Hỏi Đáp Công Giáo
Kinh Nguyện Kitô Giáo · Kinh nguyện trong đời sống Kitô hữu · Đời sống cầu nguyện
MỤC 1

Những cách diễn đạt việc cầu nguyện

Số 2697–2724
2697

Cầu nguyện là sự sống của một trái tim mới. Cầu nguyện phải làm cho chúng ta được sống động mọi lúc. Tuy nhiên, chúng ta lại quên Đấng là Sự Sống và là Tất Cả của chúng ta. Vì thế, các bậc thầy linh đạo, theo truyền thống của Đệ Nhị Luật và của các tiên tri, đều nhấn mạnh đến việc cầu nguyện như là “nhớ đến Thiên Chúa”, là thường xuyên đánh thức “ký ức của trái tim.” “Chúng ta phải nhớ đến Thiên Chúa thường xuyên hơn là chúng ta hít thở.” Nhưng chúng ta không thể cầu nguyện “trong mọi lúc”, nếu không có những thời điểm chủ ý dành để cầu nguyện: đây là những nhịp mạnh của kinh nguyện Kitô Giáo, chuyên chú hơn và kéo dài hơn.

Prayer is the life of the new heart. It ought to animate us at every moment. But we tend to forget him who is our life and our all. This is why the Fathers of the spiritual life in the Deuteronomic and prophetic traditions insist that prayer is a remembrance of God often awakened by the memory of the heart "We must remember God more often than we draw breath." But we cannot pray "at all times" if we do not pray at specific times, consciously willing it These are the special times of Christian prayer, both in intensity and duration.

2698

Truyền thống của Hội Thánh đề ra cho các tín hữu những chu kỳ cầu nguyện để nuôi dưỡng việc cầu nguyện liên tục. Chu kỳ hằng ngày là: kinh sáng và kinh chiều, trước và sau các bữa ăn, các Giờ Kinh phụng vụ. Ngày Chúa Nhật, mà trọng tâm là Thánh lễ, được thánh hóa chủ yếu bằng kinh nguyện. Chu kỳ năm phụng vụ và những ngày lễ lớn là những nhịp căn bản cho đời sống cầu nguyện của các Kitô hữu.

The Tradition of the Church proposes to the faithful certain rhythms of praying intended to nourish continual prayer. Some are daily, such as morning and evening prayer, grace before and after meals, the Liturgy of the Hours. Sundays, centered on the Eucharist, are kept holy primarily by prayer. the cycle of the liturgical year and its great feasts are also basic rhythms of the Christian's life of prayer.

2699

Chúa dẫn dắt mỗi người bằng những đường lối và cách thức đẹp ý Ngài. Mỗi tín hữu cũng đáp lời Ngài theo quyết định của lòng mình và những cách diễn đạt cá vị kinh nguyện của mình. Tuy nhiên, truyền thống Kitô Giáo đã lưu giữ ba cách diễn đạt quan trọng của đời sống cầu nguyện: khẩu nguyện, suy niệm và cầu nguyện chiêm niệm. Đặc điểm chung của cả ba cách diễn đạt này là sự tập trung tâm hồn. Thái độ tỉnh thức để tuân giữ Lời Chúa và luôn ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa làm cho ba cách diễn đạt này thành những nhịp mạnh của đời sống cầu nguyện.

The Lord leads all persons by paths and in ways pleasing to him, and each believer responds according to his heart's resolve and the personal expressions of his prayer. However, Christian Tradition has retained three major expressions of prayer: vocal meditative, and contemplative. They have one basic trait in common: composure of heart. This vigilance in keeping the Word and dwelling in the presence of God makes these three expressions intense times in the life of prayer.

2700

Thiên Chúa nói với con người bằng Lời của Ngài. Chính nhờ các lời, trong tâm trí hay đọc ra miệng, mà việc cầu nguyện của chúng ta hình thành. Nhưng điều tối quan trọng là sự hiện diện của trái tim hướng về Đấng chúng ta ngỏ lời khi cầu nguyện. “Lời cầu nguyện của chúng ta có được đoái nhận hay không, không hệ tại ở nhiều lời, nhưng ở sự tỉnh thức của tâm trí.”

Through his Word, God speaks to man. By words, mental or vocal, our prayer takes flesh. Yet it is most important that the heart should be present to him to whom we are speaking in prayer: "Whether or not our prayer is heard depends not on the number of words, but on the fervor of our souls."

2701

Khẩu nguyện là yếu tố rất cần thiết cho đời sống Kitô hữu. Các môn đệ bị lôi cuốn bởi việc cầu nguyện thầm lặng của Thầy mình, đã được Đức Kitô dạy cho một kinh khẩu nguyện: đó là Kinh Lạy Cha. Chúa Giêsu không những cầu nguyện theo phụng vụ của Hội đường, nhưng các sách Tin Mừng còn cho ta thấy Người lớn tiếng bày tỏ lời cầu nguyện riêng của Người nữa, từ việc hân hoan chúc tụng Chúa Cha cho đến lúc ngặt nghèo ở Ghếtsêmani.

Vocal prayer is an essential element of the Christian life. To his disciples, drawn by their Master's silent prayer, Jesus teaches a vocal prayer, the Our Father. He not only prayed aloud the liturgical prayers of the synagogue but, as the Gospels show, he raised his voice to express his personal prayer, from exultant blessing of the Father to the agony of Gesthemani.

2702

Nhu cầu liên kết các giác quan với việc cầu nguyện nội tâm đáp ứng đòi hỏi của bản tính loài người chúng ta. Chúng ta là thân xác và tinh thần, và chúng ta nghiệm thấy nhu cầu phải diễn đạt những tâm tình của chúng ta ra bên ngoài. Cần cầu nguyện với trót cả con người chúng ta, để mang lại sức lực tối đa cho lời khẩn cầu của chúng ta.

The need to involve the senses in interior prayer corresponds to a requirement of our human nature. We are body and spirit, and we experience the need to translate our feelings externally. We must pray with our whole being to give all power possible to our supplication.

2703

Nhu cầu này cũng đáp ứng đòi hỏi của Thiên Chúa. Thiên Chúa tìm kiếm những kẻ thờ phượng Ngài trong Thần Khí và Sự Thật, và do đó tìm kiếm lời cầu nguyện dâng lên từ cõi sâu thẳm của linh hồn. Ngài cũng muốn cách diễn đạt bên ngoài kết hợp thân xác với lời cầu nguyện nội tâm, bởi vì việc cầu nguyện như thế sẽ dâng lên Thiên Chúa sự tôn kính trọn vẹn, là điều Ngài có quyền đòi hỏi.

This need also corresponds to a divine requirement. God seeks worshippers in Spirit and in Truth, and consequently living prayer that rises from the depths of the soul. He also wants the external expression that associates the body with interior prayer, for it renders him that perfect homage which is his due.

2704

Vì khẩu nguyện phát biểu ra bên ngoài và hợp với bản tính nhân loại, nên rất thích hợp với việc cầu nguyện của đám đông. Ngay cả lời cầu nguyện thầm kín nhất cũng không thể không cần đến khẩu nguyện. Việc cầu nguyện trở thành nội tâm tùy mức độ chúng ta ý thức về Đấng mà chúng ta thưa chuyện. Khi đó, khẩu nguyện của Hội Thánh trở thành hình thức đầu tiên của việc cầu nguyện chiêm niệm.

Because it is external and so thoroughly human, vocal prayer is the form of prayer most readily accessible to groups. Even interior prayer, however, cannot neglect vocal prayer. Prayer is internalized to the extent that we become aware of him "to whom we speak;" Thus vocal prayer becomes an initial form of contemplative prayer.

2705

Suy niệm trước tiên là một sự tìm kiếm. Tâm trí tìm hiểu lý do và cách diễn đạt đời sống Kitô hữu như thế nào, để gắn bó và đáp lại điều Chúa đòi hỏi. Điều khó trong suy niệm là phải cầm trí. Thông thường, người ta dùng một cuốn sách nào đó để hỗ trợ; và các Kitô hữu không thiếu những sách như vậy: Sách Thánh, đặc biệt là các sách Tin Mừng, các ảnh tượng thánh, các bản văn phụng vụ theo ngày hoặc theo mùa, tác phẩm của các Linh phụ, các sách linh đạo, cuốn sách vĩ đại là công trình tạo dựng và cuốn sách vĩ đại là lịch sử, trang sách về “Ngày hôm nay” của Thiên Chúa.

Meditation is above all a quest. the mind seeks to understand the why and how of the Christian life, in order to adhere and respond to what the Lord is asking. the required attentiveness is difficult to sustain. We are usually helped by books, and Christians do not want for them: the Sacred Scriptures, particularly the Gospels, holy icons, liturgical texts of the day or season, writings of the spiritual fathers, works of spirituality, the great book of creation, and that of history the page on which the "today" of God is written.

2706

Việc suy niệm điều đã đọc đưa đến chỗ áp dụng cho riêng mình qua việc đối chiếu với đời mình. Đến đây một cuốn sách khác lại được mở ra: đó là cuốn sách cuộc đời mình. Từ tư tưởng bước sang thực tại. Tùy theo mức độ khiêm tốn và đức tin, ta có thể khám phá ra những giao động trong trái tim và có thể phân định chúng. Đó là thực hành chân lý hầu đạt tới ánh sáng: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?”

To meditate on what we read helps us to make it our own by confronting it with ourselves. Here, another book is opened: the book of life. We pass from thoughts to reality. To the extent that we are humble and faithful, we discover in meditation the movements that stir the heart and we are able to discern them. It is a question of acting truthfully in order to come into the light: "Lord, what do you want me to do?"

2707

Có bao nhiêu bậc thầy tu đức thì có bấy nhiêu phương pháp suy niệm. Kitô hữu phải suy niệm đều đặn, để khỏi trở nên giống như ba loại đất đầu tiên trong dụ ngôn người gieo giống. Nhưng phương pháp chỉ là người hướng dẫn mà thôi: điều quan trọng là chúng ta phải tiến bước, cùng với Chúa Thánh Thần, trên con đường duy nhất của cầu nguyện là Chúa Kitô Giêsu.

There are as many and varied methods of meditation as there are spiritual masters. Christians owe it to themselves to develop the desire to meditate regularly, lest they come to resemble the three first kinds of soil in the parable of the sower. But a method is only a guide; the important thing is to advance, with the Holy Spirit, along the one way of prayer: Christ Jesus.

2708

Việc suy niệm vận dụng tư tưởng, trí tưởng tượng, cảm xúc và ước muốn. Sự huy động này là cần thiết để đào sâu các xác tín đức tin, để khơi dậy sự hối cải tâm hồn và củng cố ý chí muốn bước theo Đức Kitô. Việc cầu nguyện của Kitô Giáo ưu tiên chăm chú vào việc suy niệm “các mầu nhiệm của Đức Kitô”, như trong lectio divina (đọc và suy gẫm lời Chúa) và kinh Mân Côi. Hình thức suy nghĩ và cầu nguyện này rất có giá trị, nhưng việc cầu nguyện Kitô Giáo còn phải tiến xa hơn nữa: nhằm hiểu biết tình yêu của Chúa Giêsu, nhằm kết hợp với Người.

Meditation engages thought, imagination, emotion, and desire. This mobilization of faculties is necessary in order to deepen our convictions of faith, prompt the conversion of our heart, and strengthen our will to follow Christ. Christian prayer tries above all to meditate on the mysteries of Christ, as in lectio divina or the rosary. This form of prayerful reflection is of great value, but Christian prayer should go further: to the knowledge of the love of the Lord Jesus, to union with him.

2709

Cầu nguyện chiêm niệm là gì? Thánh nữ Têrêsa trả lời: “Theo tôi, tâm nguyện không gì khác hơn là cuộc trao đổi thân tình giữa bạn hữu, trong đó chúng ta năng dành thời gian để một mình ở bên Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta biết là Ngài yêu thương chúng ta.” Việc cầu nguyện chiêm niệm tìm kiếm “Đấng lòng ta yêu mến” (Dc 1,7). Chúng ta tìm kiếm Chúa Giêsu, và Chúa Cha hiện diện trong Người, bởi vì khao khát Người luôn là khởi đầu cho sự yêu mến Người. Và chúng ta tìm kiếm Người trong đức tin tinh tuyền, một đức tin khiến chúng ta được sinh ra bởi Người và được sống trong Người. Chúng ta cũng có thể suy niệm khi cầu nguyện chiêm niệm, nhưng cái nhìn luôn hướng về Chúa.

What is contemplative prayer? St. Teresa answers: "Contemplative prayer [oracion mental] in my opinion is nothing else than a close sharing between friends; it means taking time frequently to be alone with him who we know loves us." Contemplative prayer seeks him "whom my soul loves." It is Jesus, and in him, the Father. We seek him, because to desire him is always the beginning of love, and we seek him in that pure faith which causes us to be born of him and to live in him. In this inner prayer we can still meditate, but our attention is fixed on the Lord himself.

2710

Việc chọn lúc nào và bao lâu để cầu nguyện chiêm niệm tùy thuộc một ý chí mạnh mẽ, bộc lộ những điều kín nhiệm trong lòng. Không phải chỉ chiêm niệm khi nào có thời giờ, nhưng chúng ta phải dành thời giờ để ở với Chúa, với quyết tâm không rút lại thời gian, dù việc gặp gỡ có cực khổ và khô khan. Không thể suy niệm bất cứ lúc nào, nhưng luôn luôn có thể cầu nguyện chiêm niệm bởi vì nó không lệ thuộc vào điều kiện sức khỏe, công tác hay cảm xúc. Trái tim là nơi tìm kiếm và gặp gỡ, trong khó nghèo và tin tưởng.

The choice of the time and duration of the prayer arises from a determined will, revealing the secrets of the heart. One does not undertake contemplative prayer only when one has the time: one makes time for the Lord, with the firm determination not to give up, no matter what trials and dryness one may encounter. One cannot always meditate, but one can always enter into inner prayer, independently of the conditions of health, work, or emotional state. the heart is the place of this quest and encounter, in poverty ant in faith.

2711

Khởi sự cầu nguyện chiêm niệm cũng tương tự như khởi đầu Thánh lễ: dưới tác động của Chúa Thánh Thần, chúng ta phải hồi tâm và cả hữu thể của chúng ta, sống trong nhà của Chúa, là chính chúng ta, dục lòng tin để tiến vào sự hiện diện của Đấng đang chờ đón chúng ta, chúng ta phải bỏ rơi mặt nạ và hướng tâm hồn về Chúa là Đấng yêu thương chúng ta, để phó dâng bản thân chúng ta cho Ngài như lễ phẩm cần được thanh luyện và biến đổi.

Entering into contemplative prayer is like entering into the Eucharistic liturgy: we "gather up:" the heart, recollect our whole being under the prompting of the Holy Spirit, abide in the dwelling place of the Lord which we are, awaken our faith in order to enter into the presence of him who awaits us. We let our masks fall and turn our hearts back to the Lord who loves us, so as to hand ourselves over to him as an offering to be purified and transformed.

2712

Việc cầu nguyện chiêm niệm là kinh nguyện của con cái Thiên Chúa, của tội nhân đã được tha thứ, sẵn sàng đón nhận tình yêu đã yêu thương họ, và muốn đáp lại tình yêu đó bằng yêu mến nhiều hơn. Nhưng người đó biết rõ tình yêu báo đáp của họ là tình yêu Chúa Thánh Thần đã tuôn đổ vào lòng họ, bởi vì tất cả mọi ân sủng đều đến từ Thiên Chúa. Cầu nguyện chiêm niệm là phó thác cách khiêm tốn và khó nghèo cho thánh ý yêu thương của Chúa Cha trong sự hợp nhất ngày càng sâu xa hơn với Con yêu dấu của Ngài.

Contemplative prayer is the prayer of the child of God, of the forgiven sinner who agrees to welcome the love by which he is loved and who wants to respond to it by loving even more. But he knows that the love he is returning is poured out by the Spirit in his heart, for everything is grace from God. Contemplative prayer is the poor and humble surrender to the loving will of the Father in ever deeper union with his beloved Son.

2713

Như thế, việc cầu nguyện chiêm niệm là hình thức đơn sơ nhất của mầu nhiệm cầu nguyện. Việc cầu nguyện chiêm niệm là một hồng ân, một ân sủng, chỉ có thể đón nhận trong sự khiêm tốn và khó nghèo. Cầu nguyện chiêm niệm là một tương quan của Giao ước được Thiên Chúa thiết lập nơi đáy lòng chúng ta. Cầu nguyện chiêm niệm là hiệp thông: Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh, trong sự hiệp thông này, làm cho con người, là hình ảnh Thiên Chúa, trở nên “giống như Thiên Chúa.”

Contemplative prayer is the simplest expression of the mystery of prayer. It is a gift, a grace; it can be accepted only in humility and poverty. Contemplative prayer is a covenant relationship established by God within our hearts. Contemplative prayer is a communion in which the Holy Trinity conforms man, the image of God, "to his likeness."

2714

Cầu nguyện chiêm niệm cũng là nhịp mạnh cách đặc biệt của việc cầu nguyện. Trong cầu nguyện chiêm niệm, Chúa Cha củng cố chúng ta nên mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Ngài trong con người nội tâm, để Đức Kitô cư ngụ trong lòng chúng ta nhờ đức tin và để chúng ta được bén rễ sâu và được xây dựng vững chắc trong đức mến.

Contemplative prayer is also the pre-eminently intense time of prayer. In it the Father strengthens our inner being with power through his Spirit "that Christ may dwell in (our) hearts through faith" and we may be "grounded in love."

2715

Cầu nguyện chiêm niệm là cái nhìn đầy lòng tin, chiêm ngắm Chúa Giêsu. Người dân quê làng Ars xưa đã cầu nguyện trước Nhà Tạm rồi nói với cha sở thánh của ông: “Tôi nhìn Chúa và Chúa nhìn tôi.” Sự chăm chú nhìn Chúa như vậy là sự từ bỏ “cái tôi.” Cái nhìn của Chúa thanh luyện tâm hồn chúng ta. Ánh sáng trong cái nhìn của Chúa Giêsu chiếu sáng con mắt tâm hồn chúng ta; ánh sáng ấy dạy chúng ta biết nhìn mọi sự dưới ánh sáng chân lý và lòng thương xót của Người đối với tất cả mọi người. Việc cầu nguyện chiêm niệm cũng hướng cái nhìn vào các mầu nhiệm của cuộc đời Đức Kitô. Như thế, việc cầu nguyện này dạy “sự hiểu biết nội tâm về Chúa” để yêu mến và bước theo Người nhiều hơn nữa.

Contemplation is a gaze of faith, fixed on Jesus. "I look at him and he looks at me": this is what a certain peasant of Ars used to say to his holy cure about his prayer before the tabernacle. This focus on Jesus is a renunciation of self. His gaze purifies our heart; the light of the countenance of Jesus illumines the eyes of our heart and teaches us to see everything in the light of his truth and his compassion for all men. Contemplation also turns its gaze on the mysteries of the life of Christ. Thus it learns the "interior knowledge of our Lord," the more to love him and follow him.

2716

Cầu nguyện chiêm niệm là lắng nghe Lời Chúa. Đây không phải là một thái độ thụ động, mà là sự tuân phục của đức tin, là sự chấp nhận tuyệt đối của người tôi tớ và là sự gắn bó yêu thương của người con. Sự lắng nghe này tham dự vào tiếng “Amen” của Người Con đã hạ mình làm Tôi tớ và tiếng “Fiat” của người nữ tì khiêm tốn của Chúa.

Contemplative prayer is hearing the Word of God. Far from being passive, such attentiveness is the obedience of faith, the unconditional acceptance of a servant, and the loving commitment of a child. It participates in the "Yes" of the Son become servant and the Fiat of God's lowly handmaid.

2717

Cầu nguyện chiêm niệm là thinh lặng, “biểu tượng của thế giới đang tới”, hay “lời thầm lặng của tình yêu.” Các lời nói trong việc cầu nguyện chiêm niệm không phải là những diễn từ, nhưng là những cọng rơm nuôi ngọn lửa tình yêu. Trong sự thinh lặng này, là điều con người “bên ngoài” không thể chịu đựng nổi, Chúa Cha nói cho chúng ta biết Ngôi Lời của Ngài nhập thể, chịu đau khổ, chịu chết và sống lại; Thần Khí nghĩa tử giúp cho chúng ta tham dự vào lời cầu nguyện của Chúa Giêsu.

Contemplative prayer is silence, the "symbol of the world to come" or "silent love." Words in this kind of prayer are not speeches; they are like kindling that feeds the fire of love. In this silence, unbearable to the "outer" man, the Father speaks to us his incarnate Word, who suffered, died, and rose; in this silence the Spirit of adoption enables us to share in the prayer of Jesus.

2718

Cầu nguyện chiêm niệm là sự kết hợp với lời cầu nguyện của Đức Kitô vì cho chúng ta tham dự vào mầu nhiệm của Người. Mầu nhiệm Đức Kitô được Hội Thánh cử hành trong Thánh Lễ và được Chúa Thánh Thần làm cho sống động trong chiêm niệm, để mầu nhiệm đó được bày tỏ qua các hành vi yêu mến.

Contemplative prayer is a union with the prayer of Christ insofar as it makes us participate in his mystery. the mystery of Christ is celebrated by the Church in the Eucharist, and the Holy Spirit makes it come alive in contemplative prayer so that our charity will manifest it in our acts.

2719

Cầu nguyện chiêm niệm là sự hiệp thông tình yêu mang lại sự sống cho nhiều người, nếu chúng ta chấp nhận bước đi trong đêm tối đức tin. Đêm Vượt Qua của cuộc Phục sinh phải xuyên qua đêm hấp hối và đêm huyệt mộ. Đó là ba thời trong Giờ của Chúa Giêsu mà Thần Khí của Người (chứ không phải “xác thịt yếu đuối”) đã để cho Người phải trải qua; trong chiêm niệm, chúng ta đưa ba thời trong Giờ của Người vào đời sống. Chúng ta phải chấp nhận “canh thức một giờ với Người.”

Contemplative prayer is a communion of love bearing Life for the multitude, to the extent that it consents to abide in the night of faith. the Paschal night of the Resurrection passes through the night of the agony and the tomb - the three intense moments of the Hour of Jesus which his Spirit (and not "the flesh [which] is weak") brings to life in prayer. We must be willing to "keep watch with (him) one hour."

2720

Hội Thánh mời gọi các tín hữu cầu nguyện đều đặn: qua các kinh nguyện hằng ngày, các Giờ Kinh phụng vụ, Thánh lễ Chúa nhật và các lễ trọng của năm phụng vụ.

The Church invites the faithful to regular prayer: daily prayers, the Liturgy of the Hours, Sunday Eucharist, the feasts of the liturgical year.

2721

Truyền thống Kitô Giáo có ba cách diễn đạt quan trọng của đời sống cầu nguyện: khẩu nguyện, suy niệm và cầu nguyện chiêm niệm. Đặc điểm chung của cả ba hình thức này là tập trung tâm hồn.

The Christian tradition comprises three major expressions of the life of prayer: vocal prayer, meditation, and contemplative prayer. They have in common the recollection of the heart.

2722

Khẩu nguyện, dựa trên sự kết hợp của thân thể với tinh thần trong bản tính con người, nối kết thân thể với việc cầu nguyện nội tâm của tâm hồn, theo gương Đức Kitô, Đấng cầu nguyện với Cha của Người và dạy các môn đệ kinh “Lạy Cha.”

Vocal prayer, founded on the union of body and soul in human nature, associates the body with the interior prayer of the heart, following Christ's example of praying to his Father and teaching the Our Father to his disciples.

2723

Suy niệm là tìm kiếm trong tinh thần cầu nguyện, vận dụng tư tưởng, trí tưởng tượng, cảm xúc và ước muốn. Mục tiêu của việc suy niệm là để cho điều đã suy tư trong đức tin trở nên của riêng mình, qua việc đối chiếu với thực trạng cuộc đời của mình.

Meditation is a prayerful quest engaging thought, imagination, emotion, and desire. Its goal is to make our own in faith the subject considered, by confronting it with the reality of our own life.

2724

Cầu nguyện chiêm niệm là hình thức đơn sơ của mầu nhiệm cầu nguyện. Đó là cái nhìn của đức tin chiêm ngắm Chúa Giêsu, lắng nghe Lời Chúa, mến yêu thầm lặng. Cầu nguyện chiêm niệm là sự kết hợp với lời cầu nguyện của Đức Kitô, vì cho chúng ta tham dự vào mầu nhiệm của Người.

Contemplative prayer is the simple expression of the mystery of prayer. It is a gaze of faith fixed on Jesus, an attentiveness to the Word of God, a silent love. It achieves real union with the prayer of Christ to the extent that it makes us share in his mystery.