of the Most Holy Trinity is the central mystery of the Christian faith and of Christian life. God alone can make it known to us by revealing himself as Father, Son and Holy Spirit.

262

Việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa mặc khải rằng Thiên Chúa là Cha từ muôn thuở, và Chúa Con là Đấng đồng bản thể với Chúa Cha, nghĩa là, Chúa Con là Thiên Chúa duy nhất trong Chúa Cha và cùng với Chúa Cha.

The Incarnation of God's Son reveals that God is the eternal Father and that the Son is consubstantial with the Father, which means that, in the Father and with the Father the Son is one and the same God.

263

Sứ vụ của Chúa Thánh Thần, Đấng Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Con, và Chúa Con sai đến “từ nơi Chúa Cha” (Ga 15,26), mặc khải rằng Chúa Thánh Thần cùng với Chúa Cha và Chúa Con là một Thiên Chúa duy nhất. “Ngài được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.”

The mission of the Holy Spirit, sent by the Father in the name of the Son (Jn 14:26) and by the Son "from the Father" (Jn 15:26), reveals that, with them, the Spirit is one and the same God. "With the Father and the Son he is worshipped and glorified" (Nicene Creed).

264

“Chúa Thánh Thần chủ yếu xuất phát từ Chúa Cha, mà từ đời đời Chúa Cha ban tặng cho Chúa Con, nên Chúa Thánh Thần xuất phát chung từ Hai Ngôi.”

"The Holy Spirit proceeds from the Father as the first principle and, by the eternal gift of this to the Son, from the communion of both the Father and the Son" (St. Augustine, De Trin. 15, 26, 47: PL 42, 1095).

265

Nhờ ân sủng của bí tích Rửa Tội “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19), chúng ta được kêu gọi để tham dự vào sự sống của Ba Ngôi Diễm Phúc, “ở trần thế này trong bóng tối của đức tin và sau khi chết trong ánh sáng vĩnh cửu.”

By the grace of Baptism "in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit", we are called to share in the life of the Blessed Trinity, here on earth in the obscurity of faith, and after death in eternal light (cf. Paul VI, CPG # 9).

266

“Đức tin công giáo là thế này, chúng ta thờ kính Một Thiên Chúa trong Ba Ngôi, và Ba Ngôi trong Một Thiên Chúa, mà không lẫn lộn các Ngôi Vị, không phân chia bản thể: thật vậy, Ngôi Cha là khác, Ngôi Con là khác và Ngôi Thánh Thần là khác; nhưng thần tính, sự vinh quang ngang nhau và uy quyền vĩnh cửu của Chúa Cha, của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần là một.”

"Now this is the Catholic faith: We worship one God in the Trinity and the Trinity in unity, without either confusing the persons or dividing the substance; for the person of the Father is one, the Son's is another, the Holy Spirit's another; but the Godhead of the Father, Son and Holy Spirit is one, their glory equal, their majesty coeternal" (Athanasian Creed: DS 75; ND 16).

267

Các Ngôi vị thần linh không thể tách rời nhau trong cùng một bản thể duy nhất, thì cũng không thể tách rời nhau trong các hoạt động của mình. Nhưng trong hoạt động thần linh duy nhất này, mỗi Ngôi vị hiện diện theo cách đặc thù của mình trong Ba Ngôi, nhất là trong các sứ vụ thần linh là việc Nhập Thể của Chúa Con và việc trao ban Chúa Thánh Thần.

Inseparable in what they are, the divine persons are also inseparable in what they do. But within the single divine operation each shows forth what is proper to him in the Trinity, especially in the divine missions of the Son's Incarnation and the gift of the Holy Spirit.