Hỏi Đáp Công Giáo
Kinh Nguyện Kitô Giáo · Kinh nguyện trong đời sống Kitô hữu · Đời sống cầu nguyện
MỤC 2

Cuộc chiến đấu của việc cầu nguyện

Số 2725–2745
2725

Việc cầu nguyện là một quà tặng của ân sủng và là lời đáp lại kiên vững từ phía chúng ta. Nó luôn đòi phải cố gắng. Những vị cầu nguyện nổi tiếng trong Cựu Ước trước Đức Kitô, cũng như Mẹ Thiên Chúa và các Thánh cùng với Chúa Giêsu đều dạy chúng ta: cầu nguyện là một cuộc chiến đấu. Chiến đấu chống lại ai? Chống lại chính chúng ta và chống lại những mưu mô của Tên cám dỗ, là kẻ muốn làm tất cả để con người bỏ cầu nguyện, bỏ kết hợp với Thiên Chúa của mình. Chúng ta cầu nguyện như chúng ta sống, bởi vì chúng ta sống như chúng ta cầu nguyện. Nếu ai không muốn thường xuyên hoạt động theo Thần Khí của Đức Kitô, thì không thể nào thường xuyên cầu nguyện nhân danh Người. “Cuộc chiến đấu thiêng liêng” của cuộc đời mới của Kitô hữu không thể tách rời khỏi cuộc chiến đấu của việc cầu nguyện.

Prayer is both a gift of grace and a determined response on our part. It always presupposes effort. the great figures of prayer of the Old Covenant before Christ, as well as the Mother of God, the saints, and he himself, all teach us this: prayer is a battle. Against whom? Against ourselves and against the wiles of the tempter who does all he can to turn man away from prayer, away from union with God. We pray as we live, because we live as we pray. If we do not want to act habitually according to the Spirit of Christ, neither can we pray habitually in his name. the "spiritual battle" of the Christian's new life is inseparable from the battle of prayer.

2726

Trong cuộc chiến đấu của việc cầu nguyện, chúng ta phải đương đầu với những quan niệm sai lầm về cầu nguyện nơi chính bản thân và chung quanh chúng ta. Một số người coi việc cầu nguyện chỉ đơn giản là một hoạt động có tính cách tâm lý; một số khác lại coi là một cố gắng tập trung tinh thần để đạt tới tình trạng tâm trí trống rỗng. Một số khác giản lược việc cầu nguyện vào những thái độ và lời nói mang tính nghi thức. Trong vô thức của nhiều Kitô hữu, cầu nguyện là một công việc không thể đi đôi với tất cả những gì họ phải làm: họ không có thời giờ. Những người tìm kiếm Thiên Chúa bằng cầu nguyện lại mau nản chí, bởi vì họ không biết rằng việc cầu nguyện còn xuất phát từ Chúa Thánh Thần chứ không phải chỉ do mình mà thôi.

In the battle of prayer, we must face in ourselves and around us erroneous notions of prayer. Some people view prayer as a simple psychological activity, others as an effort of concentration to reach a mental void. Still others reduce prayer to ritual words and postures. Many Christians unconsciously regard prayer as an occupation that is incompatible with all the other things they have to do: they "don't have the time." Those who seek God by prayer are quickly discouraged because they do not know that prayer comes also from the Holy Spirit and not from themselves alone.

2727

Chúng ta còn phải đương đầu với những cách suy nghĩ của “trần gian này”; chúng sẽ xâm nhập vào chúng ta, nếu chúng ta không cảnh giác, chẳng hạn: - Có người cho rằng chỉ những gì lý trí và khoa học chứng minh được mới là chân lý (còn cầu nguyện là một mầu nhiệm vượt quá ý thức và vô thức của chúng ta); - Có người đề cao giá trị của sản xuất và lợi nhuận (còn việc cầu nguyện là vô ích vì phi sản xuất); - Có người lấy khoái lạc và tiện nghi làm thước đo chân thiện mỹ (trong khi cầu nguyện chính là “yêu mến Vẻ đẹp” được lôi cuốn bởi vinh quang của Thiên Chúa hằng sống và chân thật). - Có người coi cầu nguyện là chạy trốn khỏi trần gian, để chống lại chủ nghĩa duy hoạt động (trong khi cầu nguyện Kitô Giáo không hề trốn khỏi dòng đời, hoặc cắt đứt với cuộc sống).

We must also face the fact that certain attitudes deriving from the mentality of "this present world" can penetrate our lives if we are not vigilant. For example, some would have it that only that is true which can be verified by reason and science; yet prayer is a mystery that overflows both our conscious and unconscious lives. Others overly prize production and profit; thus prayer, being unproductive, is useless. Still others exalt sensuality and comfort as the criteria of the true, the good, and the beautiful; whereas prayer, the "love of beauty" (philokalia), is caught up in the glory of the living and true God. Finally, some see prayer as a flight from the world in reaction against activism; but in fact, Christian prayer is neither an escape from reality nor a divorce from life.

2728

Cuối cùng, cuộc chiến đấu mà chúng ta phải đương đầu là cảm giác về những thất bại trong việc cầu nguyện: nản chí vì khô khan, buồn phiền vì mình không hiến dâng tất cả cho Chúa, bởi vì chúng ta “có nhiều của cải”, thất vọng vì Chúa không theo ý mình, tính kiêu ngạo bị tổn thương và trở nên chai lì khi buộc nhìn nhận thân phận tội nhân bất xứng, dị ứng với việc cầu nguyện tinh ròng (gratuitatem orationis), v.v... Những điều này luôn luôn dẫn đến cùng một kết luận: cầu nguyện để làm gì? Để thắng vượt những chướng ngại này, chúng ta phải chiến đấu một cách khiêm nhường, tin tưởng và kiên trì.

Finally, our battle has to confront what we experience as failure in prayer: discouragement during periods of dryness; sadness that, because we have "great possessions," we have not given all to the Lord; disappointment over not being heard according to our own will; wounded pride, stiffened by the indignity that is ours as sinners; our resistance to the idea that prayer is a free and unmerited gift; and so forth. the conclusion is always the same: what good does it do to pray? To overcome these obstacles, we must battle to gain humility, trust, and perseverance.

2729

Khó khăn thường xuyên khi chúng ta cầu nguyện là sự chia trí. Có thể chia trí về các lời đọc và ý nghĩa của chúng, trong khẩu nguyện; sâu xa hơn, về Đấng chúng ta đang thưa chuyện, trong khẩu nguyện (cầu nguyện trong phụng vụ hay riêng tư), trong suy niệm và cầu nguyện chiêm niệm. Bận tâm với việc xua đuổi những sự chia trí này là đã mắc bẫy của chúng, trong khi chúng ta chỉ cần trở về với trái tim mình là đủ: sự chia trí bộc lộ cho thấy điều mình đang quyến luyến; khiêm tốn ý thức được điều đó trước mặt Chúa, sẽ nhắc nhở chúng ta phải ưu tiên yêu mến Ngài, kiên quyết dâng tâm hồn cho Ngài để xin Ngài thanh tẩy. Cuộc chiến đấu là ở chỗ đó: chúng ta chọn Chúa để phục vụ Ngài.

The habitual difficulty in prayer is distraction. It can affect words and their meaning in vocal prayer; it can concern, more profoundly, him to whom we are praying, in vocal prayer (liturgical or personal), meditation, and contemplative prayer. To set about hunting down distractions would be to fall into their trap, when all that is necessary is to turn back to our heart: for a distraction reveals to us what we are attached to, and this humble awareness before the Lord should awaken our preferential love for him and lead us resolutely to offer him our heart to be purified. Therein lies the battle, the choice of which master to serve.

2730

Về mặt tích cực, cuộc chiến đấu chống lại “cái tôi” thích chiếm hữu và thống trị của chúng ta chính là sự tỉnh thức, tức là sự tiết độ của tâm hồn. Khi kêu gọi sự tỉnh thức, Chúa Giêsu luôn quy chiếu về việc Người đến vào ngày cuối cùng và từng ngày, vào “Hôm nay.” Chàng Rể đến vào nửa đêm, nên ta không được để cho ánh sáng đức tin tàn lụi: “Nghĩ về Ngài lòng con tự nhủ: hãy tìm kiếm Thánh Nhan” (Tv 27,8).

In positive terms, the battle against the possessive and dominating self requires vigilance, sobriety of heart. When Jesus insists on vigilance, he always relates it to himself, to his coming on the last day and every day: today. the bridegroom comes in the middle of the night; the light that must not be extinguished is that of faith: "'Come,' my heart says, 'seek his face!'"

2731

Một khó khăn khác, đặc biệt đối với những người thành tâm muốn cầu nguyện, là sự khô khan. Nó là một phần của việc cầu nguyện, khi tâm hồn bị tước đoạt, không còn hứng thú đối với những ý tưởng, những hoài niệm và những tâm tình, kể cả về mặt thiêng liêng. Đây chính là lúc phải có đức tin tinh tuyền, một đức tin trung thành ở lại với Chúa Giêsu “trong hấp hối và trong huyệt mộ.” “Hạt lúa gieo vào lòng đất,... nếu chết đi nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Nếu sự khô khan là do thiếu gốc rễ, bởi vì lời rơi trên sỏi đá, thì cuộc chiến đấu liên quan đến việc hối cải.

Another difficulty, especially for those who sincerely want to pray, is dryness. Dryness belongs to contemplative prayer when the heart is separated from God, with no taste for thoughts, memories, and feelings, even spiritual ones. This is the moment of sheer faith clinging faithfully to Jesus in his agony and in his tomb. "Unless a grain of wheat falls into the earth and dies, it remains alone; but if dies, it bears much fruit." If dryness is due to the lack of roots, because the word has fallen on rocky soil, the battle requires conversion.

2732

Cơn cám dỗ thường gặp nhất, kín đáo nhất, là chúng ta thiếu đức tin. Đây không phải là việc tuyên bố rõ ràng không tin Chúa, cho bằng một chọn lựa ưu tiên trong thực tế. Khi chúng ta khởi sự cầu nguyện, hàng ngàn công việc và lo toan, được coi là cấp bách, xuất hiện như những điều đòi được ưu tiên: một lần nữa, đây là lúc chúng ta thấy rõ lòng mình và tình cảm ưu tiên của nó. Có khi chúng ta quay về với Chúa như chỗ cậy dựa cuối cùng, nhưng liệu chúng ta có thật sự tin điều đó không? Có khi chúng ta nhận Chúa làm đồng minh, nhưng lòng vẫn còn tự cao tự đại. Trong mọi trường hợp, sự thiếu đức tin của chúng ta cho thấy rằng chúng ta chưa có một tâm hồn khiêm tốn: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

The most common yet most hidden temptation is our lack of faith. It expresses itself less by declared incredulity than by our actual preferences. When we begin to pray, a thousand labors or cares thought to be urgent vie for priority; once again, it is the moment of truth for the heart: what is its real love? Sometimes we turn to the Lord as a last resort, but do we really believe he is? Sometimes we enlist the Lord as an ally, but our heart remains presumptuous. In each case, our lack of faith reveals that we do not yet share in the disposition of a humble heart: "Apart from me, you can do nothing."

2733

Một cám dỗ khác do sự tự cao tự đại mở lối, là sự nguội lạnh. Các linh phụ coi đây là một hình thức suy nhược tinh thần vì nới lỏng khổ chế, giảm thiểu canh thức, chểnh mảng tâm hồn. “Tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26,41). Càng trèo cao càng té nặng. Sự nản chí, phiền muộn, là mặt trái của sự tự cao tự đại. Còn người khiêm tốn không lạ gì về sự khốn khổ của mình, chính điều đó khiến họ càng phó thác hơn, và kiên trì đứng vững.

Another temptation, to which presumption opens the gate, is acedia. the spiritual writers understand by this a form of depression due to lax ascetical practice, decreasing vigilance, carelessness of heart. "The spirit indeed is willing, but the flesh is weak." The greater the height, the harder the fall. Painful as discouragement is, it is the reverse of presumption. the humble are not surprised by their distress; it leads them to trust more, to hold fast in constancy.

2734

Lòng tin tưởng của người con hiếu thảo bị thử thách - và được chứng thực - khi gặp gian truân. Khó khăn lớn nhất liên quan đến việc cầu xin, cho bản thân hay cho kẻ khác. Có người thôi không cầu nguyện nữa, vì nghĩ rằng lời xin của mình không được nhậm lời. Ở đây, có hai vấn nạn được đặt ra: Tại sao chúng ta nghĩ rằng lời cầu xin của chúng ta không được nhậm lời? Làm thế nào để lời cầu xin của chúng ta được nhậm lời, “mang lại hiệu quả”?

Filial trust is tested - it proves itself - in tribulation. The principal difficulty concerns the prayer of petition, for oneself or for others in intercession. Some even stop praying because they think their petition is not heard. Here two questions should be asked: Why do we think our petition has not been heard? How is our prayer heard, how is it "efficacious"? Why do we complain of not being heard?

2735

Trước hết, có một nhận xét này đáng làm chúng ta ngạc nhiên. Khi ngợi khen Thiên Chúa hay tạ ơn Ngài vì các ơn lành Ngài ban, chúng ta ít lo tìm hiểu xem lời cầu nguyện của chúng ta có đẹp lòng Chúa hay không. Trái lại, khi cầu nguyện xin ơn, chúng ta đòi thấy hiệu quả của lời cầu xin đó. Vậy hình ảnh nào về Thiên Chúa thúc đẩy chúng ta cầu nguyện? Một phương tiện để chúng ta sử dụng, hoặc Đấng là Cha của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta?

In the first place, we ought to be astonished by this fact: when we praise God or give him thanks for his benefits in general, we are not particularly concerned whether or not our prayer is acceptable to him. On the other hand, we demand to see the results of our petitions. What is the image of God that motivates our prayer: an instrument to be used? or the Father of our Lord Jesus Christ?

2736

Chúng ta có xác tín điều này không: “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải” (Rm 8,26)? Chúng ta có xin Thiên Chúa “những điều thích hợp” không? Cha trên trời biết rõ điều chúng ta cần, trước khi chúng ta xin Ngài; nhưng Ngài chờ đợi lời cầu xin của chúng ta bởi vì phẩm giá của con cái Ngài là ở nơi sự tự do của họ. Vì vậy, phải cầu nguyện, với Thần Khí tự do của Ngài, để chúng ta có thể thật sự biết được ước muốn của Ngài.

Are we convinced that "we do not know how to pray as we ought"? Are we asking God for "what is good for us"? Our Father knows what we need before we ask him, but he awaits our petition because the dignity of his children lies in their freedom. We must pray, then, with his Spirit of freedom, to be able truly to know what he wants.

2737

“Anh em không có là vì anh em không xin. Anh em xin mà không được là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc” (Gc 4,2-3). Nếu chúng ta cầu xin với một trái tim bị chia sẻ, “ngoại tình”, thì Thiên Chúa không thể nhậm lời chúng ta, bởi vì Ngài muốn điều tốt lành cho chúng ta, muốn chúng ta được sống. “Hay anh em nghĩ rằng lời Kinh Thánh sau đây là vô nghĩa: Thần khí mà Thiên Chúa đã đặt trong chúng ta ước muốn đến phát ghen lên?” (Gc 4,5). Thiên Chúa “phát ghen” vì chúng ta, đó là dấu chỉ cho thấy Ngài thật lòng yêu thương chúng ta. Chúng ta hãy ước muốn theo Thần Khí của Ngài và chúng ta sẽ được nhậm lời: “Bạn đừng buồn nếu bạn không được Thiên Chúa ban ngay điều bạn xin; vì Ngài muốn cho bạn được nhiều ích lợi hơn nữa, nhờ bạn kiên trì trong cầu nguyện.” “Ngài muốn tôi luyện những ước muốn của chúng ta trong cầu nguyện, để chúng ta có khả năng đón nhận những gì Ngài sẵn lòng ban.”

"You ask and do not receive, because you ask wrongly, to spend it on your passions." If we ask with a divided heart, we are "adulterers"; God cannot answer us, for he desires our well-being, our life. "Or do you suppose that it is in vain that the scripture says, 'He yearns jealously over the spirit which he has made to dwell in us?'" That our God is "jealous" for us is the sign of how true his love is. If we enter into the desire of his Spirit, we shall be heard.

2738

Mặc khải về cầu nguyện trong nhiệm cục cứu độ dạy chúng ta rằng đức tin dựa trên hành động của Thiên Chúa trong lịch sử. Lòng tin tưởng của người con hiếu thảo được khơi dậy cách tuyệt vời bằng hành động của Ngài: bằng cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Con Ngài. Việc cầu nguyện Kitô Giáo là sự cộng tác với sự quan phòng của Ngài, với ý định yêu thương của Ngài đối với nhân loại.

The revelation of prayer in the economy of salvation teaches us that faith rests on God's action in history. Our filial trust is enkindled by his supreme act: the Passion and Resurrection of his Son. Christian prayer is cooperation with his providence, his plan of love for men.

2739

Theo thánh Phaolô, lòng tin tưởng này là bạo dạn, vì đặt nền tảng trên lời cầu nguyện của Thần Khí trong chúng ta và trên tình yêu trung tín của Chúa Cha, Đấng đã ban cho chúng ta Con Một Ngài. Sự biến đổi tâm hồn của người cầu nguyện là lời đáp đầu tiên cho lời cầu xin của chúng ta.

For St. Paul, this trust is bold, founded on the prayer of the Spirit in us and on the faithful love of the Father who has given us his only Son. Transformation of the praying heart is the first response to our petition.

2740

Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu làm cho lời cầu nguyện Kitô Giáo trở thành lời cầu xin hữu hiệu. Người là mẫu gương cho chúng ta; Người cầu nguyện trong chúng ta và cùng với chúng ta. Bởi vì tâm hồn của Chúa Con không tìm điều gì khác ngoài điều làm đẹp lòng Chúa Cha, thì làm sao tâm hồn các nghĩa tử lại chỉ gắn bó với các hồng ân hơn là với Đấng ban hồng ân?

The prayer of Jesus makes Christian prayer an efficacious petition. He is its model, he prays in us and with us. Since the heart of the Son seeks only what pleases the Father, how could the prayer of the children of adoption be centered on the gifts rather than the Giver?

2741

Chúa Giêsu còn đứng vào vị trí của chúng ta để cầu nguyện cho chúng ta. Mọi lời cầu xin của chúng ta đều được thâu tóm lại, một lần cho mãi mãi, trong tiếng kêu lớn của Người trên Thập Giá và đã được Chúa Cha nhậm lời trong cuộc Phục sinh của Người; và do đó, Người không ngừng chuyển cầu cho chúng ta bên Chúa Cha. Nếu lời cầu nguyện của chúng ta được nối kết chặt chẽ với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong lòng tín thác và sự bạo dạn của người con hiếu thảo, thì chúng ta sẽ nhận được tất cả những gì chúng ta cầu xin nhân danh Người, nhiều hơn hẳn ơn nọ ơn kia: đó là chính Chúa Thánh Thần, Đấng gồm tóm mọi hồng ân.

Jesus also prays for us - in our place and on our behalf. All our petitions were gathered up, once for all, in his cry on the Cross and, in his Resurrection, heard by the Father. This is why he never ceases to intercede for us with the Father. If our prayer is resolutely united with that of Jesus, in trust and boldness as children, we obtain all that we ask in his name, even more than any particular thing: the Holy Spirit himself, who contains all gifts.

2742

“Hãy cầu nguyện không ngừng” (1 Tx 5,17). “Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha” (Ep 5,20). “Theo Thần Khí hướng dẫn, anh em hãy dùng mọi lời kinh và mọi tiếng van nài mà cầu nguyện luôn mãi... Anh em hãy chuyên cần tỉnh thức và cầu xin cho toàn thể dân thánh” (Ep 6,18). “Chúng ta không được truyền dạy là phải luôn lao động, canh thức, giữ chay; nhưng chúng ta có luật là phải cầu nguyện không ngừng.” Nhiệt tình cầu nguyện liên lỉ chỉ có thể phát xuất từ tình yêu. Chống lại sự nặng nề và tính ươn lười của chúng ta, cuộc chiến đấu của việc cầu nguyện là cuộc chiến đấu của tình yêu khiêm nhường, tin tưởng và kiên trì. Tình yêu này mở tâm hồn chúng ta ra trước ba điều hiển nhiên, sáng tỏ và có sức sống của đức tin:

"Pray constantly . . . always and for everything giving thanks in the name of our Lord Jesus Christ to God the Father." St. Paul adds, "Pray at all times in the Spirit, with all prayer and supplication. To that end keep alert with all perseverance making supplication for all the saints." For "we have not been commanded to work, to keep watch and to fast constantly, but it has been laid down that we are to pray without ceasing." This tireless fervor can come only from love. Against our dullness and laziness, the battle of prayer is that of humble, trusting, and persevering love. This love opens our hearts to three enlightening and life-giving facts of faith about prayer.

2743

Lúc nào chúng ta cũng có thể cầu nguyện: thời gian của Kitô hữu là thời gian của Đức Kitô phục sinh, Đấng đang ở với chúng ta “mọi ngày” (Mt 28,20), cho dù có phong ba bão tố. Thời giờ của chúng ta ở trong tay Thiên Chúa: “Một người ngay khi đang ở giữa chợ hay đi đường, vẫn có thể chăm chú cầu nguyện; tương tự như thế, người khác đang làm việc trong xưởng thợ hay đang thuộc da vẫn có thể hướng tâm hồn lên Thiên Chúa; một người giúp việc đang đi mua sắm, hoặc tất tả ngược xuôi hoặc làm việc trong nhà bếp... vẫn có thể thốt lên lời cầu nguyện sốt sắng tự đáy lòng.”

It is always possible to pray: the time of the Christian is that of the risen Christ who is with us always, no matter what tempests may arise. Our time is in the hands of God:

2744

Cầu nguyện là một nhu cầu sống còn. Kiểu nói đối nghịch không kém phần thuyết phục là: nếu không để Thần Khí hướng dẫn, chúng ta sẽ lại rơi vào ách nô lệ của tội lỗi. Làm thế nào Thần Khí có thể trở thành “sự sống của chúng ta”, nếu lòng chúng ta xa cách Ngài? “Không có gì sánh được với cầu nguyện: rõ ràng cầu nguyện là điều làm cho những cái không thể thành cái có thể, những điều khó thành điều dễ... Không thể nào... người cầu nguyện... lại phải sa vào tội lỗi bao giờ.” “Ai cầu nguyện chắc chắn sẽ được cứu độ; ai không cầu nguyện, chắc chắn sẽ bị án phạt.”

Prayer is a vital necessity. Proof from the contrary is no less convincing: if we do not allow the Spirit to lead us, we fall back into the slavery of sin. How can the Holy Spirit be our life if our heart is far from him?

2745

Cầu nguyện và đời sống Kitô hữu không thể tách biệt nhau bởi vì do cùng một tình yêu và cùng một sự từ bỏ vì tình yêu. Do cùng một sự hòa hợp đầy yêu mến của người con hiếu thảo với kế hoạch của Chúa Cha. Do cùng một sự hợp nhất có sức biến đổi trong Chúa Thánh Thần, Đấng làm chúng ta nên giống Đức Kitô Giêsu mỗi ngày một hơn. Do cùng một tình yêu đối với mọi người, là chính tình yêu Chúa Giêsu đã yêu mến chúng ta. “Tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy thì Ngài ban cho anh em. Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15,16-17). “Ai cầu nguyện không ngừng, là người biết liên kết việc cầu nguyện với những công việc phải làm, và liên kết những hành động thích hợp với việc cầu nguyện; vì chưng, chỉ có cách đó, chúng ta mới có thể đón nhận và thực hiện được mệnh lệnh ‘hãy cầu nguyện không ngừng”’.

Prayer and Christian life are inseparable, for they concern the same love and the same renunciation, proceeding from love; the same filial and loving conformity with the Father's plan of love; the same transforming union in the Holy Spirit who conforms us more and more to Christ Jesus; the same love for all men, the love with which Jesus has loved us. "Whatever you ask the Father in my name, he [will] give it to you. This I command you, to love one another."