Điều răn thứ tám cấm xuyên tạc chân lý trong những tương quan với tha nhân. Chỉ thị luân lý này xuất phát từ ơn gọi của dân thánh, là làm chứng nhân cho Thiên Chúa của mình, Đấng là chân lý và muốn chân lý. Những sự xúc phạm đến chân lý, bằng lời nói hay bằng hành vi, đều là từ chối dấn thân theo sự ngay thẳng về luân lý. Những sự xúc phạm đó là những bất trung căn bản đối với Thiên Chúa và, theo nghĩa này, chúng hủy hoại các nền tảng của Giao Ước.
The eighth commandment forbids misrepresenting the truth in our relations with others. This moral prescription flows from the vocation of the holy people to bear witness to their God who is the truth and wills the truth. Offenses against the truth express by word or deed a refusal to commit oneself to moral uprightness: they are fundamental infidelities to God and, in this sense, they undermine the foundations of the covenant.
Cựu Ước chứng tỏ: Thiên Chúa là nguồn mạch mọi chân lý. Lời Ngài là chân lý. Luật của Ngài là chân lý. “Lòng thành tín Chúa trải bao thế hệ” (Tv 119,90). Bởi vì Thiên Chúa là “Đấng Chân Thật” (Rm 3,4), nên các phần tử của dân Ngài được kêu gọi sống trong chân lý.
The Old Testament attests that God is the source of all truth. His Word is truth. His Law is truth. His "faithfulness endures to all generations." Since God is "true," the members of his people are called to live in the truth.
Chân lý của Thiên Chúa được tỏ hiện cách trọn vẹn nơi Chúa Giêsu Kitô. Chính Người, Đấng tràn đầy ân sủng và chân lý, là “ánh sáng thế gian” (Ga 8,12). Chính Người là chân lý. Mọi kẻ tin vào Người, thì không còn ở trong bóng tối. Môn đệ của Chúa Giêsu ở trong lời Người, để nhận biết chân lý có sức giải thoát và thánh hóa. Bước theo Chúa Giêsu là sống bởi Thánh Thần chân lý, Đấng Chúa Cha sai đến nhân danh Người, và là Đấng sẽ dẫn đưa đến “sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13). Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải tuyệt đối yêu mến chân lý: “Trong lời nói của anh em, hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’, ‘không’ thì phải nói ‘không’” (Mt 5,37).
In Jesus Christ, the whole of God's truth has been made manifest. "Full of grace and truth," he came as the "light of the world," he is the Truth. "Whoever believes in me may not remain in darkness." The disciple of Jesus continues in his word so as to know "the truth [that] will make you free" and that sanctifies. To follow Jesus is to live in "the Spirit of truth," whom the Father sends in his name and who leads "into all the truth." To his disciples Jesus teaches the unconditional love of truth: "Let what you say be simply 'Yes or No.'"
Con người tự bản tính hướng đến chân lý. Con người buộc phải tôn trọng và làm chứng cho chân lý. “Theo phẩm giá của mình, mọi người, bởi vì là những nhân vị,... được thôi thúc do bản tính của mình, và do nghĩa vụ luân lý, buộc phải tìm kiếm chân lý, trước hết là chân lý về tôn giáo. Họ cũng buộc phải gắn bó với chân lý đã được nhận biết, và xếp đặt toàn bộ đời sống mình theo các đòi hỏi của chân lý.”
Man tends by nature toward the truth. He is obliged to honor and bear witness to it: "It is in accordance with their dignity that all men, because they are persons . . . are both impelled by their nature and bound by a moral obligation to seek the truth, especially religious truth. They are also bound to adhere to the truth once they come to know it and direct their whole lives in accordance with the demands of truth."
Chân lý, xét như là sự ngay thẳng trong cách hành động và trong lời nói của con người, có tên gọi là sự chân thật, sự thành thật hoặc tâm hồn cởi mở. Chân lý hoặc sự chân thật là một nhân đức, cốt tại việc con người tỏ ra mình thành thật trong các hành vi của mình và thành thật trong các lời nói của mình, tránh xa lối sống hai mặt, dối trá và đạo đức giả.
Truth as uprightness in human action and speech is called truthfulness, sincerity, or candor. Truth or truthfulness is the virtue which consists in showing oneself true in deeds and truthful in words, and in guarding against duplicity, dissimulation, and hypocrisy.
“Con người không thể... chung sống với nhau nếu không tin nhau, xét như những người biểu lộ chân lý cho nhau.” Nhân đức chân thật trả lại cho người khác cách công bằng điều ta mắc nợ họ. Chân lý giữ sự trung dung chính đáng giữa điều phải được nói ra với điều bí mật phải giữ kín: chân lý bao hàm sự thành thật và sự kín đáo. Theo đức công bằng, “con người phải thành thật biểu lộ chân lý cho người khác.”
"Men could not live with one another if there were not mutual confidence that they were being truthful to one another." The virtue of truth gives another his just due. Truthfulness keeps to the just mean between what ought to be expressed and what ought to be kept secret: it entails honesty and discretion. In justice, "as a matter of honor, one man owes it to another to manifest the truth."
Người môn đệ Đức Kitô chấp nhận “sống trong chân lý”, nghĩa là, trong đời sống đơn sơ phù hợp với mẫu gương của Chúa và ở lại trong chân lý của Người. “Nếu chúng ta nói là chúng ta hiệp thông với Người, mà lại đi trong bóng tối, thì chúng ta nói dối, và không hành động theo sự thật” (1 Ga 1,6).
The disciple of Christ consents to "live in the truth," that is, in the simplicity of a life in conformity with the Lord's example, abiding in his truth. "If we say we have fellowship with him while we walk in darkness, we lie and do not live according to the truth."
Trước mặt quan Philatô, Đức Kitô tuyên bố Người đã đến thế gian là để làm chứng cho chân lý. Kitô hữu không được “hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa” (2 Tm 1,8). Trong những trường hợp đòi phải làm chứng cho đức tin, Kitô hữu phải tuyên xưng đức tin một cách không úp mở, theo gương thánh Phaolô trước mặt các thẩm phán. Họ phải giữ “lương tâm không có gì đáng chê trách trước mặt Thiên Chúa và người ta” (Cv 24,16).
Before Pilate, Christ proclaims that he "has come into the world, to bear witness to the truth." The Christian is not to "be ashamed then of testifying to our Lord." In situations that require witness to the faith, the Christian must profess it without equivocation, after the example of St. Paul before his judges. We must keep "a clear conscience toward God and toward men."
Bổn phận của các Kitô hữu là tham gia vào đời sống Hội Thánh, thúc đẩy họ hành động như những chứng nhân của Tin Mừng và chu toàn những nghĩa vụ phát xuất từ bổn phận đó. Làm chứng là lưu truyền đức tin bằng lời nói và việc làm. Làm chứng là một hành vi của đức công bằng nhằm thiết lập chân lý hoặc làm cho chân lý được nhận biết: Mọi Kitô hữu, dù sống ở đâu, đều phải lấy gương mẫu đời sống và chứng từ lời nói để biểu lộ con người mới, mà họ đã mặc lấy qua bí tích Rửa Tội, và biểu lộ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Đấng đã củng cố họ qua bí tích Thêm Sức.
The duty of Christians to take part in the life of the Church impels them to act as witnesses of the Gospel and of the obligations that flow from it. This witness is a transmission of the faith in words and deeds. Witness is an act of justice that establishes the truth or makes it known. All Christians by the example of their lives and the witness of their word, wherever they live, have an obligation to manifest the new man which they have put on in Baptism and to reveal the power of the Holy Spirit by whom they were strengthened at Confirmation.
Sự tử đạo là việc làm chứng cao cả nhất cho chân lý đức tin; đó là sự làm chứng cho đến nỗi phải chết. Vị tử đạo làm chứng cho Đức Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại, mà họ được liên kết với Người bằng đức mến. Vị tử đạo làm chứng cho chân lý đức tin và đạo lý Kitô Giáo. Vị tử đạo chịu chết bằng hành vi của đức can đảm. “Hãy để tôi trở nên mồi ngon cho ác thú, nhờ chúng mà tôi được đến với Thiên Chúa.”
Martyrdom is the supreme witness given to the truth of the faith: it means bearing witness even unto death. the martyr bears witness to Christ who died and rose, to whom he is united by charity. He bears witness to the truth of the faith and of Christian doctrine. He endures death through an act of fortitude. "Let me become the food of the beasts, through whom it will be given me to reach God."
Hội Thánh hết sức quan tâm thu thập các kỷ niệm về những vị đã làm chứng cho đức tin của mình cho đến cùng. Đó là Hạnh các vị Tử Đạo. Các hạnh này là những văn thư lưu trữ về Chân Lý được viết bằng máu: “Những lãnh địa trần gian và các vương quốc đời này không ích gì cho tôi. Đối với tôi, thà chết trong Đức Kitô Giêsu, còn hơn được thống trị các lãnh địa của trái đất này. Tôi tìm kiếm Người, Đấng đã chết cho chúng ta; tôi khao khát Người, Đấng đã sống lại vì chúng ta. Tôi sắp được sinh ra...” “Con chúc tụng Chúa, vì Chúa đã xét con xứng đáng với ngày này và giờ này, để con được dự phần vào số các vị tử đạo... Chúa đã thực hiện lời Chúa hứa, lạy Thiên Chúa, Đấng trung tín và không biết nói dối. Vì hồng ân này và vì tất cả mọi sự, con ngợi khen Chúa, con chúc tụng Chúa, con tôn vinh Chúa nhờ vị Thượng Tế vĩnh hằng trên trời là Chúa Giêsu Kitô, Con yêu dấu của Chúa. Nhờ Người, con tôn vinh Chúa cùng với Người trong Chúa Thánh Thần, bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.”
The Church has painstakingly collected the records of those who persevered to the end in witnessing to their faith. These are the acts of the Martyrs. They form the archives of truth written in letters of blood:
Các môn đệ của Đức Kitô đã “mặc lấy con người mới, là con người đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,24). “Một khi đã cởi bỏ sự gian dối” (Ep 4,25), họ phải “từ bỏ mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói xấu gièm pha” (1 Pr 2,1).
Christ's disciples have "put on the new man, created after the likeness of God in true righteousness and holiness." By "putting away falsehood," they are to "put away all malice and all guile and insincerity and envy and all slander."
Làm chứng dối và thề gian. Khi được phát biểu công khai, một khẳng định nghịch với chân lý mang tính nghiêm trọng đặc biệt. Trước tòa án, lời nói như thế trở thành việc làm chứng dối. Khi quả quyết như thế mà còn thề, thì đó là thề gian. Những cách hành động này góp phần vào việc hoặc kết án người vô tội, hoặc gỡ tội cho phạm nhân, hoặc gia tăng hình phạt cho bị cáo. Những cách hành động này làm phương hại cách nghiêm trọng đến việc thực thi công lý và sự công bằng của bản án do các thẩm phán tuyên ra.
False witness and perjury. When it is made publicly, a statement contrary to the truth takes on a particular gravity. In court it becomes false witness. When it is under oath, it is perjury. Acts such as these contribute to condemnation of the innocent, exoneration of the guilty, or the increased punishment of the accused. They gravely compromise the exercise of justice and the fairness of judicial decisions.
Sự tôn trọng thanh danh của các nhân vị cấm mọi thái độ và mọi lời nói có thể gây thiệt hại cách bất công cho họ. Sẽ có lỗi khi: — Phán đoán hồ đồ, nghĩa là khi không có đủ cơ sở mà, ngay cả một cách thầm lặng, cho một khiếm khuyết về luân lý nơi người lân cận, là có thật. — Nói xấu, nghĩa là khi không có lý do chính đáng cách khách quan, mà lại tiết lộ những khiếm khuyết hoặc lỗi phạm của kẻ khác cho những người chưa biết; — Vu khống, nghĩa là khi dùng những khẳng định nghịch với chân lý mà làm hại thanh danh kẻ khác và tạo cơ hội cho người ta phán đoán sai lầm về người đó.
Respect for the reputation of persons forbids every attitude and word likely to cause them unjust injury. He becomes guilty: - of rash judgment who, even tacitly, assumes as true, without sufficient foundation, the moral fault of a neighbor; - of detraction who, without objectively valid reason, discloses another's faults and failings to persons who did not know them; - of calumny who, by remarks contrary to the truth, harms the reputation of others and gives occasion for false judgments concerning them.
Để tránh phán đoán hồ đồ, mỗi người, bao nhiêu có thể, phải cố gắng giải thích theo nghĩa tốt, những tư tưởng, lời nói và việc làm của người lân cận: “Mỗi Kitô hữu đạo đức phải mau mắn hiểu lời nói hay ý định tối nghĩa của người khác theo nghĩa tốt, hơn là lên án. Nếu không có lý do nào để có thể bào chữa, thì phải hỏi người đó có ý nói gì; nếu người đó nghĩ hay hiểu cách không đúng lắm, thì hãy sửa chữa cách dịu dàng; nếu như vậy chưa đủ, thì phải tìm mọi phương thế thích hợp giúp người đó hiểu đúng và thoát được sai lầm.”
To avoid rash judgment, everyone should be careful to interpret insofar as possible his neighbor's thoughts, words, and deeds in a favorable way:
Nói xấu và vu khống hủy hoại thanh danh và danh dự của người lân cận. Mà danh dự là bằng chứng của xã hội đối với nhân phẩm, và mỗi người có quyền tự nhiên được hưởng danh dự, thanh danh và sự tôn trọng. Vì vậy, nói xấu và vu khống là phạm đến các nhân đức công bằng và bác ái.
Detraction and calumny destroy the reputation and honor of one's neighbor. Honor is the social witness given to human dignity, and everyone enjoys a natural right to the honor of his name and reputation and to respect. Thus, detraction and calumny offend against the virtues of justice and charity.
Mọi lời nói và mọi thái độ sau đây đều phải bị cấm: nịnh hót, bợ đỡ hoặc tâng bốc để thúc đẩy và khuyến khích kẻ khác làm điều xấu và hành động cách sai lầm. Bợ đỡ là một lỗi phạm nghiêm trọng, nếu là đồng lõa với các thói xấu hoặc các tội nghiêm trọng. Ý muốn giúp đỡ hoặc tình bằng hữu không biện minh được cho lời nói hai lòng. Bợ đỡ là một tội nhẹ khi chỉ có ý để lấy lòng người khác, để tránh một điều xấu, thoát khỏi một tình thế khó khăn hay để đạt được những lợi ích chính đáng.
Every word or attitude is forbidden which by flattery, adulation, or complaisance encourages and confirms another in malicious acts and perverse conduct. Adulation is a grave fault if it makes one an accomplice in another's vices or grave sins. Neither the desire to be of service nor friendship justifies duplicitous speech. Adulation is a venial sin when it only seeks to be agreeable, to avoid evil, to meet a need, or to obtain legitimate advantages.
Khoe khoang hoặc khoác lác là một lỗi phạm nghịch với chân lý. Cũng phải nói như vậy về châm biếm, khi có ý làm mất uy tín một ai đó, bằng cách diễu cợt, với ý xấu, một điều gì trong cách hành động của người đó.
Boasting or bragging is an offense against truth. So is irony aimed at disparaging someone by maliciously caricaturing some aspect of his behavior.
“Nói dối là nói điều sai, với ý định đánh lừa kẻ khác.” Chúa tố giác sự nói dối là công việc của ma quỷ: “Cha các ngươi là ma quỷ... Sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối và là cha sự gian dối” (Ga 8,44).
"A lie consists in speaking a falsehood with the intention of deceiving." The Lord denounces lying as the work of the devil: "You are of your father the devil, . . . there is no truth in him. When he lies, he speaks according to his own nature, for he is a liar and the father of lies."
Nói dối là sự xúc phạm trực tiếp nhất đến chân lý. Nói dối là nói hay hành động nghịch với chân lý để dẫn đến sự sai lầm. Nói dối, vì làm hại cho tương quan của con người với chân lý và với người lân cận, nên xúc phạm đến tương quan nền tảng giữa con người và lời nói của con người với Chúa.
Lying is the most direct offense against the truth. To lie is to speak or act against the truth in order to lead into error someone who has the right to know the truth. By injuring man's relation to truth and to his neighbor, a lie offends against the fundamental relation of man and of his word to the Lord.
Tính nghiêm trọng của tội nói dối được đo lường tùy theo bản chất của chân lý mà tội đó đã làm sai lạc, tùy theo các hoàn cảnh và các ý hướng của kẻ nói dối, và những thiệt hại mà các nạn nhân của nó phải hứng chịu. Nếu sự nói dối tự nó chỉ là tội nhẹ, thì cũng trở thành tội trọng, khi nó xúc phạm cách nghiêm trọng đến các nhân đức công bằng và bác ái.
The gravity of a lie is measured against the nature of the truth it deforms, the circumstances, the intentions of the one who lies, and the harm suffered by its victims. If a lie in itself only constitutes a venial sin, it becomes mortal when it does grave injury to the virtues of justice and charity.
Sự nói dối tự bản chất là đáng lên án. Nó làm mất giá trị của lời nói, vốn có mục tiêu là truyền thông cho kẻ khác chân lý mình đã biết. Chủ ý đưa người khác vào sai lầm, bằng những khẳng định nghịch với chân lý, là lỗi phạm đến công bằng và bác ái. Tính quy tội càng lớn hơn, khi ý hướng đánh lừa có nguy cơ gây ra những hậu quả tai hại cho những ai bị lìa xa điều chân thật.
By its very nature, lying is to be condemned. It is a profanation of speech, whereas the purpose of speech is to communicate known truth to others. the deliberate intention of leading a neighbor into error by saying things contrary to the truth constitutes a failure in justice and charity. the culpability is greater when the intention of deceiving entails the risk of deadly consequences for those who are led astray.
Sự nói dối (bởi vì xúc phạm đến nhân đức chân thật), thật sự là một bạo lực đối với tha nhân. Nó làm tổn thương người đó về khả năng nhận thức, là điều kiện của mọi phán đoán và mọi quyết định. Nó là mầm mống sự chia rẽ giữa các tâm trí và mầm mống mọi điều xấu do chia rẽ gây ra. Nói dối là tai họa cho mọi xã hội; nó phá hủy sự tin tưởng giữa con người và cắt đứt các tương quan dệt nên xã hội.
Since it violates the virtue of truthfulness, a lie does real violence to another. It affects his ability to know, which is a condition of every judgment and decision. It contains the seed of discord and all consequent evils. Lying is destructive of society; it undermines trust among men and tears apart the fabric of social relationships.
Bất cứ lỗi phạm nào nghịch với sự công bằng và chân lý đều đòi phải có bổn phận đền bù, mặc dù tác giả của nó đã được tha thứ. Khi không thể đền bù lỗi phạm cách công khai, thì phải làm cách kín đáo; nếu không thể đền bù cách trực tiếp cho người bị hại, thì phải đền bù cho người ấy một cách luân lý, vì lý do bác ái. Bổn phận đền bù này cũng liên quan tới những lỗi phạm nghịch với thanh danh của người khác. Việc đền bù này - đền bù luân lý (moralis reparatio) và có khi là đền bù vật chất (materialis reparatio), - phải được thẩm định theo mức độ sự thiệt hại đã gây ra. Sự đền bù bắt buộc theo lương tâm.
Every offense committed against justice and truth entails the duty of reparation, even if its author has been forgiven. When it is impossible publicly to make reparation for a wrong, it must be made secretly. If someone who has suffered harm cannot be directly compensated, he must be given moral satisfaction in the name of charity. This duty of reparation also concerns offenses against another's reputation. This reparation, moral and sometimes material, must be evaluated in terms of the extent of the damage inflicted. It obliges in conscience.
Quyền truyền thông chân lý không phải là tuyệt đối. Mỗi người phải sống phù hợp với giới luật yêu thương huynh đệ của Tin Mừng. Trong những trường hợp cụ thể, giới luật này đòi hỏi phải cân nhắc cẩn thận xem có phải tỏ bày sự thật, hay không tỏ bày, cho người yêu cầu.
The right to the communication of the truth is not unconditional. Everyone must conform his life to the Gospel precept of fraternal love. This requires us in concrete situations to judge whether or not it is appropriate to reveal the truth to someone who asks for it.
Đức mến và sự tôn trọng chân lý phải quyết định câu trả lời cho mọi yêu cầu thông tin hay truyền thông. Lợi ích và sự an toàn của tha nhân, sự tôn trọng đời tư, công ích, là những lý do đủ để làm thinh không nói điều người khác không được biết, hay để dùng lời lẽ khôn ngoan. Bổn phận tránh gây gương xấu thường đòi buộc phải im lặng nghiêm ngặt. Không ai bị buộc phải tỏ bày một sự thật cho người không có quyền được biết.
Charity and respect for the truth should dictate the response to every request for information or communication. the good and safety of others, respect for privacy, and the common good are sufficient reasons for being silent about what ought not be known or for making use of a discreet language. the duty to avoid scandal often commands strict discretion. No one is bound to reveal the truth to someone who does not have the right to know it.
Bí mật của bí tích Giao Hòa là thánh thiêng và không được tiết lộ bất cứ vì lý do nào. “Ấn tín bí tích là điều bất khả xâm phạm; vì thế, tuyệt đối cấm cha giải tội không được tiết lộ hối nhân bằng lời nói hay bằng cách nào khác, và vì bất cứ lý do gì.”
The secret of the sacrament of reconciliation is sacred, and cannot be violated under any pretext. "The sacramental seal is inviolable; therefore, it is a crime for a confessor in any way to betray a penitent by word or in any other manner or for any reason."
Những bí mật nghề nghiệp - chẳng hạn, của các nhà chính trị, quân nhân, y sĩ, luật gia - hoặc chuyện tâm sự có lời thề giữ kín, phải được giữ bí mật, trừ những trường hợp ngoại lệ, là khi việc giữ bí mật sẽ gây ra cho người nói, người nghe, hoặc một đệ tam nhân, những thiệt hại rất nghiêm trọng, và chỉ có thể tránh được những điều đó bằng việc nói ra sự thật. Những chuyện riêng tư, mặc dầu không có lời thề giữ kín, cũng không được tiết lộ nếu có hại cho tha nhân, trừ khi có lý do nghiêm trọng và tương xứng.
Professional secrets - for example, those of political office holders, soldiers, physicians, and lawyers - or confidential information given under the seal of secrecy must be kept, save in exceptional cases where keeping the secret is bound to cause very grave harm to the one who confided it, to the one who received it or to a third party, and where the very grave harm can be avoided only by divulging the truth. Even if not confided under the seal of secrecy, private information prejudicial to another is not to be divulged without a grave and proportionate reason.
Mỗi người buộc phải giữ sự thận trọng chính đáng đối với đời tư của các nhân vị. Những người có trách nhiệm về truyền thông phải giữ sự quân bình chính đáng giữa các đòi hỏi của công ích với sự tôn trọng các quyền cá nhân. Sự xâm phạm của thông tin vào đời tư của những người hoạt động chính trị hoặc hoạt động công cộng là đáng lên án, tùy theo mức độ nó phạm đến sự riêng tư và sự tự do của họ.
Everyone should observe an appropriate reserve concerning persons' private lives. Those in charge of communications should maintain a fair balance between the requirements of the common good and respect for individual rights. Interference by the media in the private lives of persons engaged in political or public activity is to be condemned to the extent that it infringes upon their privacy and freedom.
Trong xã hội hiện đại, các phương tiện truyền thông xã hội có một vai trò khá quan trọng trong việc thông tin, việc thăng tiến văn hóa và việc đào tạo. Vai trò này gia tăng vì các tiến bộ kỹ thuật, vì lượng thông tin phong phú và đa dạng, vì ảnh hưởng của nó trên dư luận.
Within modern society the communications media play a major role in information, cultural promotion, and formation. This role is increasing, as a result of technological progress, the extent and diversity of the news transmitted, and the influence exercised on public opinion.
Việc thông tin nhờ các phương tiện truyền thông nhằm phục vụ công ích. Xã hội có quyền được biết những thông tin dựa trên sự thật, sự tự do, đức công bằng và tình liên đới. “Việc thực thi đúng đắn quyền này đòi hỏi nội dung của việc truyền thông phải luôn xác thực và, vẫn giữ đức công bằng và bác ái, phải luôn đầy đủ; ngoài ra, về cách thức, truyền thông phải lương thiện và thích hợp, nghĩa là, phải tuyệt đối tuân giữ các luật luân lý, các quyền hợp pháp và phẩm giá của con người, cả trong việc săn tin lẫn việc loan tin.”
The information provided by the media is at the service of the common good. Society has a right to information based on truth, freedom, justice, and solidarity:
“Điều cần thiết là mọi thành phần của xã hội cũng phải chu toàn các bổn phận công bằng và bác ái của mình trong lãnh vực này; vì vậy, họ cũng phải sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để góp phần làm nên và truyền bá những dư luận lành mạnh.” Tình liên đới xuất hiện như hiệu quả của sự truyền thông chân thật và công bằng, và của việc tự do lưu hành các ý tưởng, là những điều cổ võ sự hiểu biết và tôn trọng tha nhân.
"It is necessary that all members of society meet the demands of justice and charity in this domain. They should help, through the means of social communication, in the formation and diffusion of sound public opinion." Solidarity is a consequence of genuine and right communication and the free circulation of ideas that further knowledge and respect for others.
Những phương tiện truyền thông xã hội (đặc biệt những phương tiện thông tin đại chúng) có thể làm phát sinh một tâm hồn thụ động nào đó nơi những người tiếp nhận, khiến họ trở thành những người tiêu thụ thiếu cảnh giác đối với những thông tin và hình ảnh được phổ biến. Bởi vậy, những người tiếp nhận phải giữ điều độ và kỷ luật đối với các phương tiện thông tin đại chúng. Họ phải tạo cho mình một lương tâm sáng suốt và ngay thẳng, nhờ đó họ có thể chống lại những ảnh hưởng thiếu lương thiện một cách dễ dàng hơn.
The means of social communication (especially the mass media) can give rise to a certain passivity among users, making them less than vigilant consumers of what is said or shown. Users should practice moderation and discipline in their approach to the mass media. They will want to form enlightened and correct consciences the more easily to resist unwholesome influences.
Chính vì nhiệm vụ của mình, những người có trách nhiệm về việc thông tin, khi phổ biến thông tin, có nghĩa vụ phục vụ chân lý và không được xúc phạm tới đức bác ái. Họ cũng phải cố gắng để vừa tôn trọng bản chất các sự kiện, vừa tôn trọng những giới hạn của việc phê phán các nhân vị. Họ phải tránh phỉ báng.
By the very nature of their profession, journalists have an obligation to serve the truth and not offend against charity in disseminating information. They should strive to respect, with equal care, the nature of the facts and the limits of critical judgment concerning individuals. They should not stoop to defamation.
“Quyền bính dân sự có những bổn phận đặc biệt trong vấn đề này vì công ích... Vì nhiệm vụ của mình, họ phải bảo vệ và bênh vực sự tự do đích thực và chính đáng trong việc thông tin.” Bằng cách ban hành các luật lệ và xem xét việc áp dụng các luật lệ đó, công quyền phải bảo đảm “kẻo việc sử dụng sai các phương tiện truyền thông khiến gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho phong hóa và cho những tiến bộ của xã hội.” Họ phải trừng phạt việc vi phạm quyền giữ thanh danh và bí mật đời tư của mỗi người. Chính quyền phải thông báo kịp thời và đúng đắn những thông tin liên hệ đến lợi ích của đại chúng hoặc giải đáp những bận tâm chính đáng của dân chúng. Không gì có thể biện minh cho việc dùng những phương tiện truyền thông để đưa ra những thông tin sai lạc nhằm lèo lái dư luận. Những can thiệp của chính quyền không được làm tổn thương sự tự do của các cá nhân và các nhóm.
"Civil authorities have particular responsibilities in this field because of the common good.... It is for the civil authority ... to defend and safeguard a true and just freedom of information." By promulgating laws and overseeing their application, public authorities should ensure that "public morality and social progress are not gravely endangered" through misuse of the media. Civil authorities should punish any violation of the rights of individuals to their reputation and privacy. They should give timely and reliable reports concerning the general good or respond to the well-founded concerns of the people. Nothing can justify recourse to disinformation for manipulating public opinion through the media. Interventions by public authority should avoid injuring the freedom of individuals or groups.
Ý thức luân lý tố giác tai họa của các Nhà Nước độc tài, xuyên tạc chân lý một cách có hệ thống, dùng các phương tiện truyền thông để thống trị dư luận về chính trị, “giật dây” các bị cáo và chứng nhân trong các vụ án công khai và cho rằng họ củng cố được ách chuyên chế của họ bằng cách ngăn chặn và đàn áp những gì họ coi như “trọng tội về tư tưởng.”
Moral judgment must condemn the plague of totalitarian states which systematically falsify the truth, exercise political control of opinion through the media, manipulate defendants and witnesses at public trials, and imagine that they secure their tyranny by strangling and repressing everything they consider "thought crimes."
Niềm vui tinh thần và vẻ đẹp luân lý, đi đôi với việc thực thi điều thiện. Cũng vậy, chân lý mang lại niềm vui và ánh huy hoàng của vẻ đẹp tinh thần. Chân lý, tự nó, là đẹp. Chân lý được diễn tả bằng lời nói, sự diễn tả hữu lý của nhận thức về thực tại được tạo dựng và không được tạo dựng, là cần thiết cho con người đã được phú ban trí tuệ, nhưng chân lý cũng có thể được con người diễn tả bằng những hình thức khác nhau, để bổ túc cho nhau, nhất là khi vấn đề phải gợi lên lại bao hàm điều khôn tả, những điều sâu thẳm của trái tim con người, những điều cao vời của linh hồn và mầu nhiệm của Thiên Chúa. Ngay trước khi Ngài tự mặc khải cho con người bằng những lời chân lý, Thiên Chúa đã được mặc khải cho họ qua ngôn ngữ phổ quát là công trình tạo dựng, tác phẩm của Ngôi Lời của Ngài, của Đức Khôn Ngoan của Ngài: qua trật tự và sự hài hòa của vũ trụ - cả trẻ thơ lẫn nhà khoa học đều khám phá được -, “vì các thọ tạo càng lớn lao đẹp đẽ, thì càng giúp nhận ra Đấng tạo thành” (Kn 13,5), “vì chính Đấng Tạo hóa mọi loài là tác giả của muôn vẻ đẹp” (Kn 13,3). Thật vậy, Đức Khôn Ngoan “tỏa ra từ quyền năng Thiên Chúa và rực lên trong ngần từ vinh hiển Đấng Toàn Năng, nên không thể vương một tì ố; Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Ngài” (Kn 7,25-26). “Đức Khôn Ngoan rực rỡ hơn mặt trời, trổi vượt muôn tinh tú; so với Đức Khôn Ngoan, ánh sáng còn kém xa. Bởi trước màn đêm, ánh sáng đành phải lui bước. Còn Đức Khôn Ngoan, chẳng gian tà nào thắng nổi” (Kn 7,29-30). “Vẻ đẹp của Đức Khôn Ngoan làm tôi say đắm” (Kn 8,2).
The practice of goodness is accompanied by spontaneous spiritual joy and moral beauty. Likewise, truth carries with it the joy and splendor of spiritual beauty. Truth is beautiful in itself. Truth in words, the rational expression of the knowledge of created and uncreated reality, is necessary to man, who is endowed with intellect. But truth can also find other complementary forms of human expression, above all when it is a matter of evoking what is beyond words: the depths of the human heart, the exaltations of the soul, the mystery of God. Even before revealing himself to man in words of truth, God reveals himself to him through the universal language of creation, the work of his Word, of his wisdom: the order and harmony of the cosmos - which both the child and the scientist discover - "from the greatness and beauty of created things comes a corresponding perception of their Creator," "for the author of beauty created them."
“Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa”, con người cũng diễn tả chân lý về tương quan của mình với Thiên Chúa Sáng Tạo bằng vẻ đẹp của các tác phẩm nghệ thuật của mình. Thật vậy, nghệ thuật là một hình thức diễn tả chỉ riêng con người mới có; vượt lên trên việc cố gắng thỏa mãn những nhu cầu sinh tồn, là điều chung của mọi sinh vật, nghệ thuật là sự đầy tràn chan chứa, được ban tặng cách nhưng không, sự giàu sang nội tâm của con người. Xuất phát từ tài năng do Đấng Tạo hóa ban, và từ nỗ lực của chính con người, nghệ thuật là một hình thức của sự khôn ngoan thực tiễn, kết hợp kiến thức với tài khéo léo, để tạo hình thể cho chân lý của một thực tại, bằng thứ ngôn ngữ có thể cảm nhận được bằng mắt thấy và bằng tai nghe. Như vậy, nghệ thuật bao hàm một sự tương tự nào đó với hoạt động của Thiên Chúa trong công trình tạo dựng, theo mức độ nghệ thuật được gợi hứng bởi chân lý về vạn vật và lòng yêu mến vạn vật. Cũng như bất cứ hoạt động nào khác của con người, nghệ thuật không có mục đích tuyệt đối nơi chính nó, nhưng được quy hướng về con người, và trở nên cao quý nhờ mục đích tối hậu là con người.
Created "in the image of God," man also expresses the truth of his relationship with God the Creator by the beauty of his artistic works. Indeed, art is a distinctively human form of expression; beyond the search for the necessities of life which is common to all living creatures, art is a freely given superabundance of the human being's inner riches. Arising from talent given by the Creator and from man's own effort, art is a form of practical wisdom, uniting knowledge and skill, to give form to the truth of reality in a language accessible to sight or hearing. To the extent that it is inspired by truth and love of beings, art bears a certain likeness to God's activity in what he has created. Like any other human activity, art is not an absolute end in itself, but is ordered to and ennobled by the ultimate end of man.
Nghệ thuật thánh sẽ thật và đẹp, khi nhờ hình thức thích hợp, nó đáp ứng với ơn gọi riêng của nó: trong đức tin và trong sự tôn thờ, nghệ thuật thánh gợi lên và tôn vinh mầu nhiệm siêu việt của Thiên Chúa, vẻ đẹp siêu phàm vô hình của chân lý và của tình yêu, đã xuất hiện nơi Đức Kitô, Đấng “là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Hr 1,3), “nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Cl 2,9), Người là vẻ đẹp thiêng liêng đang tỏa chiếu nơi Đức Trinh Nữ rất thánh Mẹ Thiên Chúa, nơi các Thiên thần và các Thánh. Nghệ thuật thánh đích thực đưa con người đến việc tôn thờ, việc cầu nguyện và việc yêu mến Thiên Chúa là Đấng Tạo hóa và Cứu Độ, Đấng Thánh Thiện và Thánh Hóa.
Sacred art is true and beautiful when its form corresponds to its particular vocation: evoking and glorifying, in faith and adoration, the transcendent mystery of God - the surpassing invisible beauty of truth and love visible in Christ, who "reflects the glory of God and bears the very stamp of his nature," in whom "the whole fullness of deity dwells bodily." This spiritual beauty of God is reflected in the most holy Virgin Mother of God, the angels, and saints. Genuine sacred art draws man to adoration, to prayer, and to the love of God, Creator and Savior, the Holy One and Sanctifier.
Vì vậy, các Giám mục, hoặc chính các ngài hoặc qua các vị đại diện, phải lưu tâm cổ võ nghệ thuật thánh, cổ truyền cũng như hiện đại, trong mọi hình thức của nó, và, cũng với sự lưu tâm đạo hạnh đó, loại trừ khỏi phụng vụ và những nơi thờ phượng mọi điều không phù hợp với chân lý đức tin và với vẻ đẹp đích thực của nghệ thuật thánh.
For this reason bishops, personally or through delegates, should see to the promotion of sacred art, old and new, in all its forms and, with the same religious care, remove from the liturgy and from places of worship everything which is not in conformity with the truth of faith and the authentic beauty of sacred art.
“Ngươi không được làm chứng gian hại người” (Xh 20,16). Các môn đệ của Đức Kitô đã “mặc lấy con người mới là con người đã được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,24).
"You shall not bear false witness against your neighbor" (Ex 20:16). Christ's disciples have "put on the new man, created after the likeness of God in true righteousness and holiness" (Eph 4:24).
Chân lý hoặc sự chân thật là một nhân đức, cốt tại việc con người tỏ ra mình thành thật trong các hành vi của mình, và thành thật trong các lời nói của mình, tránh xa lối sống hai mặt, dối trá và đạo đức giả.
Truth or truthfulness is the virtue which consists in showing oneself true in deeds and truthful in words, and guarding against duplicity, dissimulation, and hypocrisy.
Kitô hữu không được “hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa” (2 Tm 1,8) bằng việc làm cũng như bằng lời nói. Sự tử đạo là việc làm chứng cao cả nhất cho chân lý đức tin.
The Christian is not to "be ashamed of testifying to our Lord" (2 Tim 1:8) in deed and word. Martyrdom is the supreme witness given to the truth of the faith.
Sự tôn trọng thanh danh và danh dự của các nhân vị cấm mọi thái độ và mọi lời nói nhằm nói xấu hay vu khống.
Respect for the reputation and honor of persons forbids all detraction and calumny in word or attitude.
Nói dối là nói điều sai sự thật, với ý định đánh lừa người lân cận.
Lying consists in saying what is false with the intention of deceiving the neighbor who has the right to the truth.
Ai lỗi phạm nghịch với chân lý thì buộc phải đền bù.
An offense committed against the truth requires reparation.
“Khuôn vàng thước ngọc” (“Regula aurea”), trong những trường hợp cụ thể, giúp chúng ta phân định xem có phải tỏ bày sự thật, hay không tỏ bày, cho người yêu cầu.
The golden rule helps one discern, in concrete situations, whether or not it would be appropriate to reveal the truth to someone who asks for it.
“Ấn tín bí tích là điều bất khả xâm phạm.” Các bí mật nghề nghiệp phải được giữ kín. Không được tiết lộ những chuyện tâm sự có thể làm hại cho những người khác.
"The sacramental seal is inviolable" (CIC, can. 983 # 1). Professional secrets must be kept. Confidences prejudicial to another are not to be divulged.
Xã hội có quyền được biết những thông tin dựa trên sự thật, sự tự do, đức công bằng. Phải giữ điều độ và kỷ luật khi sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội.
Society has a right to information based on truth, freedom, and justice. One should practice moderation and discipline in the use of the social communications media.
Mỹ thuật, nhưng chủ yếu là nghệ thuật thánh, “tự bản chất, nhằm diễn tả vẻ đẹp vô biên của Thiên Chúa, được cảm nghiệm một cách nào đó qua những tác phẩm của con người; nghệ thuật này càng làm cho Thiên Chúa được ca tụng và tôn vinh hơn, một khi những tác phẩm đó không nhằm chủ đích nào khác, ngoài sự góp phần tối đa để quy hướng tâm trí con người sốt sắng về cùng Thiên Chúa.”
The fine arts, but above all sacred art, "of their nature are directed toward expressing in some way the infinite beauty of God in works made by human hands. Their dedication to the increase of God's praise and of his glory is more complete, the more exclusively they are devoted to turning men's minds devoutly toward God" (SC 122).