Ai nói “Tôi tin”, tức là nói “Tôi gắn bó với những điều chúng tôi cùng tin.” Sự hiệp thông trong đức tin đòi hỏi một ngôn ngữ chung của đức tin, làm chuẩn mực cho mọi người và liên kết mọi người trong cùng một lời tuyên xưng đức tin.
Whoever says "I believe" says "I pledge myself to what we believe." Communion in faith needs a common language of faith, normative for all and uniting all in the same confession of faith.
Ngay từ đầu, Hội Thánh thời các Tông Đồ đã diễn tả và lưu truyền đức tin của mình bằng những công thức ngắn và có giá trị chuẩn mực đối với mọi người. Không lâu sau đó, Hội Thánh lại muốn thu thập những điểm cốt yếu của đức tin vào những bản tóm lược mạch lạc và rõ ràng, chủ yếu dành cho những người chuẩn bị lãnh bí tích Rửa Tội. “Bản tóm lược đức tin này được soạn thảo không phải để làm vừa lòng người ta; nhưng trong toàn bộ Thánh Kinh, đã chọn lấy những điều quan trọng nhất để làm thành một giáo huấn đức tin duy nhất. Như trong một hạt cải nhỏ bé đã chứa đựng nhiều cành lá, cũng vậy trong một ít lời, bản tóm lược đức tin này chứa đựng toàn bộ tri thức đạo đức của cả Cựu Ước lẫn Tân Ước.”
From the beginning, the apostolic Church expressed and handed on her faith in brief formulae normative for all. But already very early on, the Church also wanted to gather the essential elements of her faith into organic and articulated summaries, intended especially for candidates for Baptism:
Các bản tổng hợp đức tin đó được gọi là các “Bản tuyên xưng đức tin”, vì chúng tóm lược đức tin mà các Kitô hữu tuyên xưng. Chúng được gọi là “Kinh Tin Kính” vì thường bắt đầu bằng thuật ngữ “Tôi tin kính.” Chúng cũng còn được gọi là các “Tín biểu” (Symbola fidei).
Such syntheses are called "professions of faith" since they summarize the faith that Christians profess. They are called "creeds" on account of what is usually their first word in Latin: credo ("I believe"). They are also called "symbols of faith".
Symbolon là một từ Hy Lạp dùng để chỉ phân nửa của một vật được bẻ ra (chẳng hạn, của một ấn tín) mà người ta đưa ra làm dấu chỉ để nhận ra nhau. Những phần đã bị bẻ ra được đặt khớp lại với nhau để xác minh căn tính của người mang nó. Tín biểu (Symbolum fidei) là một dấu chỉ để các tín hữu nhận ra nhau, hiệp thông với nhau. Symbolon sau đó được dùng để chỉ một bản toát yếu, bản sưu tập, hoặc bản tóm lược. Tín biểu là bản toát yếu những chân lý chủ yếu của đức tin. Từ đó, nó được coi là điểm đầu tiên và căn bản mà việc dạy giáo lý phải quy chiếu.
The Greek word symbolon meant half of a broken object, for example, a seal presented as a token of recognition. the broken parts were placed together to verify the bearer's identity. the symbol of faith, then, is a sign of recognition and communion between believers. Symbolon also means a gathering, collection or summary. A symbol of faith is a summary of the principal truths of the faith and therefore serves as the first and fundamental point of reference for catechesis.
Việc “tuyên xưng đức tin” đầu tiên được thực hiện khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. “Tín biểu” trước hết là Tín biểu của Phép Rửa. Bởi vì Phép Rửa được ban “nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Mt 28,19), nên các chân lý đức tin được tuyên xưng trong Phép Rửa đã được sắp xếp theo tương quan của chúng với Ba Ngôi Chí Thánh.
The first "profession of faith" is made during Baptism. the symbol of faith is first and foremost the baptismal creed. Since Baptism is given "in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit", The truths of faith professed during Baptism are articulated in terms of their reference to the three persons of the Holy Trinity.
Do đó, Tín biểu được chia làm ba phần: “Phần đầu nói về Thiên Chúa Ngôi Thứ Nhất và về công trình tạo dựng kỳ diệu; phần tiếp sau nói về Ngôi Hai và về mầu nhiệm Cứu chuộc loài người; phần cuối cùng nói về Ngôi Ba, là nguyên lý và nguồn mạch của việc thánh hóa chúng ta.” Đó là “ba chương của ấn tín [rửa tội] của chúng ta.”
and so the Creed is divided into three parts: "the first part speaks of the first divine Person and the wonderful work of creation; the next speaks of the second divine Person and the mystery of his redemption of men; the final part speaks of the third divine Person, the origin and source of our sanctification." These are "the three chapters of our [baptismal] seal".
Tín biểu “được chia làm ba phần, gồm những câu khác biệt nhưng liên kết rất chặt chẽ với nhau. Dựa theo một hình ảnh các Giáo phụ quen dùng, chúng ta gọi các câu đó là articuli [nghĩa đen là các khúc, ở đây dịch là “mục”]. Như các chi thể trong một thân thể được phân chia thành nhiều khúc, thì cũng vậy, trong việc tuyên xưng đức tin, từng điều riêng rẽ chúng ta phải tin cũng được gọi cách thích hợp và chính đáng là một articulum.” Theo một truyền thống cổ xưa, được thánh Ambrôsiô xác nhận, người ta quen liệt kê mười hai mục trong kinh Tin Kính, để nói lên một cách tượng trưng, dựa theo số các Tông Đồ, kinh đó bao gồm đức tin tông truyền.
"These three parts are distinct although connected with one another. According to a comparison often used by the Fathers, we call them articles. Indeed, just as in our bodily members there are certain articulations which distinguish and separate them, so too in this profession of faith, the name "articles" has justly and rightly been given to the truths we must believe particularly and distinctly." In accordance with an ancient tradition, already attested to by St. Ambrose, it is also customary to reckon the articles of the Creed as twelve, thus symbolizing the fullness of the apostolic faith by the number of the apostles.
Qua các thế kỷ, để đáp ứng những nhu cầu của các thời đại khác nhau, đã có nhiều Bản tuyên xưng đức tin hoặc Tín biểu: những Tín biểu của các Giáo Hội thời các Tông Đồ và thời cổ xưa, Tín biểu “Quicumque” được coi là của thánh Athanasiô, những Bản tuyên xưng đức tin của một số Công đồng (như Tôlêđô; Latêranô; Lyon; Triđentinô ), hay của một số vị Giáo Hoàng như “Bản tuyên xưng đức tin” của Đức Giáo Hoàng Đamasô, hoặc “Kinh Tin Kính của dân Thiên Chúa” do Đức Phaolô VI soạn thảo (1968).
Through the centuries many professions or symbols of faith have been articulated in response to the needs of the different eras: the creeds of the different apostolic and ancient Churches, e.g., the Quicumque, also called the Athanasian Creed; The professions of faith of certain Councils, such as Toledo, Lateran, Lyons, Trent; or the symbols of certain popes, e.g., the Fides Damasi or the Credo of the People of God of Paul VI.
Không một Tín biểu nào xuất phát từ những thời đại khác nhau của đời sống Hội Thánh có thể bị coi là lỗi thời và vô ích. Các Tín biểu này giúp chúng ta ngày nay biết được và thấu hiểu đức tin ngàn đời của Hội Thánh, thông qua các bản tóm lược đã được thực hiện. Trong tất cả các Tín biểu, có hai bản chiếm một địa vị rất đặc biệt trong đời sống Hội Thánh:
None of the creeds from the different stages in the Church's life can be considered superseded or irrelevant. They help us today to attain and deepen the faith of all times by means of the different summaries made of it. Among all the creeds, two occupy a special place in the Church's life:
Tín biểu của các Tông Đồ: bản này được gọi như vậy bởi vì được coi, một cách chính xác, như bản tóm lược trung thành đức tin của các Tông Đồ. Đây là Tín biểu dùng khi rửa tội, được Giáo Hội Rôma sử dụng từ thời xa xưa. Do đó, bản này có một uy thế lớn lao: “Đây là Tín biểu mà Giáo Hội Rôma bảo tồn, đó là nơi thánh Phêrô, thủ lãnh các Tông Đồ, đã đặt tông tòa và là nơi ngài đã đem đức tin chung của Hội Thánh đến.”
The Apostles' Creed is so called because it is rightly considered to be a faithful summary of the apostles' faith. It is the ancient baptismal symbol of the Church of Rome. Its great authority arises from this fact: it is "the Creed of the Roman Church, the See of Peter the first of the apostles, to which he brought the common faith".
Tín biểu được gọi là Nicêa - Constantinôpôli có một uy thế lớn lao vì phát xuất từ hai Công đồng chung đầu tiên (năm 325 và năm 381). Cho đến nay, bản này vẫn còn là gia sản chung của tất cả các Giáo Hội lớn của Đông phương và Tây phương.
The Niceno-Constantinopolitan or Nicene Creed draws its great authority from the fact that it stems from the first two ecumenical Councils (in 325 and 381). It remains common to all the great Churches of both East and West to this day.
Sách Giáo Lý này trình bày đức tin theo Tín biểu của các Tông Đồ, vì bản này có thể nói được là “giáo lý Rôma cổ xưa nhất.” Tuy nhiên, phần trình bày sẽ được bổ túc bằng cách thường xuyên tham chiếu Tín biểu Nicêa - Constantinôpôli vì bản này thường rõ ràng và chi tiết hơn.
Our presentation of the faith will follow the Apostles' Creed, which constitutes, as it were, "the oldest Roman catechism". the presentation will be completed however by constant references to the Nicene Creed, which is often more explicit and more detailed.
Cũng như trong ngày lãnh nhận bí tích Rửa Tội, khi trọn cuộc sống của chúng ta được ủy thác cho “quy luật đạo lý” (Rm 6,17), chúng ta hãy đón nhận Tín biểu, để nhờ đó chúng ta được sống. Khi đọc kinh Tin Kính với lòng tin, chúng ta được hiệp thông với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và cũng được hiệp thông với Hội Thánh phổ quát, là người lưu truyền đức tin cho chúng ta, và chính trong lòng Hội Thánh mà chúng ta tin: “Tín biểu là dấu ấn thiêng liêng, là điều chúng ta tâm niệm, và như là người canh giữ luôn hiện diện, chắc chắn đó là kho tàng của linh hồn chúng ta.”
As on the day of our Baptism, when our whole life was entrusted to the "standard of teaching", let us embrace the Creed of our life-giving faith. To say the Credo with faith is to enter into communion with God, Father, Son and Holy Spirit, and also with the whole Church which transmits the faith to us and in whose midst we believe:
Bản tuyên xưng đức tin của chúng ta bắt đầu bằng Thiên Chúa, bởi vì Thiên Chúa là “khởi nguyên và cùng tận” (Is 44,6), là khởi đầu và cùng đích của hết mọi loài. Kinh Tin Kính bắt đầu từ Thiên Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha là Ngôi Thứ Nhất trong Ba Ngôi Chí Thánh; Tín biểu của chúng ta bắt đầu bằng việc tạo dựng trời đất, bởi vì việc tạo dựng là khởi đầu và là nền tảng của mọi công trình của Thiên Chúa.
Our profession of faith begins with God, for God is the First and the Last, The beginning and the end of everything. the Credo begins with God the Father, for the Father is the first divine person of the Most Holy Trinity; our Creed begins with the creation of heaven and earth, for creation is the beginning and the foundation of all God's works.
“Tôi tin kính Đức Chúa Trời”: lời xác quyết đầu tiên của bản tuyên xưng đức tin cũng là điều quan trọng nhất. Toàn bộ Tín biểu đều nói về Thiên Chúa, và nếu có nói về con người và về trần gian, thì cũng nói trong tương quan với Thiên Chúa. Tất cả các mục trong bản Tuyên xưng đức tin đều lệ thuộc vào mục thứ nhất này, cũng như các giới răn của Thiên Chúa đều nhằm giải thích giới răn thứ nhất. Những mục khác giúp chúng ta hiểu biết Thiên Chúa hơn, theo mức độ Ngài đã từng bước tự mặc khải cho con người. “Vì vậy, một cách đúng đắn, các tín hữu trước tiên tuyên xưng họ tin vào Thiên Chúa.”
"I believe in God": this first affirmation of the Apostles' Creed is also the most fundamental. the whole Creed speaks of God, and when it also speaks of man and of the world it does so in relation to God. the other articles of the Creed all depend on the first, just as the remaining Commandments make the first explicit. the other articles help us to know God better as he revealed himself progressively to men. "The faithful first profess their belief in God."
Tín biểu Nicêa - Constantinôpôli bắt đầu bằng những lời trên đây. Việc tuyên xưng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất bắt nguồn từ mặc khải của Thiên Chúa trong Cựu Ước. Việc tuyên xưng này không thể tách biệt khỏi việc tuyên xưng về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và cũng có giá trị hết sức căn bản. Thiên Chúa là Đấng duy nhất: chỉ có một Thiên Chúa. “Vì vậy, đức tin Kitô Giáo tin và tuyên xưng chỉ có một Thiên Chúa, xét theo bản tính, bản thể và yếu tính.”
These are the words with which the Niceno-Constantinopolitan Creed begins. the confession of God's oneness, which has its roots in the divine revelation of the Old Covenant, is inseparable from the profession of God's existence and is equally fundamental. God is unique; there is only one God: "The Christian faith confesses that God is one in nature, substance and essence."
Thiên Chúa tự mặc khải cho Ítraen, dân Ngài chọn, rằng Ngài là Đấng Duy Nhất: “Nghe đây, hỡi Ítraen, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta là ĐỨC CHÚA duy nhất. Hãy yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,4-5). Qua các Tiên tri, Thiên Chúa kêu gọi Ítraen và các dân tộc trở lại với Ngài, là Đấng Duy Nhất: “Nào muôn dân khắp cõi địa cầu, hãy hướng về Ta, thì các ngươi sẽ được cứu độ, vì Ta là Thiên Chúa, chẳng còn chúa nào khác... Trước mặt Ta, mọi người sẽ qùy gối, và mở miệng thề rằng: Chỉ mình ĐỨC CHÚA mới cứu độ và làm cho mạnh sức” (Is 45,22-24).
To Israel, his chosen, God revealed himself as the only One: "Hear, O Israel: the LORD our God is one LORD; and you shall love the LORD your God with all your heart, and with all your soul, and with all your might." Through the prophets, God calls Israel and all nations to turn to him, the one and only God: "Turn to me and be saved, all the ends of the earth! For I am God, and there is no other.. . To me every knee shall bow, every tongue shall swear. 'Only in the LORD, it shall be said of me, are righteousness and strength.'"
Chính Chúa Giêsu xác quyết rằng Thiên Chúa là “Chúa Duy Nhất”, và phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí và hết sức lực. Đồng thời, Người cũng minh định rằng chính Người là “Chúa.” Tuyên xưng “Đức Giêsu là Chúa” là nét đặc thù của đức tin Kitô Giáo. Điều này không trái ngược với đức tin vào một Thiên Chúa Duy Nhất. Tin vào Chúa Thánh Thần là “Chúa và là Đấng ban sự sống” không hề đưa đến sự chia cắt nào nơi Thiên Chúa Duy Nhất: “Chúng tôi tin cách vững vàng và tuyên xưng cách đơn sơ rằng chỉ có Một Thiên Chúa chân thật, vĩnh cửu, vô hạn và bất biến, vô phương thấu hiểu, toàn năng và khôn tả, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần: Ba Ngôi Vị, nhưng chỉ có một yếu tính, một bản thể hoặc một bản tính hoàn toàn đơn nhất.”
Jesus himself affirms that God is "the one Lord" whom you must love "with all your heart, and with all your soul, and with all your mind, and with all your strength". At the same time Jesus gives us to understand that he himself is "the Lord". To confess that Jesus is Lord is distinctive of Christian faith. This is not contrary to belief in the One God. Nor does believing in the Holy Spirit as "Lord and giver of life" introduce any division into the One God:
Thiên Chúa tự mặc khải cho Ítraen, dân của Ngài, tỏ cho họ biết Danh Ngài. Tên gọi diễn tả yếu tính, căn tính của một người và ý nghĩa cuộc đời của người đó. Thiên Chúa có một tên gọi. Ngài không phải là một sức mạnh vô danh. Cho biết tên gọi của mình là cho những người khác nhận biết mình, một cách nào đó là tự trao mình, để người ta có thể tiếp xúc với mình, có thể hiểu biết mình cách thân mật hơn, và thật sự có thể gọi mình một cách cá vị.
God revealed himself to his people Israel by making his name known to them. A name expresses a person's essence and identity and the meaning of this person's life. God has a name; he is not an anonymous force. To disclose one's name is to make oneself known to others; in a way it is to hand oneself over by becoming accessible, capable of being known more intimately and addressed personally.
Thiên Chúa đã tự mặc khải cho dân Ngài một cách tiệm tiến và dưới nhiều danh xưng khác nhau. Tuy nhiên, việc mặc khải tôn danh Thiên Chúa cho ông Môsê trong cuộc thần hiện nơi bụi gai cháy bừng, để dẫn đến cuộc Xuất Hành và Giao Ước Xinai, được coi như một mặc khải căn bản cho cả Cựu và Tân Ước.
God revealed himself progressively and under different names to his people, but the revelation that proved to be the fundamental one for both the Old and the New Covenants was the revelation of the divine name to Moses in the theophany of the burning bush, on the threshold of the Exodus and of the covenant on Sinai.
Thiên Chúa gọi ông Môsê từ giữa bụi gai cháy bừng nhưng không tàn lụi. Thiên Chúa nói với ông Môsê: “Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp” (Xh 3,6). Thiên Chúa là Thiên Chúa của tổ tiên, Đấng đã kêu gọi và hướng dẫn các Tổ phụ trong các cuộc lữ hành của họ. Ngài là Thiên Chúa trung tín và thương xót, Đấng nhớ tới họ và nhớ các lời Ngài đã hứa; Ngài đến để giải thoát con cháu họ khỏi ách nô lệ. Ngài là Thiên Chúa, Đấng, vượt quá thời gian và không gian, có khả năng và ý muốn làm điều đó, và là Đấng sẽ dùng sự toàn năng của mình để thực hiện kế hoạch này. “Ông Môsê thưa với Thiên Chúa: ‘Bây giờ, con đến gặp con cái Ítraen và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì? Thì con sẽ nói với họ làm sao?’ Thiên Chúa phán với ông Môsê: ‘Ta là Đấng Hiện Hữu’. Ngài phán: ‘Ngươi nói với con cái Ítraen thế này: “Đấng Hiện Hữu” sai tôi đến với anh em... Đó là danh Ta cho đến muôn thuở, đó là danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời nọ đến đời kia’” (Xh 3,13-15).
God calls Moses from the midst of a bush that burns without being consumed: "I am the God of your father, the God of Abraham, the God of Isaac, and the God of Jacob." God is the God of the fathers, the One who had called and guided the patriarchs in their wanderings. He is the faithful and compassionate God who remembers them and his promises; he comes to free their descendants from slavery. He is the God who, from beyond space and time, can do this and wills to do it, the God who will put his almighty power to work for this plan.
Khi mặc khải Danh thánh bí nhiệm YHWH của Ngài, nghĩa là, “Ta là Đấng Hiện Hữu” hoặc “Ta là Đấng Ta là”, hoặc “Ta chính là Ta”, Thiên Chúa nói Ngài là ai và phải gọi tên Ngài như thế nào. Danh thánh này có tính chất huyền nhiệm cũng như Thiên Chúa là mầu nhiệm. Đó vừa là Danh được mặc khải, vừa như là từ chối một Danh xưng, và vì vậy, Danh này diễn tả Thiên Chúa một cách tốt nhất, vì Ngài là Đấng vô cùng vượt quá tất cả những gì chúng ta có thể hiểu biết và nói lên: Ngài là “Thiên Chúa ẩn mình” (Is 45,15), Danh thánh Ngài không thể gọi được, và vị Thiên Chúa đó là Đấng tự làm cho mình nên gần gũi với con người.
In revealing his mysterious name, YHWH ("I AM HE WHO IS", "I AM WHO AM" or "I AM WHO I AM"), God says who he is and by what name he is to be called. This divine name is mysterious just as God is mystery. It is at once a name revealed and something like the refusal of a name, and hence it better expresses God as what he is - infinitely above everything that we can understand or say: he is the "hidden God", his name is ineffable, and he is the God who makes himself close to men.
Khi mặc khải Danh Ngài, Thiên Chúa đồng thời mặc khải lòng trung tín của Ngài, một lòng trung tín có từ muôn thuở và cho tới muôn đời, một lòng trung tín có giá trị trong quá khứ (“Ta là Thiên Chúa của cha ngươi”, Xh 3,6) cũng như trong tương lai (“Ta sẽ ở với ngươi”, Xh 3,12). Thiên Chúa, Đấng mặc khải Danh Ngài là “Đấng Hiện Hữu”, đã tự mặc khải mình là vị Thiên Chúa luôn có mặt, luôn hiện diện với dân Ngài để cứu độ họ.
By revealing his name God at the same time reveals his faithfulness which is from everlasting to everlasting, valid for the past ("I am the God of your father"), as for the future ("I will be with you"). God, who reveals his name as "I AM", reveals himself as the God who is always there, present to his people in order to save them.
Trước sự hiện diện cuốn hút và huyền nhiệm của Thiên Chúa, con người nhận ra sự nhỏ bé của mình. Trước bụi gai cháy bừng, ông Môsê cởi dép và che mặt trước tôn nhan Thiên Chúa chí thánh. Trước vinh quang của Thiên Chúa ba lần thánh, tiên tri Isaia thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế” (Is 6,5). Trước những dấu chỉ thần linh Chúa Giêsu thực hiện, ông Phêrô thốt lên: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8). Nhưng bởi vì Thiên Chúa là Đấng Thánh, nên Ngài có thể tha thứ cho kẻ nhận biết mình là tội nhân trước mặt Ngài: “Ta sẽ không hành động theo cơn nóng giận..., vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi, Ta là Đấng Thánh” (Hs 11,9). Tông đồ Gioan cũng sẽ nói tương tự: “Chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa. Vì nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự” (1 Ga 3,19-20).
Faced with God's fascinating and mysterious presence, man discovers his own insignificance. Before the burning bush, Moses takes off his sandals and veils his face in the presence of God's holiness. Before the glory of the thrice-holy God, Isaiah cries out: "Woe is me! I am lost; for I am a man of unclean lips." Before the divine signs wrought by Jesus, Peter exclaims: "Depart from me, for I am a sinful man, O Lord." But because God is holy, he can forgive the man who realizes that he is a sinner before him: "I will not execute my fierce anger. . . for I am God and not man, the Holy One in your midst." The apostle John says likewise: "We shall. . . reassure our hearts before him whenever our hearts condemn us; for God is greater than our hearts, and he knows everything."
Vì tôn kính sự thánh thiện của Thiên Chúa, dân Ítraen không gọi Danh của Ngài. Khi đọc Thánh Kinh, người ta thay thế Danh được mặc khải bằng tước hiệu thần linh là “Chúa” (Adonai, tiếng Hy Lạp là Kyrios). Thần tính của Chúa Giêsu sẽ được tuyên xưng bằng tước hiệu này: “Đức Giêsu là Chúa.”
Out of respect for the holiness of God, the people of Israel do not pronounce his name. In the reading of Sacred Scripture, the revealed name (YHWH) is replaced by the divine title "LORD" (in Hebrew Adonai, in Greek Kyrios). It is under this title that the divinity of Jesus will be acclaimed: "Jesus is LORD."
Sau khi dân Ítraen phạm tội, chối bỏ Thiên Chúa để quay sang thờ con bê bằng vàng, Thiên Chúa đã nghe lời chuyển cầu của ông Môsê và chấp nhận đồng hành giữa đám dân bất trung, qua đó biểu lộ tình yêu của Ngài. Khi ông Môsê xin được thấy vinh quang Thiên Chúa, Ngài trả lời: “Ta sẽ cho tất cả vẻ đẹp của Ta đi qua trước mặt ngươi, và sẽ xưng danh Ta là Chúa [YHWH] trước mặt ngươi” (Xh 33,18-19). Và Chúa đi qua trước mặt ông Môsê và hô to: “Chúa, Chúa [YHWH,YHWH], Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,5-6). Lúc đó ông Môsê tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa hay tha thứ.
After Israel's sin, when the people had turned away from God to worship the golden calf, God hears Moses' prayer of intercession and agrees to walk in the midst of an unfaithful people, thus demonstrating his love. When Moses asks to see his glory, God responds "I will make all my goodness pass before you, and will proclaim before you my name "the LORD" [YHWH]." Then the LORD passes before Moses and proclaims, "YHWH, YHWH, a God merciful and gracious, slow to anger, and abounding in steadfast love and faithfulness"; Moses then confesses that the LORD is a forgiving God.
Thánh Danh “Ta Hiện Hữu” hoặc “Đấng Hiện Hữu” diễn tả sự trung tín của Thiên Chúa, Đấng “giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ” (Xh 34,7) cho dù con người có bất trung, tội lỗi, đáng phải trừng phạt. Thiên Chúa mặc khải rằng Ngài “giàu lòng thương xót” (Ep 2,4), đến nỗi trao ban chính Con Một của Ngài. Chúa Giêsu, khi hiến mạng sống mình để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, sẽ mặc khải rằng chính Người mang danh thánh của Thiên Chúa: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là ‘Tôi Hiện Hữu’” (Ga 8,28).
The divine name, "I Am" or "He Is", expresses God's faithfulness: despite the faithlessness of men's sin and the punishment it deserves, he keeps "steadfast love for thousands". By going so far as to give up his own Son for us, God reveals that he is "rich in mercy". By giving his life to free us from sin, Jesus reveals that he himself bears the divine name: "When you have lifted up the Son of man, then you will realize that "I AM"."
Trải qua các thế kỷ, đức tin của Ítraen đã có thể khai triển và đào sâu hơn nữa các ý nghĩa phong phú chứa đựng trong việc mặc khải Danh thánh của Thiên Chúa. Thiên Chúa là duy nhất, ngoài Ngài ra không có thần nào hết. Ngài siêu việt trên vũ trụ và lịch sử. Chính Ngài tạo dựng trời đất. “Chúng tiêu tan, Chúa còn hoài; chúng như áo cũ thảy rồi mòn hao... Nhưng chính Ngài tiền hậu y nguyên; tháng năm Ngài vẫn triền miên” (Tv 102,27-28). Nơi Ngài, “không hề có sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng” (Gc 1,17). Ngài là “Đấng Hiện Hữu” từ muôn thuở đến muôn đời và như vậy, Ngài là Đấng luôn trung tín với chính mình Ngài và với các lời hứa của Ngài.
Over the centuries, Israel's faith was able to manifest and deepen realization of the riches contained in the revelation of the divine name. God is unique; there are no other gods besides him.
Vì vậy, việc mặc khải Danh khôn tả “Ta là Đấng Ta là” chứa đựng chân lý này: chỉ mình Thiên Chúa là ĐẤNG HIỆN HỮU. Bản dịch Bảy Mươi và kế đó là Truyền thống Hội Thánh đã hiểu Danh thánh của Thiên Chúa theo nghĩa đó: Thiên Chúa là sự viên mãn của sự Hiện Hữu và của mọi trọn hảo, không có khởi đầu, và cũng chẳng có cùng tận. Trong khi tất cả mọi thụ tạo đều lãnh nhận từ Thiên Chúa tất cả những gì chúng là và những gì chúng có, thì duy chỉ mình Ngài là tự mình hiện hữu và Ngài là gì đều do chính Ngài.
The revelation of the ineffable name "I AM WHO AM" contains then the truth that God alone IS. the Greek Septuagint translation of the Hebrew Scriptures, and following it the Church's Tradition, understood the divine name in this sense: God is the fullness of Being and of every perfection, without origin and without end. All creatures receive all that they are and have from him; but he alone is his very being, and he is of himself everything that he is.
Thiên Chúa, “Đấng Hiện Hữu”, đã tự mặc khải cho Ítraen như Đấng “giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Hai từ ngữ ấy diễn tả một cách cô đọng những sự phong phú của Danh Thiên Chúa. Trong mọi công trình của Ngài, Thiên Chúa biểu lộ lòng quảng đại, sự tốt lành, ân sủng và tình yêu của Ngài; Ngài cũng cho thấy Ngài là Đấng đáng được tin tưởng, là Đấng bền vững, trung tín, chân thật: “Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài vẫn thành tín yêu thương” (Tv 138,2). Ngài là Chân Lý, vì “Thiên Chúa là Ánh Sáng, nơi Ngài không có một chút bóng tối nào” (1 Ga 1,5); Ngài là “Tình Yêu” (1 Ga 4,8), như thánh Tông Đồ Gioan dạy.
God, "HE WHO IS", revealed himself to Israel as the one "abounding in steadfast love and faithfulness". These two terms express summarily the riches of the divine name. In all his works God displays, not only his kindness, goodness, grace and steadfast love, but also his trustworthiness, constancy, faithfulness and truth. "I give thanks to your name for your steadfast love and your faithfulness." He is the Truth, for "God is light and in him there is no darkness"; "God is love", as the apostle John teaches.
“Căn nguyên lời Ngài là chân lý, mọi quyết định công minh của Ngài tồn tại muôn năm” (Tv 119,160). “Lạy Chúa là Chúa Thượng, chính Ngài là Thiên Chúa, những lời Ngài phán là chân lý” (2 Sm 7,28); vì vậy, những lời Thiên Chúa hứa luôn luôn được thực hiện. Thiên Chúa là chính Chân Lý, những lời của Ngài không thể là sai lầm. Vì vậy, người ta có thể, một cách hoàn toàn tin tưởng, phó mình cho sự thật và sự trung tín của lời Ngài trong mọi sự. Khởi đầu của tội lỗi và của sự sa ngã của loài người là lời dối trá của Tên Cám Dỗ, nó dẫn con người đến chỗ nghi ngờ lời Thiên Chúa, nghi ngờ lòng nhân hậu và sự trung tín của Ngài.
"The sum of your word is truth; and every one of your righteous ordinances endures forever." "and now, O LORD God, you are God, and your words are true"; this is why God's promises always come true. God is Truth itself, whose words cannot deceive. This is why one can abandon oneself in full trust to the truth and faithfulness of his word in all things. the beginning of sin and of man's fall was due to a lie of the tempter who induced doubt of God's word, kindness and faithfulness.
Chân lý của Thiên Chúa là sự khôn ngoan của Ngài, chỉ huy toàn bộ trật tự của việc tạo dựng và việc điều hành trần gian. Một mình Thiên Chúa đã tạo dựng trời đất, nên duy một mình Ngài có thể ban sự hiểu biết đích thực về mọi thụ tạo trong tương quan của chúng với Ngài.
God's truth is his wisdom, which commands the whole created order and governs the world. God, who alone made heaven and earth, can alone impart true knowledge of every created thing in relation to himself.
Thiên Chúa cũng là Đấng chân thật khi Ngài tự mặc khải: giáo huấn đến từ Thiên Chúa là “Luật của chân lý” (Ml 2,6). Ngài sai Con của Ngài “đến thế gian,” chính là để “làm chứng cho sự thật” (Ga 18,37). “Chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến và ban cho chúng ta trí khôn để biết Thiên Chúa thật” (l Ga 5,20).
God is also truthful when he reveals himself - the teaching that comes from God is "true instruction". When he sends his Son into the world it will be "to bear witness to the truth": "We know that the Son of God has come and has given us understanding, to know him who is true."
Theo dòng lịch sử của mình, Ítraen đã có thể khám phá ra rằng Thiên Chúa chỉ có một động lực duy nhất khiến Ngài tự mặc khải cho họ và chọn họ giữa mọi dân để họ là dân của Ngài: đó là tình yêu nhưng không của Ngài. Nhờ các Tiên tri, Ítraen hiểu rằng, cũng vì tình yêu mà Thiên Chúa đã không ngừng giải cứu họ và tha thứ cho sự bất trung và tội lỗi của họ.
In the course of its history, Israel was able to discover that God had only one reason to reveal himself to them, a single motive for choosing them from among all peoples as his special possession: his sheer gratuitous love. and thanks to the prophets Israel understood that it was again out of love that God never stopped saving them and pardoning their unfaithfulness and sins.
Tình yêu của Thiên Chúa đối với Ítraen được so sánh với tình yêu của một người cha đối với con mình. Tình yêu đó còn mạnh hơn tình yêu của một người mẹ dành cho con cái mình. Thiên Chúa yêu dân Ngài hơn người chồng yêu người vợ yêu dấu của mình. Tình yêu đó cũng sẽ chiến thắng những bất trung thậm chí tồi tệ nhất, và sẽ đi đến chỗ ban tặng hồng ân quý giá nhất: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài” (Ga 3,16).
God's love for Israel is compared to a father's love for his son. His love for his people is stronger than a mother's for her children. God loves his people more than a bridegroom his beloved; his love will be victorious over even the worst infidelities and will extend to his most precious gift: "God so loved the world that he gave his only Son."
Tình yêu của Thiên Chúa “tồn tại muôn đời” (Is 54,8): “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi” (Is 54,10). “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3).
God's love is "everlasting": "For the mountains may depart and the hills be removed, but my steadfast love shall not depart from you." Through Jeremiah, God declares to his people, "I have loved you with an everlasting love; therefore I have continued my faithfulness to you."
Thánh Gioan còn đi xa hơn nữa khi làm chứng rằng: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8.16): Chính Hữu Thể của Thiên Chúa là tình yêu. Khi sai Con Một của Ngài và Thánh Thần Tình Yêu lúc thời gian đến hồi viên mãn, Thiên Chúa mặc khải điều bí ẩn thâm sâu nhất của Ngài: chính Ngài là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và Ngài đã tiền định cho chúng ta được dự phần vào sự trao đổi tình yêu đó.
But St. John goes even further when he affirms that "God is love": God's very being is love. By sending his only Son and the Spirit of Love in the fullness of time, God has revealed his innermost secret: God himself is an eternal exchange of love, Father, Son and Holy Spirit, and he has destined us to share in that exchange.
Tin vào Thiên Chúa, Đấng duy nhất, và yêu mến Ngài hết mình, có những hệ quả rất quan trọng cho toàn bộ cuộc sống của chúng ta.
Believing in God, the only One, and loving him with all our being has enormous consequences for our whole life.
Đó là nhận biết sự vĩ đại và quyền năng của Thiên Chúa: “Hãy xem, Thiên Chúa cao vời, làm sao ta hiểu thấu” (G 36,26). Vì vậy, Thiên Chúa phải là Đấng “được phục vụ trước hết.”
It means coming to know God's greatness and majesty: "Behold, God is great, and we know him not." Therefore, we must "serve God first".
Đó là sống trong tâm tình cảm tạ: nếu Thiên Chúa là Đấng duy nhất, thì chúng ta là gì, và có gì, đều là bởi Ngài: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” (1 Cr 4,7). “Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Ngài đã ban cho?” (Tv 116,12).
It means living in thanksgiving: if God is the only One, everything we are and have comes from him: "What have you that you did not receive?" "What shall I render to the LORD for all his bounty to me?"
Đó là nhận biết sự hợp nhất và phẩm giá đích thực của mọi người: Mọi người đều được dựng nên “theo hình ảnh và giống như” Thiên Chúa (St 1,26).
It means knowing the unity and true dignity of all men: everyone is made in the image and likeness of God.
Đó là sử dụng các thụ tạo cách đúng đắn: đức tin vào Thiên Chúa Duy Nhất hướng dẫn chúng ta sử dụng mọi vật không phải là Thiên Chúa nếu chúng đưa chúng ta đến với Ngài, và xa tránh các thụ tạo nếu chúng ngăn cách chúng ta khỏi Thiên Chúa: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, xin cất khỏi con những gì làm con xa Chúa. Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, xin ban cho con những gì đưa con đến với Chúa. Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, xin giải thoát con khỏi chính mình con và ban cho con được hoàn toàn thuộc về Chúa.”
It means making good use of created things: faith in God, the only One, leads us to use everything that is not God only insofar as it brings us closer to him, and to detach ourselves from it insofar as it turns us away from him: My Lord and my God, take from me everything that distances me from you. My Lord and my God, give me everything that brings me closer to you My Lord and my God, detach me from myself to give my all to you.
Đó là luôn tin tưởng vào Thiên Chúa, cả khi gặp nghịch cảnh. Một lời kinh của thánh Têrêsa Giêsu diễn tả ý đó một cách tuyệt vời: “Đừng để điều gì làm cho bạn xao xuyến; Đừng để điều gì làm cho bạn lo sợ. Mọi sự đều qua đi, Thiên Chúa không thay đổi! Kiên nhẫn sẽ được tất cả. Ai có Thiên Chúa, người ấy chẳng thiếu gì: Chỉ có Thiên Chúa, là đã đủ.”
It means trusting God in every circumstance, even in adversity. A prayer of St. Teresa of Jesus wonderfully expresses this trust:
“Nghe đây, hỡi Ítraen, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất” (Đnl 6,4; Mc 12,29) “Hữu Thể tối cao nhất thiết phải là duy nhất, nghĩa là không ai sánh bằng... Nếu Thiên Chúa không duy nhất, thì Ngài không phải là Thiên Chúa.”
"Hear, O Israel, the LORD our God is one LORD..." (Dt 6:4; Mk 12:29). "The supreme being must be unique, without equal. . . If God is not one, he is not God" (Tertullian, Adv. Marc., 1, 3, 5: PL 2, 274).
Đức tin vào Thiên Chúa quy hướng chúng ta về một mình Ngài, như về nguồn gốc đầu tiên và về cùng đích tối hậu của chúng ta, và không quý trọng sự gì hơn Ngài, hoặc không để một sự gì thay chỗ Ngài.
Faith in God leads us to turn to him alone as our first origin and our ultimate goal, and neither to prefer anything to him nor to substitute anything for him.
Tuy đã tự mặc khải, Thiên Chúa vẫn còn là mầu nhiệm khôn tả: “Nếu bạn hiểu được, thì Ngài không phải là Thiên Chúa.”
Even when he reveals himself, God remains a mystery beyond words: "If you understood him, it would not be God" (St. Augustine, Sermo 52, 6, 16: PL 38, 360 and Sermo 117, 3, 5: PL 38, 663).
Thiên Chúa của đức tin chúng ta đã tự mặc khải là Đấng Hiện Hữu; Ngài cho chúng ta biết Ngài là Đấng “giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Bản thể của Ngài là chân lý và tình yêu.
The God of our faith has revealed himself as HE WHO IS; and he has made himself known as "abounding in steadfast love and faithfulness" (Ex 34:6). God's very being is Truth and Love.