Trong truyền thống sống động của việc cầu nguyện, mỗi Giáo Hội đề ra cho các tín hữu của mình, theo bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa, một ngôn ngữ cầu nguyện của họ: những lời lẽ, giai điệu, cử chỉ và hình ảnh. Huấn quyền có trách nhiệm phân định xem những con đường cầu nguyện ấy có trung thành với truyền thống đức tin tông truyền không; các mục tử và giáo lý viên có trách nhiệm giải thích ý nghĩa, luôn quy chiếu vào Chúa Giêsu Kitô, của những con đường cầu nguyện này.
In the living tradition of prayer, each Church proposes to its faithful, according to its historic, social, and cultural context, a language for prayer: words, melodies, gestures, iconography. the Magisterium of the Church has the task of discerning the fidelity of these ways of praying to the tradition of apostolic faith; it is for pastors and catechists to explain their meaning, always in relation to Jesus Christ.
Kinh nguyện Kitô Giáo không có con đường nào khác ngoài Đức Kitô. Việc cầu nguyện của chúng ta, dù của cộng đoàn hoặc của cá nhân, dù là khẩu nguyện hay tâm nguyện, không thể dâng lên tới Chúa Cha nếu chúng ta không cầu nguyện “nhân danh Chúa Giêsu.” Quả vậy, nhân tính thánh thiện của Chúa Giêsu là con đường, qua đó Chúa Thánh Thần dạy chúng ta cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha chúng ta.
There is no other way of Christian prayer than Christ. Whether our prayer is communal or personal, vocal or interior, it has access to the Father only if we pray "in the name" of Jesus. the sacred humanity of Jesus is therefore the way by which the Holy Spirit teaches us to pray to God our Father.
Kinh nguyện của Hội Thánh, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và việc cử hành phụng vụ, dạy chúng ta cầu nguyện với Chúa Giêsu. Mặc dù kinh nguyện đó chủ yếu dâng lên Chúa Cha, nhưng trong tất cả các truyền thống phụng vụ, vẫn hàm chứa những hình thức cầu nguyện dâng lên Đức Kitô. Một số Thánh vịnh, như hiện được thích ứng trong kinh nguyện của Hội Thánh, và Tân Ước, đặt vào môi miệng và khắc ghi trong tâm hồn chúng ta những lời khẩn nguyện dâng lên Đức Kitô: Lạy Con Thiên Chúa, Ngôi Lời của Thiên Chúa, Chúa, Đấng Cứu độ, Chiên Thiên Chúa, Đức Vua, Con chí ái của Thiên Chúa, Con Đức Trinh Nữ, Vị Mục tử nhân lành, Sự Sống của chúng con, Ánh sáng của chúng con, Hy vọng của chúng con, Sự Phục sinh của chúng con, Bạn của loài người.
The prayer of the Church, nourished by the Word of God and the celebration of the liturgy, teaches us to pray to the Lord Jesus. Even though her prayer is addressed above all to the Father, it includes in all the liturgical traditions forms of prayer addressed to Christ. Certain psalms, given their use in the Prayer of the Church, and the New Testament place on our lips and engrave in our hearts prayer to Christ in the form of invocations: Son of God, Word of God, Lord, Savior, Lamb of God, King, Beloved Son, Son of the Virgin, Good Shepherd, our Life, our Light, our Hope, our Resurrection, Friend of mankind....
Nhưng Danh thánh hàm chứa tất cả các tước hiệu trên là Danh thánh mà Con Thiên Chúa đã tiếp nhận trong cuộc Nhập Thể: đó là Danh thánh GIÊSU. Danh Thiên Chúa là siêu phàm, môi miệng loài của chúng ta không được đọc lên, nhưng Ngôi Lời Thiên Chúa, khi nhận lấy bản tính nhân loại của chúng ta, đã trao Danh ấy cho chúng ta, và chúng ta có thể kêu cầu Danh ấy: “Giêsu”, nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ.” Danh thánh Giêsu bao hàm mọi sự: Thiên Chúa và con người cùng với toàn thể Nhiệm cục tạo dựng và cứu độ. Cầu nguyện danh “Giêsu”, là khẩn cầu Người, là kêu gọi Người. Danh của Người là Danh duy nhất hàm chứa sự hiện diện mà Danh ấy biểu thị. Chúa Giêsu là Đấng phục sinh, và bất cứ ai kêu cầu Danh Người thì đón nhận Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương họ và tự nộp mình vì họ.
But the one name that contains everything is the one that the Son of God received in his incarnation: JESUS. the divine name may not be spoken by human lips, but by assuming our humanity the Word of God hands it over to us and we can invoke it: "Jesus," "YHWH saves." The name "Jesus" contains all: God and man and the whole economy of creation and salvation. To pray "Jesus" is to invoke him and to call him within us. His name is the only one that contains the presence it signifies. Jesus is the Risen One, and whoever invokes the name of Jesus is welcoming the Son of God who loved him and who gave himself up for him.
Lời khẩn nguyện này của đức tin, tuy đơn sơ, đã được khai triển dưới nhiều hình thức trong truyền thống kinh nguyện Đông và Tây phương. Công thức thông dụng nhất, được các đan sĩ ở núi Xinai, Syria và núi Athos truyền lại, là lời khẩn nguyện: “Lạy Đức Giêsu Kitô, là Con Thiên Chúa, và là Chúa chúng con, xin thương xót chúng con là những kẻ tội lỗi.” Công thức này phối hợp thánh thi ca ngợi Đức Kitô trong Thư gửi giáo đoàn Philípphê (2,6-11) với lời van xin của người thu thuế và những người xin được sáng mắt. Nhờ lời khẩn nguyện này, tâm hồn được hòa nhịp với sự khốn cùng của con người và lòng thương xót của Đấng Cứu Độ họ.
This simple invocation of faith developed in the tradition of prayer under many forms in East and West. the most usual formulation, transmitted by the spiritual writers of the Sinai, Syria, and Mt. Athos, is the invocation, "Lord Jesus Christ, Son of God, have mercy on us sinners." It combines the Christological hymn of Philippians 2:6-11 with the cry of the publican and the blind men begging for light. By it the heart is opened to human wretchedness and the Savior's mercy.
Lời khẩn nguyện Danh thánh Chúa Giêsu là con đường đơn giản nhất của việc cầu nguyện liên lỉ. Được thường xuyên lặp đi lặp lại bởi một tâm hồn chăm chú cách khiêm tốn, lời khẩn nguyện này không bị phân tán thành những lời “lải nhải” (Mt 6,7), nhưng “nắm giữ Lời Chúa và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả.” Lời khẩn nguyện này có thể thực hiện “luôn luôn”, vì đây không phải là một công việc bên cạnh một công việc khác, nhưng chỉ là công việc duy nhất, đó là việc yêu mến Thiên Chúa, công việc này làm sinh động và biến đổi mọi hoạt động trong Đức Kitô Giêsu.
The invocation of the holy name of Jesus is the simplest way of praying always. When the holy name is repeated often by a humbly attentive heart, the prayer is not lost by heaping up empty phrases, but holds fast to the word and "brings forth fruit with patience." This prayer is possible "at all times" because it is not one occupation among others but the only occupation: that of loving God, which animates and transfigures every action in Christ Jesus.
Cũng như việc khẩn nguyện Danh cực thánh của Chúa Giêsu, kinh nguyện của Hội Thánh còn tôn sùng Thánh Tâm Người. Việc tôn sùng này tôn thờ Ngôi Lời Nhập Thể và Thánh Tâm của Người, Thánh Tâm vì yêu thương loài người, đã để cho bị đâm thâu vì tội lỗi chúng ta. Kinh nguyện Kitô Giáo cũng mộ mến đi Đàng Thánh Giá, theo chân Đấng cứu độ. Các chặng từ dinh Tổng trấn đến đồi Gôlgôtha và Mộ Thánh làm thành con đường của Chúa Giêsu, Đấng đã cứu chuộc trần gian bằng thánh giá của Người.
The prayer of the Church venerates and honors the Heart of Jesus just as it invokes his most holy name. It adores the incarnate Word and his Heart which, out of love for men, he allowed to be pierced by our sins. Christian prayer loves to follow the way of the cross in the Savior's steps. the stations from the Praetorium to Golgotha and the tomb trace the way of Jesus, who by his holy Cross has redeemed the world.
“Không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3). Mỗi khi chúng ta bắt đầu cầu nguyện với Chúa Giêsu, thì chính Chúa Thánh Thần dùng ân sủng dự phòng của Ngài, đưa chúng ta vào con đường cầu nguyện. Ngài dạy chúng ta cầu nguyện khi nhắc chúng ta nhớ đến Đức Kitô, thì lẽ nào chúng ta lại không cầu nguyện với chính Ngài? Vì vậy, Hội Thánh mời gọi chúng ta cầu khẩn Chúa Thánh Thần mỗi ngày, nhất là khi khởi sự và kết thúc mọi hoạt động quan trọng. “Nếu như Chúa Thánh Thần không đáng được tôn thờ, thì làm sao Ngài thần hóa tôi bằng bí tích Rửa Tội được? Còn nếu Ngài đáng được tôn thờ, thì lẽ nào Ngài lại không được tôn thờ cách đặc biệt?”
"No one can say 'Jesus is Lord' except by the Holy Spirit." Every time we begin to pray to Jesus it is the Holy Spirit who draws us on the way of prayer by his prevenient grace. Since he teaches us to pray by recalling Christ, how could we not pray to the Spirit too? That is why the Church invites us to call upon the Holy Spirit every day, especially at the beginning and the end of every important action.
Công thức truyền thống để xin Chúa Thánh Thần là kêu cầu Chúa Cha, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng ta, để Chúa Cha ban cho chúng ta Thần Khí An ủi. Chúa Giêsu nhấn mạnh đến lời cầu xin này nhân danh Người, khi Người hứa ban hồng ân là Thần Khí sự thật. Nhưng lời cầu nguyện đơn giản và trực tiếp nhất theo truyền thống là: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến.” Mọi truyền thống phụng vụ đã khai triển lời nguyện ấy trong các điệp ca và thánh thi: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến, xin tràn ngập tâm hồn các tín hữu của Chúa, và xin nhóm lửa tình yêu Chúa trong họ.” “Lạy Đức Vua thiên quốc, Đấng An ủi, Thần Khí sự thật, Đấng hiện diện khắp nơi và tràn ngập vạn sự, là kho tàng mọi điều thiện hảo và là nguồn mạch sự sống, xin ngự đến, xin cư ngụ trong chúng con, xin thanh tẩy chúng con sạch mọi vết nhơ và xin cứu độ linh hồn chúng con, lạy Chúa là Đấng nhân lành.”
The traditional form of petition to the Holy Spirit is to invoke the Father through Christ our Lord to give us the Consoler Spirit. Jesus insists on this petition to be made in his name at the very moment when he promises the gift of the Spirit of Truth. But the simplest and most direct prayer is also traditional, "Come, Holy Spirit," and every liturgical tradition has developed it in antiphons and hymns.
Chúa Thánh Thần, mà dầu của Ngài thấm nhập toàn thể con người chúng ta, là Vị Thầy nội tâm của việc cầu nguyện Kitô Giáo. Chính Ngài là Đấng kiến tạo truyền thống sống động của việc cầu nguyện. Quả thật, có bao nhiêu người cầu nguyện thì có bấy nhiêu đường lối cầu nguyện, nhưng cùng một Thần Khí hoạt động trong mọi người và cùng với mọi người. Trong sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần, kinh nguyện Kitô Giáo là kinh nguyện trong Hội Thánh.
The Holy Spirit, whose anointing permeates our whole being, is the interior Master of Christian prayer. He is the artisan of the living tradition of prayer. To be sure, there are as many paths of prayer as there are persons who pray, but it is the same Spirit acting in all and with all. It is in the communion of the Holy Spirit that Christian prayer is prayer in the Church.
Trong việc cầu nguyện, Chúa Thánh Thần liên kết chúng ta với Ngôi Vị của Người Con Một trong nhân tính đã được tôn vinh của Người. Nhờ và trong nhân tính ấy, lời cầu nguyện con thảo của chúng ta hiệp thông với Thân Mẫu Chúa Giêsu trong Hội Thánh.
In prayer the Holy Spirit unites us to the person of the only Son, in his glorified humanity, through which and in which our filial prayer unites us in the Church with the Mother of Jesus.
Từ khi Đức Maria ưng thuận trong đức tin lúc Truyền Tin và không ngần ngại giữ vững sự ưng thuận đó dưới chân thập giá, tình mẫu tử của Mẹ từ đó lan rộng tới những người anh em và chị em của Con Mẹ “còn trên đường lữ hành và đang gặp nhiều hiểm nguy gian khó.” Chúa Giêsu, Đấng trung gian duy nhất, là con đường cầu nguyện của chúng ta. Đức Maria, Mẹ Người và cũng là Mẹ chúng ta, trở thành hình ảnh hoàn toàn trong suốt của Người. Theo cách trình bày bích họa của truyền thống Giáo Hội Đông và Tây phương: Mẹ “chỉ đường”, Mẹ là “Dấu chỉ” của Con đường là Chúa Giêsu.
Mary gave her consent in faith at the Annunciation and maintained it without hesitation at the foot of the Cross. Ever since, her motherhood has extended to the brothers and sisters of her Son "who still journey on earth surrounded by dangers and difficulties." Jesus, the only mediator, is the way of our prayer; Mary, his mother and ours, is wholly transparent to him: she "shows the way" (hodigitria), and is herself "the Sign" of the way, according to the traditional iconography of East and West.
Chính từ sự cộng tác đặc biệt này của Đức Maria với hoạt động của Chúa Thánh Thần, mà các Giáo Hội đã triển khai kinh nguyện dâng lên Thánh Mẫu của Thiên Chúa, quy hướng kinh nguyện ấy về trung tâm là Ngôi Vị Đức Kitô, được biểu lộ trong các mầu nhiệm của Người. Trong vô số thánh thi và điệp ca diễn tả kinh nguyện này, có hai động thái thường thay đổi nhau: một là “ngợi khen” Chúa vì “những điều cao cả” Ngài đã làm cho Mẹ, người nữ tỳ khiêm hạ của Ngài, và qua Mẹ, cho tất cả mọi người; hai là dâng lên Mẹ Chúa Giêsu những lời cầu khẩn và ca ngợi của con cái Thiên Chúa, vì giờ đây Mẹ biết rõ nhân loại, mà trong Mẹ, nhân loại ấy đã được Con Thiên Chúa kết hợp như hiền thê của Người.
Beginning with Mary's unique cooperation with the working of the Holy Spirit, the Churches developed their prayer to the holy Mother of God, centering it on the person of Christ manifested in his mysteries. In countless hymns and antiphons expressing this prayer, two movements usually alternate with one another: the first "magnifies" the Lord for the "great things" he did for his lowly servant and through her for all human beings The second entrusts the supplications and praises of the children of God to the Mother of Jesus, because she now knows the humanity which, in her, the Son of God espoused.
Hai động thái nói trên của kinh nguyện dâng lên Đức Maria được diễn tả cách độc đáo trong kinh Kính Mừng: “Kính mừng Maria” (Ave, Maria - Laetare, Maria): lời chào của thiên sứ Gáprien mở đầu kinh Kính mừng. Chính Thiên Chúa, qua vị thiên sứ của Ngài, chào Đức Maria. Lời kinh của chúng ta dám lặp lại lời chào Đức Maria với tâm tình của Thiên Chúa khi Ngài đoái thương nhìn đến người nữ tỳ hèn mọn của Ngài và hân hoan vì niềm vui mà Thiên Chúa gặp được nơi Đức Maria. “Bà đầy ân phúc, Đức Chúa Trời ở cùng bà”: hai phần lời chào của vị thiên sứ soi sáng cho nhau. Đức Maria đầy ân sủng vì Chúa ở cùng Mẹ. Ân sủng, mà Mẹ được ban tràn đầy, chính là sự hiện diện của Đấng là nguồn mạch mọi ân sủng. “Reo vui lên... hỡi thiếu nữ Giêrusalem... ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi” (Sp 3,14.17a). Đức Maria, vì được chính Chúa đến và ngự nơi Mẹ, nên Mẹ chính là thiếu nữ Xion, là Hòm bia Giao Ước, nơi vinh quang Chúa ngự trị: chính Mẹ là “nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại” (Kh 21,3). Được “đầy ơn phúc”, Mẹ đã tận hiến cho Đấng đến ngự nơi Mẹ và là Đấng Mẹ sắp trao ban cho thế gian. “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng bà gồm phúc lạ.” Sau lời chào của thiên sứ, chúng ta lấy lời chào của bà Êlisabét làm lời chào của chúng ta. “Được tràn đầy Thánh Thần” (Lc 1,41), bà Êlisabét là người đầu tiên trong chuỗi dài những thế hệ tung hô Đức Maria là người có phúc: “Em thật có phúc vì đã tin...” (Lc 1,45). Đức Maria “có phúc lạ hơn mọi người nữ” vì Mẹ đã tin rằng lời Chúa sẽ được hoàn thành. Nhờ đức tin, ông Ápraham đã trở thành phúc lành cho “mọi gia tộc trên mặt đất” (St 12,3). Nhờ đức tin, Đức Maria đã trở thành Mẹ của các kẻ tin; nhờ Mẹ, mọi dân tộc trên mặt đất được đón nhận Đấng là chính phúc lành của Thiên Chúa: “Giêsu, con lòng bà gồm phúc lạ.”
This twofold movement of prayer to Mary has found a privileged expression in the Ave Maria: Hail Mary [or Rejoice, Mary]: the greeting of the angel Gabriel opens this prayer. It is God himself who, through his angel as intermediary, greets Mary. Our prayer dares to take up this greeting to Mary with the regard God had for the lowliness of his humble servant and to exult in the joy he finds in her. Full of grace, the Lord is with thee: These two phrases of the angel's greeting shed light on one another. Mary is full of grace because the Lord is with her. the grace with which she is filled is the presence of him who is the source of all grace. "Rejoice . . . O Daughter of Jerusalem . . . the Lord your God is in your midst." Mary, in whom the Lord himself has just made his dwelling, is the daughter of Zion in person, the ark of the covenant, the place where the glory of the Lord dwells. She is "the dwelling of God . . . with men." Full of grace, Mary is wholly given over to him who has come to dwell in her and whom she is about to give to the world. Blessed art thou among women and blessed is the fruit of thy womb, Jesus. After the angel's greeting, we make Elizabeth's greeting our own. "Filled with the Holy Spirit," Elizabeth is the first in the long succession of generations who have called Mary "blessed." "Blessed is she who believed...." Mary is "blessed among women" because she believed in the fulfillment of the Lord's word. Abraham. because of his faith, became a blessing for all the nations of the earth. Mary, because of her faith, became the mother of believers, through whom all nations of the earth receive him who is God's own blessing: Jesus, the "fruit of thy womb."
“Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con...”. Cùng với bà Êlisabét chúng ta sửng sốt: “Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?” (Lc 1,43). Đức Maria, vì đã tặng ban cho chúng ta Chúa Giêsu là Con của Mẹ, nên Mẹ là Thân mẫu của Thiên Chúa và là Thân mẫu của chúng ta: chúng ta có thể phó thác cho Mẹ mọi nỗi âu lo và những lời cầu xin của chúng ta. Mẹ cầu nguyện cho chúng ta như Mẹ đã cầu nguyện cho bản thân Mẹ: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Khi phó thác để Mẹ cầu nguyện cho chúng ta, chúng ta cùng với Mẹ phó dâng bản thân chúng ta cho thánh ý Thiên Chúa: “Nguyện cho ý Cha thể hiện.” “Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử”. Khi xin Đức Mẹ cầu nguyện cho chúng ta, chúng ta nhìn nhận mình là những người tội lỗi khốn cùng và kêu cầu đến “Mẹ của lòng thương xót”, Mẹ hoàn toàn thánh thiện. Chúng ta trao phó bản thân cho Mẹ “khi nay”, là ngày hôm nay của cuộc đời chúng ta. Lòng tín thác của chúng ta được mở rộng để ngay từ bây giờ chúng ta đã trao phó “giờ lâm tử” của chúng ta cho Mẹ. Xin Mẹ hiện diện trong giờ phút đó như Mẹ đã hiện diện lúc Con Mẹ chết trên thập giá. Vào giờ chúng ta qua đời, với tư cách là Mẹ chúng ta, xin Mẹ đón nhận và dẫn chúng ta đến với Con của Mẹ, trên thiên đàng.
Holy Mary, Mother of God: With Elizabeth we marvel, "and why is this granted me, that the mother of my Lord should come to me?" Because she gives us Jesus, her son, Mary is Mother of God and our mother; we can entrust all our cares and petitions to her: she prays for us as she prayed for herself: "Let it be to me according to your word." By entrusting ourselves to her prayer, we abandon ourselves to the will of God together with her: "Thy will be done." Pray for us sinners, now and at the hour of our death: By asking Mary to pray for us, we acknowledge ourselves to be poor sinners and we address ourselves to the "Mother of Mercy," the All-Holy One. We give ourselves over to her now, in the Today of our lives. and our trust broadens further, already at the present moment, to surrender "the hour of our death" wholly to her care. May she be there as she was at her son's death on the cross. May she welcome us as our mother at the hour of our passing to lead us to her son, Jesus, in paradise.
Lòng đạo đức ở Tây phương thời Trung Cổ đã quảng bá việc cầu nguyện bằng kinh Mân Côi, như một thứ thay thế bình dân cho Các Giờ Kinh phụng vụ. Ở Đông phương, hình thức kinh cầu, như Akathistos và Paraklisis, gần gũi hơn với kinh nguyện cộng đoàn trong các Giáo hội Byzantin; trong khi đó các truyền thống của Armeni, Copte và Syri lại chuộng các thánh thi và thánh ca bình dân kính Mẹ Thiên Chúa. Nhưng kinh Kính Mừng, các thánh thi kính Mẹ Thiên Chúa của thánh Êphrem hoặc của thánh Grêgôriô Narek, về cơ bản vẫn lưu giữ cùng một truyền thống cầu nguyện.
Medieval piety in the West developed the prayer of the rosary as a popular substitute for the Liturgy of the Hours. In the East, the litany called the Akathistos and the Paraclesis remained closer to the choral office in the Byzantine churches, while the Armenian, Coptic, and Syriac traditions preferred popular hymns and songs to the Mother of God. But in the Ave Maria, the theotokia, the hymns of St. Ephrem or St. Gregory of Narek, the tradition of prayer is basically the same.
Đức Maria là Người phụ nữ cầu nguyện trọn hảo, là hình ảnh của Hội Thánh. Khi cầu nguyện với Mẹ, chúng ta cùng với Mẹ gắn bó với ý định của Chúa Cha, Đấng sai Con Một Ngài đến để cứu độ tất cả mọi người. Như người môn đệ yêu dấu, chúng ta đón nhận về nhà chúng ta Mẹ Chúa Giêsu, đã trở thành Mẹ của mọi sinh linh. Chúng ta có thể cầu nguyện cùng với Mẹ và kêu cầu Mẹ. Kinh nguyện của Hội Thánh như được nâng đỡ bởi kinh nguyện của Đức Maria. Kinh nguyện này được kết hợp với Mẹ trong niềm hy vọng.
Mary is the perfect Orans (prayer), a figure of the Church. When we pray to her, we are adhering with her to the plan of the Father, who sends his Son to save all men. Like the beloved disciple we welcome Jesus' mother into our homes, for she has become the mother of all the living. We can pray with and to her. the prayer of the Church is sustained by the prayer of Mary and united with it in hope.
Việc cầu nguyện chủ yếu dâng lên Chúa Cha, cũng được dâng lên Chúa Giêsu, nhất là qua việc kêu cầu Thánh Danh Người: “Lạy Đức Giêsu Kitô, là Con Thiên Chúa và là Chúa chúng con, xin thương xót chúng con là những kẻ tội lỗi.”
Prayer is primarily addressed to the Father; it can also be directed toward Jesus, particularly by the invocation of his holy name: "Lord Jesus Christ, Son of God, have mercy on us sinners."
“Không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3). Hội Thánh mời gọi chúng ta kêu cầu Chúa Thánh Thần như Vị Thầy nội tâm của việc cầu nguyện Kitô Giáo.
"No one can say 'Jesus is Lord', except by the Holy Spirit" (1 Cor 12:3). the Church invites us to invoke the Holy Spirit as the interior Teacher of Christian prayer.
Vì Đức Trinh Nữ Maria đã cộng tác cách độc đáo với hoạt động của Chúa Thánh Thần, nên Hội Thánh ưa thích cầu nguyện trong sự hiệp thông với Mẹ, để cùng Mẹ tán dương những việc cao cả Thiên Chúa đã thực hiện nơi Mẹ và để phó thác cho Mẹ những lời khẩn cầu và ca ngợi.
Because of Mary's singular cooperation with the action of the Holy Spirit, the Church loves to pray in communion with the Virgin Mary, to magnify with her the great things the Lord has done for her, and to entrust supplications and praises to her.