Việc cầu nguyện không chỉ là sự bộc phát do một thúc đẩy nội tâm: để cầu nguyện, phải muốn cầu nguyện. Nếu chỉ biết Thánh Kinh mặc khải những gì về cầu nguyện thì chưa đủ: còn phải học cầu nguyện nữa. Thật vậy, Chúa Thánh Thần, nhờ sự lưu truyền sống động (Thánh Truyền) dạy con cái Thiên Chúa biết cầu nguyện trong Hội Thánh đang tin và đang cầu nguyện.
Prayer cannot be reduced to the spontaneous outpouring of interior impulse: in order to pray, one must have the will to pray. Nor is it enough to know what the Scriptures reveal about prayer: one must also learn how to pray. Through a living transmission (Sacred Tradition) within "the believing and praying Church," The Holy Spirit teaches the children of God how to pray.
Truyền thống cầu nguyện Kitô Giáo là một trong các hình thái triển nở của Truyền thống đức tin, đặc biệt nhờ việc chiêm niệm và học hỏi của các tín hữu, những người luôn ghi nhớ trong lòng những biến cố và lời dạy về Nhiệm cục cứu độ, và nhờ sự thấu triệt sâu xa những thực tại thiêng liêng mà họ cảm nghiệm.
The tradition of Christian prayer is one of the ways in which the tradition of faith takes shape and grows, especially through the contemplation and study of believers who treasure in their hearts the events and words of the economy of salvation, and through their profound grasp of the spiritual realities they experience.
Chúa Thánh Thần là “nước trường sinh”, “tuôn ban sự sống muôn đời” vào tâm hồn người cầu nguyện. Chính Ngài dạy chúng ta biết đón nhận nước đó tận nguồn mạch: nơi Đức Kitô. Trong đời sống Kitô hữu, có những mạch dẫn đến nguồn, nơi Đức Kitô đang mong đợi chúng ta để cho chúng ta uống thỏa thuê Chúa Thánh Thần:
The Holy Spirit is the living water "welling up to eternal life" in the heart that prays. It is he who teaches us to accept it at its source: Christ. Indeed in the Christian life there are several wellsprings where Christ awaits us to enable us to drink of the Holy Spirit.
Hội Thánh “nhiệt liệt và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu... học được ‘sự hiểu biết tuyệt vời về Chúa Giêsu Kitô’ (Pl 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh... Nhưng họ nên nhớ rằng kinh nguyện phải có kèm theo việc đọc Thánh Kinh, để trở thành cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì ‘chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh’.”
The Church "forcefully and specially exhorts all the Christian faithful . . . to learn 'the surpassing knowledge of Jesus Christ' (⇒ Phil 3:8) by frequent reading of the divine Scriptures.... Let them remember, however, that prayer should accompany the reading of Sacred Scripture, so that a dialogue takes place between God and man. For 'we speak to him when we pray; we listen to him when we read the divine oracles."'
Các linh phụ đã dùng câu Tin Mừng Mt 7,7 để tóm lược tiến trình tâm hồn được Lời Chúa nuôi dưỡng khi cầu nguyện, như sau: “Anh em cứ tìm nhờ đọc, thì sẽ thấy nhờ suy niệm; cứ gõ cửa nhờ cầu nguyện, thì sẽ mở ra cho anh em nhờ chiêm niệm.”
The spiritual writers, paraphrasing Matthew 7:7, summarize in this way the dispositions of the heart nourished by the word of God in prayer "Seek in reading and you will find in meditating; knock in mental prayer and it will be opened to you by contemplation."
Sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần, trong phụng vụ bí tích của Hội Thánh, là công bố, hiện tại hóa và truyền thông mầu nhiệm cứu độ, sứ vụ ấy được tiếp nối trong tâm hồn người đang cầu nguyện. Các linh phụ đôi khi so sánh tâm hồn với bàn thờ. Việc cầu nguyện làm cho phụng vụ được nội tâm hóa và trở thành riêng của bản thân, cả trong lúc cử hành lẫn sau khi cử hành. Việc cầu nguyện, dù ở “nơi kín đáo” (Mt 6,6), vẫn luôn là lời cầu nguyện của Hội Thánh và là sự hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh.
In the sacramental liturgy of the Church, the mission of Christ and of the Holy Spirit proclaims, makes present, and communicates the mystery of salvation, which is continued in the heart that prays. the spiritual writers sometimes compare the heart to an altar. Prayer internalizes and assimilates the liturgy during and after its celebration. Even when it is lived out "in secret," prayer is always prayer of the Church; it is a communion with the Holy Trinity.
Chúng ta phải qua cửa hẹp của đức tin để đi vào cầu nguyện cũng như đi vào phụng vụ. Qua các dấu chỉ sự hiện diện của Chúa, chúng ta tìm kiếm và khao khát tôn nhan Ngài, chúng ta muốn lắng nghe và tuân giữ lời Ngài.
One enters into prayer as one enters into liturgy: by the narrow gate of faith. Through the signs of his presence, it is the Face of the Lord that we seek and desire; it is his Word that we want to hear and keep.
Chúa Thánh Thần, Đấng dạy chúng ta cử hành phụng vụ đang khi mong đợi ngày trở lại của Đức Kitô, giáo dục chúng ta biết cầu nguyện trong đức cậy. Ngược lại, việc cầu nguyện của Hội Thánh và của cá nhân nuôi dưỡng đức cậy trong lòng chúng ta. Đặc biệt các Thánh vịnh, với ngôn từ cụ thể và đa dạng của chúng, dạy chúng ta đặt lòng trông cậy nơi Thiên Chúa: “Tôi đã hết lòng trông đợi Chúa, Ngài nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu” (Tv 40,2). “Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin, để nhờ quyền năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hy vọng” (Rm 15,13).
The Holy Spirit, who instructs us to celebrate the liturgy in expectation of Christ's return, teaches us - to pray in hope. Conversely, the prayer of the Church and personal prayer nourish hope in us. the psalms especially, with their concrete and varied language, teach us to fix our hope in God: "I waited patiently for the LORD; he inclined to me and heard my cry." As St. Paul prayed: "May the God of hope fill you with all joy and peace in believing, so that by the power of the Holy Spirit you may abound in hope."
“Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Một khi được đào tạo nhờ đời sống phụng vụ, việc cầu nguyện sẽ kín múc được mọi sự trong tình yêu mà Thiên Chúa đã yêu mến chúng ta trong Đức Kitô. Tình yêu này giúp chúng ta đáp lại Ngài bằng cách yêu thương như chính Ngài đã yêu thương chúng ta. Tình yêu là nguồn mạch duy nhất của cầu nguyện; ai kín múc nơi nguồn mạch này, người đó đạt tới chóp đỉnh của việc cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa của con, con yêu mến Chúa, và niềm ao ước duy nhất của con là yêu mến Chúa cho đến hơi thở cuối cùng của đời con. Lạy Thiên Chúa vô cùng khả ái, con yêu mến Chúa. Con thà chết vì yêu mến Chúa, còn hơn là sống mà không yêu mến Chúa. Lạy Chúa, con yêu mến Chúa, và ân sủng duy nhất mà con cầu xin là cho con được yêu mến Chúa muôn đời... Lạy Thiên Chúa của con, nếu miệng lưỡi con không thể lúc nào cũng lặp lại rằng con yêu mến Chúa, con muốn rằng tim con luôn lặp lại lời đó với Chúa theo từng nhịp thở của con.”
"Hope does not disappoint us, because God's love has been poured into our hearts by the Holy Spirit who has been given to us." Prayer, formed by the liturgical life, draws everything into the love by which we are loved in Christ and which enables us to respond to him by loving as he has loved us. Love is the source of prayer; whoever draws from it reaches the summit of prayer. In the words of the Cure of Ars:
Có những lúc chúng ta học cầu nguyện bằng cách lắng nghe Lời Chúa và tham dự mầu nhiệm Vượt Qua của Người; nhưng mọi lúc, trong các biến cố hằng ngày, Người ban Thần Khí của Người để giúp ta cầu nguyện. Giáo huấn của Chúa Giêsu về việc cầu nguyện với Chúa Cha cũng giống như giáo huấn về Chúa quan phòng: thời gian ở trong tay Chúa Cha; chúng ta gặp gỡ Ngài trong hiện tại, không phải hôm qua hay ngày mai, nhưng chính hôm nay: “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa: các ngươi chớ cứng lòng!” (Tv 95,8).
We learn to pray at certain moments by hearing the Word of the Lord and sharing in his Paschal mystery, but his Spirit is offered us at all times, in the events of each day, to make prayer spring up from us. Jesus' teaching about praying to our Father is in the same vein as his teaching about providence: time is in the Father's hands; it is in the present that we encounter him, not yesterday nor tomorrow, but today: "O that today you would hearken to his voice! Harden not your hearts."
Cầu nguyện trong các biến cố mỗi ngày và mỗi lúc, là một trong những điều bí ẩn của Nước Trời, được mặc khải cho “những người bé mọn”, những tôi tớ Đức Kitô, những người nghèo theo các mối phúc. Thật là chính đáng và tốt lành khi cầu nguyện để công lý và hòa bình của “Nước Chúa trị đến” có ảnh hưởng trên tiến trình lịch sử; nhưng cũng quan trọng là phải dùng cầu nguyện mà nhào nặn khối bột là những hoàn cảnh tầm thường hằng ngày. Mọi hình thức cầu nguyện đều có thể là thứ men mà Chúa đã sánh ví với Nước Chúa.
Prayer in the events of each day and each moment is one of the secrets of the kingdom revealed to "little children," to the servants of Christ, to the poor of the Beatitudes. It is right and good to pray so that the coming of the kingdom of justice and peace may influence the march of history, but it is just as important to bring the help of prayer into humble, everyday situations; all forms of prayer can be the leaven to which the Lord compares the kingdom.
Nhờ việc lưu truyền sống động là Thánh Truyền, Chúa Thánh Thần dạy con cái Thiên Chúa, trong Hội Thánh, biết cầu nguyện.
By a living transmission -Tradition - the Holy Spirit in the Church teaches the children of God to pray.
Lời Chúa, Phụng vụ của Hội Thánh, các nhân đức Tin Cậy Mến, là những nguồn mạch của việc cầu nguyện.
The Word of God, the liturgy of the Church, and the virtues of faith, hope, and charity are sources of prayer.