Hỏi Đáp Công Giáo
Đời Sống Trong Đức Kitô · Mười điều răn · “Ngươi phải yêu thương người lân cận như chính mình”
MỤC 9

Điều răn thứ chín

Số 2514–2533
2514

Thánh Gioan phân biệt ba loại ham muốn hoặc dục vọng: dục vọng của xác thịt, dục vọng của đôi mắt, và lối sống kiêu kỳ. Theo truyền thống dạy giáo lý Công Giáo, điều răn thứ chín cấm dục vọng của xác thịt, điều răn thứ mười cấm thèm muốn của cải của tha nhân.

St. John distinguishes three kinds of covetousness or concupiscence: lust of the flesh, lust of the eyes, and pride of life. In the Catholic catechetical tradition, the ninth commandment forbids carnal concupiscence; the tenth forbids coveting another's goods.

2515

Theo ngữ nguyên, “dục vọng” có thể chỉ mọi hình thức ước muốn của con người. Thần học Kitô Giáo dùng từ này với ý nghĩa đặc biệt chỉ ham muốn của giác quan đi ngược với hoạt động của lý trí con người. Thánh Phaolô so sánh nó với sự nổi loạn của “xác thịt” chống lại “tinh thần.” Dục vọng xuất phát từ sự bất tuân của tội đầu tiên. Nó làm hỗn loạn các năng lực luân lý con người và, dù tự nó không phải là tội, nhưng nó hướng con người đến chỗ phạm tội.

Etymologically, "concupiscence" can refer to any intense form of human desire. Christian theology has given it a particular meaning: the movement of the sensitive appetite contrary to the operation of the human reason. the apostle St. Paul identifies it with the rebellion of the "flesh" against the "spirit." Concupiscence stems from the disobedience of the first sin. It unsettles man's moral faculties and, without being in itself an offense, inclines man to commit sins.

2516

Bởi vì con người là một hữu thể phức hợp, tinh thần và thể xác, nên trong con người đã sẵn có một sự căng thẳng nào đó, một cuộc chiến đấu nào đó giữa các khuynh hướng của “tinh thần” và của “xác thịt.” Nhưng thật ra, cuộc chiến đó là di sản của tội lỗi, vừa là hậu quả, vừa là một bằng chứng của tội. Đây là kinh nghiệm hằng ngày về cuộc chiến thiêng liêng: “Đối với thánh Tông Đồ, vấn đề không phải là khinh thường hay kết án thân xác, vì cùng với linh hồn thiêng liêng, thân xác tạo nên bản tính của con người và nhân cách chủ quan của mỗi người. Trái lại thánh Tông Đồ nói đến những công việc, hay nói đúng hơn, đến những thói quen bền vững tốt hoặc xấu về mặt luân lý - các nhân đức và các thói xấu -, là kết quả của sự vâng phục (trong trường hợp thứ nhất) hoặc của sự chống đối (trong trường hợp thứ hai) đối với hành động cứu độ của Chúa Thánh Thần. Vì vậy, ngài viết: ‘Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước’ (Gl 5,25).”

Because man is a composite being, spirit and body, there already exists a certain tension in him; a certain struggle of tendencies between "spirit" and "flesh" develops. But in fact this struggle belongs to the heritage of sin. It is a consequence of sin and at the same time a confirmation of it. It is part of the daily experience of the spiritual battle:

2517

Trái tim là nơi của nhân cách luân lý: “Tự lòng phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm” (Mt 15,19). Cuộc chiến đấu chống lại dục vọng xác thịt phải cần đến việc thanh tẩy trái tim và thực thi đức tiết độ: “Hãy sống đơn sơ, trong trắng, thì bạn sẽ nên như trẻ thơ, không biết đến điều ác đang hủy hoại đời sống con người.”

The heart is the seat of moral personality: "Out of the heart come evil thoughts, murder, adultery, fornication...." The struggle against carnal covetousness entails purifying the heart and practicing temperance:

2518

Mối phúc thứ sáu công bố: “Phúc thay ai có trái tim trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Những người có “trái tim trong sạch” là những người biết làm cho trí tuệ và ý chí của mình phù hợp với những đòi hỏi của sự thánh thiện của Thiên Chúa, chủ yếu trong ba lãnh vực: trong đức mến, trong sự khiết tịnh hoặc sự ngay thẳng về tính dục, trong sự yêu mến chân lý và đức tin chính thống. Có mối dây liên kết giữa sự trong sạch của trái tim, của thân thể và của đức tin: Các tín hữu phải tin các điều trong Tín biểu, “để nhờ tin, họ vâng phục Thiên Chúa, nhờ vâng phục, họ sống ngay thẳng, nhờ sống ngay thẳng, họ thanh luyện trái tim, và nhờ thanh luyện trái tim, họ có thể hiểu điều họ tin.”

The sixth beatitude proclaims, "Blessed are the pure in heart, for they shall see God." "Pure in heart" refers to those who have attuned their intellects and wills to the demands of God's holiness, chiefly in three areas: charity; chastity or sexual rectitude; love of truth and orthodoxy of faith. There is a connection between purity of heart, of body, and of faith:

2519

Những người có “trái tim trong sạch” được hứa là sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa mặt giáp mặt và trở nên giống như Ngài. Sự trong sạch của trái tim là điều kiện tiên quyết để được thấy Thiên Chúa. Ngay từ bây giờ, trái tim trong sạch giúp chúng ta biết nhìn mọi sự theo cái nhìn của Thiên Chúa, biết đón nhận tha nhân như “người lân cận”; trái tim trong sạch khiến chúng ta biết nhận ra thân thể con người, của mình và của người lân cận, như đền thờ của Chúa Thánh Thần, như sự biểu lộ vẻ đẹp thần linh.

The "pure in heart" are promised that they will see God face to face and be like him. Purity of heart is the precondition of the vision of God. Even now it enables us to see according to God, to accept others as "neighbors"; it lets us perceive the human body - ours and our neighbor's - as a temple of the Holy Spirit, a manifestation of divine beauty.

2520

Bí tích Rửa Tội đem đến cho người lãnh nhận ơn thanh tẩy khỏi mọi tội lỗi. Nhưng người đã chịu Phép Rửa còn phải tiếp tục chiến đấu chống lại dục vọng xác thịt và những ham muốn vô trật tự. Với ân sủng của Thiên Chúa, họ sẽ đạt được điều đó: — nhờ nhân đức và ơn khiết tịnh, bởi vì đức khiết tịnh cho phép yêu thương bằng trái tim ngay thẳng và không phân chia; — nhờ ý hướng trong sạch, cốt tại việc nhắm đến mục đích thật của con người: với cái nhìn đơn sơ, người đã chịu Phép Rửa cố gắng tìm kiếm và chu toàn thánh ý Thiên Chúa trong mọi sự. — nhờ cái nhìn trong sạch, bên ngoài và trong lòng; nhờ kiểm soát được các giác quan và trí tưởng tượng; nhờ khước từ mọi vui thú trong những tư tưởng không trong sạch, lôi kéo ta lìa xa con đường các giới răn của Thiên Chúa: “Thấy điều xấu, kẻ ngu si động lòng ham muốn” (Kn 15,5); — nhờ cầu nguyện: “Con cứ tưởng tiết dục được là do tự sức của riêng mình (...) nhưng thực ra con đâu có biết. Con quá khờ dại nên không biết rằng, nếu Chúa không ban ơn, thì không ai có thể sống tiết dục được. Con chắc chắn Chúa sẽ ban ơn, nếu con tha thiết kêu cầu và vững tin phó thác nơi Chúa.”

Baptism confers on its recipient the grace of purification from all sins. But the baptized must continue to struggle against concupiscence of the flesh and disordered desires. With God's grace he will prevail - by the virtue and gift of chastity, for chastity lets us love with upright and undivided heart; - by purity of intention which consists in seeking the true end of man: with simplicity of vision, the baptized person seeks to find and to fulfill God's will in everything; - by purity of vision, external and internal; by discipline of feelings and imagination; by refusing all complicity in impure thoughts that incline us to turn aside from the path of God's commandments: "Appearance arouses yearning in fools"; - by prayer:

2521

Sự trong sạch đòi phải có sự nết na. Đây là một phần không thể thiếu của đức tiết độ. Sự nết na giữ gìn sự thân mật của con người. Nó từ chối phô bày những gì phải giữ kín. Nó hướng về đức khiết tịnh và cũng chứng tỏ sự dè dặt của đức khiết tịnh. Sự nết na hướng dẫn cái nhìn và cử chỉ cho phù hợp với phẩm giá của con người và phẩm giá của sự kết hợp của họ.

Purity requires modesty, an integral part of temperance. Modesty protects the intimate center of the person. It means refusing to unveil what should remain hidden. It is ordered to chastity to whose sensitivity it bears witness. It guides how one looks at others and behaves toward them in conformity with the dignity of persons and their solidarity.

2522

Sự nết na bảo vệ mầu nhiệm của con người và mầu nhiệm của tình yêu của họ. Nó mời gọi nhẫn nại và điều độ trong quan hệ yêu đương; nó đòi hỏi tuân giữ các điều kiện của sự dâng hiến và của nghĩa vụ vĩnh viễn giữa người nam và người nữ. Sự nết na chính là sự đoan trang. Nó gợi hứng cho việc lựa chọn y phục. Nó giữ thinh lặng hay dè dặt, khi có nguy cơ tò mò thiếu lành mạnh. Sự nết na chính là sự thận trọng.

Modesty protects the mystery of persons and their love. It encourages patience and moderation in loving relationships; it requires that the conditions for the definitive giving and commitment of man and woman to one another be fulfilled. Modesty is decency. It inspires one's choice of clothing. It keeps silence or reserve where there is evident risk of unhealthy curiosity. It is discreet.

2523

Có sự nết na của tình cảm cũng như của thân xác. Chẳng hạn, nết na chống lại việc phơi bày thân xác con người để thỏa mãn thị dục trong quảng cáo, hoặc chống lại việc các phương tiện truyền thông đi quá xa trong việc khai thác những điều thầm kín thân mật. Sự nết na gợi hứng cho một cách sống, giúp chống lại những quyến rũ của thời trang và áp lực của các trào lưu tư tưởng thời thượng.

There is a modesty of the feelings as well as of the body. It protests, for example, against the voyeuristic explorations of the human body in certain advertisements, or against the solicitations of certain media that go too far in the exhibition of intimate things. Modesty inspires a way of life which makes it possible to resist the allurements of fashion and the pressures of prevailing ideologies.

2524

Cách thức giữ sự nết na khác nhau theo từng nền văn hóa. Tuy nhiên, bất cứ ở đâu, nó vẫn là một trực cảm về phẩm giá thiêng liêng đặc thù của con người. Sự nết na phát sinh do sự ý thức rằng mình là một chủ thể. Dạy cho trẻ em và thiếu niên nam nữ biết giữ nết na là khơi dậy sự tôn trọng nhân vị.

The forms taken by modesty vary from one culture to another. Everywhere, however, modesty exists as an intuition of the spiritual dignity proper to man. It is born with the awakening consciousness of being a subject. Teaching modesty to children and adolescents means awakening in them respect for the human person.

2525

Đức trong sạch Kitô Giáo đòi hỏi sự thanh tẩy bầu khí xã hội. Điều này đòi hỏi các phương tiện truyền thông xã hội phải quan tâm đến sự tôn trọng và sự thận trọng trong việc thông tin. Sự trong sạch của trái tim giải thoát khỏi nạn khiêu dâm đang lan tràn và đẩy xa những màn trình diễn nhằm khuyến khích sự tò mò không trong sạch và những hình ảnh không đứng đắn.

Christian purity requires a purification of the social climate. It requires of the communications media that their presentations show concern for respect and restraint. Purity of heart brings freedom from widespread eroticism and avoids entertainment inclined to voyeurism and illusion.

2526

Chủ trương sống phóng túng phát xuất từ quan niệm sai lạc về sự tự do của con người. Muốn có tự do đích thực, điều tiên quyết là con người phải được giáo dục về luật luân lý. Phải đòi hỏi những người có trách nhiệm giáo dục dạy cho người trẻ biết tôn trọng sự thật, các phẩm chất của trái tim và phẩm giá luân lý và thiêng liêng của con người.

So called moral permissiveness rests on an erroneous conception of human freedom; the necessary precondition for the development of true freedom is to let oneself be educated in the moral law. Those in charge of education can reasonably be expected to give young people instruction respectful of the truth, the qualities of the heart, and the moral and spiritual dignity of man.

2527

“Tin Mừng của Đức Kitô không ngừng đổi mới đời sống và văn hóa của con người đã sa ngã, chống lại và loại bỏ những sai lầm và điều xấu, xuất phát do sức quyến rũ thường xuyên của tội lỗi. Tin Mừng không ngừng thanh tẩy và nâng cao các phong hóa của các dân tộc. Nhờ những nguồn phong phú từ trên cao, Tin Mừng làm trổ sinh hoa trái, như từ bên trong, các phẩm chất tinh thần và các truyền thống của mỗi dân tộc và mỗi thời đại. Tin Mừng củng cố, kiện toàn và phục hồi những điều đó trong Đức Kitô.”

"The Good News of Christ continually renews the life and culture of fallen man; it combats and removes the error and evil which flow from the ever-present attraction of sin. It never ceases to purify and elevate the morality of peoples. It takes the spiritual qualities and endowments of every age and nation, and with supernatural riches it causes them to blossom, as it were, from within; it fortifies, completes, and restores them in Christ."

2528

“Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,28).

"Everyone who looks at a woman lustfully has already committed adultery with her in his heart" (Mt 5:28).

2529

Điều răn thứ chín khơi dậy sự tỉnh thức chống lại sự ham muốn hoặc dục vọng xác thịt.

The ninth commandment warns against lust or carnal concupiscence.

2530

Cuộc chiến đấu chống lại dục vọng xác thịt phải cần đến việc thanh tẩy trái tim và thực thi đức tiết độ.

The struggle against carnal lust involves purifying the heart and practicing temperance.

2531

Sự trong sạch của trái tim sẽ làm cho chúng ta được nhìn thấy Thiên Chúa: ngay từ bây giờ, trái tim trong sạch giúp chúng ta biết nhìn mọi sự theo cái nhìn của Thiên Chúa.

Purity of heart will enable us to see God: it enables us even now to see things according to God.

2532

Sự thanh tẩy trái tim đòi hỏi việc cầu nguyện, thực thi đức khiết tịnh, sự trong sạch của ý hướng và của cái nhìn.

Purification of the heart demands prayer, the practice of chastity, purity of intention and of vision.

2533

Sự trong sạch của trái tim đòi hỏi sự nết na, nghĩa là nhẫn nại, đoan trang và thận trọng. Sự nết na gìn giữ sự thân mật của con người.

Purity of heart requires the modesty which is patience, decency, and discretion. Modesty protects the intimate center of the person.