Hỏi Đáp Công Giáo
Kinh Nguyện Kitô Giáo · Lời kinh của Chúa: Kinh Lạy Cha · “Bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng”
MỤC 3

Bảy lời cầu xin

Số 2803–2854
2803

Sau khi chúng ta đến trước Thiên Chúa là Cha để thờ lạy, yêu mến và chúc tụng Ngài, Thần Khí nghĩa tử khơi lên trong lòng chúng ta bảy lời cầu xin, bảy lời chúc tụng. Ba lời đầu tiên, mang tính đối thần, hướng chúng ta lên vinh quang của Chúa Cha. Bốn lời sau, như những con đường đến với Thiên Chúa, phó dâng sự khốn cùng của chúng ta cho ân sủng của Ngài. “Kìa vực thẳm kêu gào vực thẳm” (Tv 42,8-10).

After we have placed ourselves in the presence of God our Father to adore and to love and to bless him, the Spirit of adoption stirs up in our hearts seven petitions, seven blessings. the first three, more theological, draw us toward the glory of the Father; the last four, as ways toward him, commend our wretchedness to his grace. "Deep calls to deep."

2804

Ba lời nguyện đầu tiên hướng chúng ta lên Thiên Chúa, cầu xin những điều thuộc về Ngài: Danh Cha, Nước Cha, Ý Cha. Đặc tính của tình yêu là trước tiên nghĩ đến người mình yêu. Trong mỗi lời cầu xin của ba lời nguyện này, chúng ta không nói gì đến “chúng con”, nhưng để cho mình bị lôi cuốn bởi “lòng khao khát nồng nhiệt”, bởi “sự lo lắng” của Người Con yêu dấu đối với vinh quang của Cha Người. “Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện...”: Ba lời khẩn nguyện này đã được nhậm lời trong hy tế của Đức Kitô, Đấng cứu độ; nhưng sau đó, những lời nguyện này hướng đến hy vọng vào thành tựu chung cuộc, bao lâu Thiên Chúa chưa có toàn quyền trên muôn loài.

The first series of petitions carries us toward him, for his own sake: thy name, thy kingdom, thy will! It is characteristic of love to think first of the one whom we love. In none of the three petitions do we mention ourselves; the burning desire, even anguish, of the beloved Son for his Father's glory seizes us: "hallowed be thy name, thy kingdom come, thy will be done...." These three supplications were already answered in the saving sacrifice of Christ, but they are henceforth directed in hope toward their final fulfillment, for God is not yet all in all.

2805

Các lời cầu xin sau theo tiến trình của một số kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis) trong thánh lễ: dâng lên những mong đợi của chúng ta và xin Cha nhân hậu đoái nhìn. Các lời nguyện này phát xuất từ chúng ta và liên quan đến chúng ta, hiện nay trong cõi đời này: “Xin Cha cho chúng con..., và tha nợ chúng con..., xin chớ để chúng con..., nhưng cứu chúng con...” Lời cầu xin thứ tư và thứ năm liên quan đến cuộc sống chúng ta, hoặc là cần được nuôi dưỡng, hoặc là cần được chữa lành khỏi tội lỗi. Hai lời cầu xin cuối cùng liên quan đến cuộc chiến đấu nhắm sự sống được vinh thắng, tức là cuộc chiến đấu của chính việc cầu nguyện.

The second series of petitions unfolds with the same movement as certain Eucharistic epicleses: as an offering up of our expectations, that draws down upon itself the eyes of the Father of mercies. They go up from us and concern us from this very moment, in our present world: "give us . . . forgive us . . . lead us not ... deliver us...." the fourth and fifth petitions concern our life as such - to be fed and to be healed of sin; the last two concern our battle for the victory of life - that battle of prayer.

2806

Nhờ ba lời cầu xin đầu tiên, chúng ta được củng cố trong đức tin, tràn đầy đức cậy và sốt sắng nhờ đức mến. Là thụ tạo và còn là tội nhân, chúng ta phải cầu xin cho chúng ta, từ ngữ “chúng ta” này mang chiều kích cả trần gian và lịch sử, chúng ta dâng cái “chúng ta” đó cho tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Vì nhờ Danh Đức Kitô của Ngài và Vương quốc của Thần Khí Ngài, mà Cha chúng ta hoàn thành kế hoạch cứu độ của Ngài, cho chúng ta và cho cả trần gian.

By the three first petitions, we are strengthened in faith, filled with hope, and set aflame by charity. Being creatures and still sinners, we have to petition for us, for that "us" bound by the world and history, which we offer to the boundless love of God. For through the name of his Christ and the reign of his Holy Spirit, our Father accomplishes his plan of salvation, for us and for the whole world.

2807

Thuật ngữ “thánh hóa” ở đây không mang ý nghĩa nguyên nhân (chỉ có Thiên Chúa thánh hóa, làm cho nên thánh), nhưng chủ yếu có ý nghĩa trân trọng: nhận biết như thánh thiện, hay xử sự một cách thánh thiện. Vì thế, trong tâm tình thờ lạy, lời kêu cầu này đôi khi được hiểu như một lời ca ngợi và tạ ơn. Nhưng Chúa Giêsu đã dạy chúng ta lời cầu xin này dưới hình thức ước nguyện: cầu xin, ước muốn và mong đợi, liên hệ đến cả Thiên Chúa cả con người. Ngay từ lời cầu xin đầu tiên của kinh Lạy Cha, chúng ta đã được lôi cuốn vào mầu nhiệm nội tại của Thiên Chúa và thảm trạng của công trình cứu độ nhân loại. Nguyện cho “Danh Cha cả sáng” đưa chúng ta vào “kế hoạch yêu thương Ngài đã định từ trước” (Ep 1,9), “để trước thánh nhan Ngài, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Ngài” (Ep 1,4).

The term "to hallow" is to be understood here not primarily in its causative sense (only God hallows, makes holy), but above all in an evaluative sense: to recognize as holy, to treat in a holy way. and so, in adoration, this invocation is sometimes understood as praise and thanksgiving. But this petition is here taught to us by Jesus as an optative: a petition, a desire, and an expectation in which God and man are involved. Beginning with this first petition to our Father, we are immersed in the innermost mystery of his Godhead and the drama of the salvation of our humanity. Asking the Father that his name be made holy draws us into his plan of loving kindness for the fullness of time, "according to his purpose which he set forth in Christ," that we might "be holy and blameless before him in love."

2808

Thiên Chúa mặc khải Danh Ngài trong những thời điểm quyết định của nhiệm cục cứu độ, nhưng Ngài mặc khải Danh đó bằng cách thực hiện công trình của Ngài. Mà công trình này chỉ được thành tựu cho chúng ta và trong chúng ta, nếu Danh Ngài được thánh hóa nơi chúng ta và trong chúng ta.

In the decisive moments of his economy God reveals his name, but he does so by accomplishing his work. This work, then, is realized for us and in us only if his name is hallowed by us and in us.

2809

Sự thánh thiện của Thiên Chúa là trung tâm siêu phàm của mầu nhiệm vĩnh cửu của Ngài. Những gì về Ngài được tỏ hiện trong công trình tạo dựng và trong lịch sử, được Sách Thánh gọi là vinh quang, là vẻ rạng ngời của uy linh Ngài. Khi tạo dựng nhân loại “theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài” (St 1,26), Thiên Chúa trao triều thiên vinh quang cho con người, nhưng khi họ phạm tội, họ “bị tước mất vinh quang Thiên Chúa.” Từ đó, Thiên Chúa tỏ hiện sự thánh thiện của Ngài bằng cách mặc khải và ban tặng Danh Ngài cho con người, để phục hồi họ “theo hình ảnh của Ngài, Đấng đã tạo dựng nên họ” (Cl 3,10).

The holiness of God is the inaccessible center of his eternal mystery. What is revealed of it in creation and history, Scripture calls "glory," the radiance of his majesty. In making man in his image and likeness, God "crowned him with glory and honor," but by sinning, man fell "short of the glory of God." From that time on, God was to manifest his holiness by revealing and giving his name, in order to restore man to the image of his Creator.

2810

Trong lời hứa với tổ phụ Ápraham và lời thề kèm theo, chính Thiên Chúa nhập cuộc, nhưng không bộc lộ Danh Ngài. Ngài bắt đầu mặc khải Danh Ngài cho ông Môsê và biểu lộ Danh Ngài trước mắt toàn dân, khi Ngài cứu họ khỏi Ai Cập: “Chúa là Đấng cao cả uy hùng” (Xh 15,1). Kể từ Giao ước Xinai, dân này là “của Ngài” và họ phải là một “dân thánh” (tiếng Do Thái còn có nghĩa là “dân được hiến thánh”), bởi vì Danh Thiên Chúa cư ngụ nơi họ.

In the promise to Abraham and the oath that accompanied it, God commits himself but without disclosing his name. He begins to reveal it to Moses and makes it known clearly before the eyes of the whole people when he saves them from the Egyptians: "he has triumphed gloriously." From the covenant of Sinai onwards, this people is "his own" and it is to be a "holy (or "consecrated": the same word is used for both in Hebrew) nation," because the name of God dwells in it.

2811

Tuy vậy, bất chấp Lề Luật thánh mà Thiên Chúa chí thánh ban và tái ban cho dân, và mặc dù Chúa, “vì Danh thánh của Ngài”, luôn kiên nhẫn, nhưng dân vẫn quay lưng lại với Đấng Thánh của Ítraen và “tục hóa Danh thánh Ngài giữa chư dân.” Chính vì vậy, những người công chính trong Cựu Ước, những người nghèo, trở về từ cuộc lưu đày, và các tiên tri luôn cháy lửa nhiệt thành với Danh Ngài.

In spite of the holy Law that again and again their Holy God gives them - "You shall be holy, for I the LORD your God am holy" - and although the Lord shows patience for the sake of his name, the people turn away from the Holy One of Israel and profane his name among the nations. For this reason the just ones of the old covenant, the poor survivors returned from exile, and the prophets burned with passion for the name.

2812

Sau cùng, Danh của Thiên Chúa chí thánh được mặc khải và được ban tặng cho chúng ta trong Chúa Giêsu, trong xác thể, với tư cách là Đấng Cứu Độ: Danh Thiên Chúa được mặc khải bằng điều “Người Là”, bằng lời Người và bằng hy lễ của Người. Đó là trung tâm của lời nguyện tư tế của Người: Lạy Cha chí thánh, “vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến” (Ga 17,19). Bởi vì Chúa Giêsu đã “thánh hiến” Danh của Người, nên Người “biểu lộ” cho chúng ta Danh của Chúa Cha. Lúc Người hoàn tất cuộc Vượt Qua, Chúa Cha ban cho Người một Danh vượt trên mọi danh: Đức Giêsu là Chúa để tôn vinh Thiên Chúa Cha.

Finally, in Jesus the name of the Holy God is revealed and given to us, in the flesh, as Savior, revealed by what he is, by his word, and by his sacrifice. This is the heart of his priestly prayer: "Holy Father . . . for their sake I consecrate myself, that they also may be consecrated in truth." Because he "sanctifies" his own name, Jesus reveals to us the name of the Father. At the end of Christ's Passover, the Father gives him the name that is above all names: "Jesus Christ is Lord, to the glory of God the Father."

2813

Trong nước Rửa Tội, chúng ta đã “được tẩy rửa, được thánh hóa, được nên công chính nhờ danh Chúa Giêsu Kitô và nhờ Thần Khí của Thiên Chúa chúng ta” (1 Cr 6,11). Chúa Cha gọi chúng ta trong suốt cuộc đời để “sống thánh thiện” (1 Tx 4,7), và bởi vì nhờ Thiên Chúa mà chúng ta được hiện hữu trong Đức Kitô Giêsu, “Đấng đã thánh hóa chúng ta” (1 Cr 1,30), nên vinh quang của Ngài và cuộc đời chúng ta đều tùy thuộc vào điều này, là Danh Ngài được thánh hóa trong chúng ta và bởi chúng ta. Lời cầu xin đầu tiên của chúng ta thúc bách như vậy. “Thiên Chúa là Đấng Thánh Hóa, thì ai có thể thánh hóa Thiên Chúa? Nhưng bởi vì Ngài dạy: ‘Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh’ (Lv 11,44), nên chúng ta cầu xin, để một khi đã được thánh hóa nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta được kiên trì trong tình trạng chúng ta đã khởi đầu. Hằng ngày chúng ta phải cầu xin điều đó. Quả thật, ơn thánh hóa hằng ngày là cần thiết cho chúng ta, vì ngày nào chúng ta cũng phạm lỗi nên phải thanh tẩy không ngừng nhờ ơn thánh hóa... Chúng ta phải cầu nguyện để ơn thánh hóa này luôn tồn tại trong chúng ta.”

In the waters of Baptism, we have been "washed . . . sanctified . . . justified in the name of the Lord Jesus Christ and in the Spirit of our God." Our Father calls us to holiness in the whole of our life, and since "he is the source of (our) life in Christ Jesus, who became for us wisdom from God, and . . .sanctification," both his glory and our life depend on the hallowing of his name in us and by us. Such is the urgency of our first petition.

2814

Có một liên hệ không thể tách rời giữa đời sống và kinh nguyện của chúng ta, để Danh Ngài được thánh hóa giữa chư dân: “Chúng ta cầu xin Thiên Chúa thánh hóa Danh Ngài, nghĩa là Ngài cứu độ và thánh hóa toàn thể tạo vật bằng sự thánh thiện của Ngài. Danh đó là Danh ban ơn cứu độ cho trần gian đã hư mất. Nhưng chúng ta cầu xin để Danh Thiên Chúa được thánh hóa trong chúng ta bằng hành động của chúng ta. Bởi vì nếu chúng ta sống tốt lành, thì Danh Thiên Chúa được chúc tụng; nếu chúng ta sống tệ hại, thì Danh Ngài bị phỉ báng. Hãy nghe lời thánh Tông Đồ: ‘Chính vì các người mà danh Thiên Chúa bị phỉ báng giữa chư dân’ (Rm 2,24). Vì vậy, chúng ta cầu xin để Danh Thiên Chúa là thánh bao nhiêu, thì chúng ta sống xứng đáng với sự thánh thiện của Ngài bấy nhiêu.” “Khi chúng ta nguyện rằng: ‘Chúng con nguyện Danh Cha cả sáng’, chúng ta cầu xin cho Danh Ngài được thánh hóa trong chúng ta, là những kẻ thuộc về Ngài, cũng như trong mọi kẻ khác, là những người mà ơn thánh Chúa còn đang chờ đợi; do đó, chúng ta sẵn sàng tuân mệnh lệnh hãy cầu nguyện cho tất cả mọi người, kể cả kẻ thù nữa. Đó là lý do chúng ta không minh nhiên đọc: xin cho Danh Cha được thánh hóa ‘ở nơi chúng con’, bởi vì chúng ta muốn cho Danh Cha được thánh hóa ‘ở nơi tất cả mọi người’.”

The sanctification of his name among the nations depends inseparably on our life and our prayer:

2815

Lời nguyện đầu tiên này bao gồm tất cả các lời cầu xin khác, được đoái nhận nhờ lời cầu nguyện của Chúa Kitô, cũng như sáu lời cầu xin tiếp theo. Lời kinh dâng lên Chúa Cha là lời cầu nguyện của chúng ta, nếu được cầu nguyện nhân danh Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã cầu xin trong lời nguyện tư tế của Người: “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ trong Danh Cha những người mà Cha đã ban cho con” (Ga 17,11).

This petition embodies all the others. Like the six petitions that follow, it is fulfilled by the prayer of Christ. Prayer to our Father is our prayer, if it is prayed in the name of Jesus. In his priestly prayer, Jesus asks: "Holy Father, protect in your name those whom you have given me."

2816

Trong Tân Ước, cùng một từ Basileia có thể dịch là “vương quyền” (danh từ trừu tượng), “nước” (danh từ cụ thể) hay “vương triều” (danh từ chỉ việc cai trị). Nước Thiên Chúa đang ở trước chúng ta. Nước đó đã gần đến trong Ngôi Lời nhập thể, đã được loan báo trong toàn bộ Tin Mừng, và đã đến trong sự chết và sống lại của Đức Kitô. Nước Thiên Chúa đến từ bữa Tiệc Ly và trong bí tích Thánh Thể, Nước đó đang ở giữa chúng ta. Nước đó sẽ đến trong vinh quang, khi Đức Kitô trao nó lại cho Cha Người: “Có thể nói, Nước Thiên Chúa là chính Đức Kitô, Đấng chúng ta hằng ngày khát khao Người đến, và chúng ta mong mỏi việc Người ngự đến mau mau được tỏ hiện cho chúng ta. Đàng khác, cũng như Người là sự phục sinh bởi vì chúng ta được sống lại trong Người, thì cũng vậy, Người có thể được hiểu là Nước Thiên Chúa bởi vì chúng ta sẽ được hiển trị trong Người.”

In the New Testament, the word basileia can be translated by "kingship" (abstract noun), "kingdom" (concrete noun) or "reign" (action noun). the Kingdom of God lies ahead of us. It is brought near in the Word incarnate, it is proclaimed throughout the whole Gospel, and it has come in Christ's death and Resurrection. the Kingdom of God has been coming since the Last Supper and, in the Eucharist, it is in our midst. the kingdom will come in glory when Christ hands it over to his Father:

2817

Lời cầu xin này là lời “Marana tha”, là tiếng kêu cầu của Thần Khí và Hiền Thê: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến”: “Giả như lời cầu xin này không đòi buộc phải van xin Nước Chúa mau đến đi nữa, thì chúng ta cũng bị thúc giục kêu gào điều đó vì muốn ôm lấy niềm hy vọng của chúng ta. Linh hồn các vị tử đạo nằm dưới bàn thờ lớn tiếng kêu lên Chúa: ‘Lạy Chúa, cho đến bao giờ Ngài còn trì hoãn, không xét xử và không bắt những người sống trên mặt đất phải đền nợ máu chúng con?’ (Kh 6,10). Chắc chắn các ngài sẽ được xét xử công bằng vào ngày tận thế. Lạy Chúa, nguyện Nước Chúa mau đến.”

This petition is "Marana tha," the cry of the Spirit and the Bride: "Come, Lord Jesus."

2818

Trong Kinh Lạy Cha, vấn đề chủ yếu là việc Nước Thiên Chúa đến cách chung cuộc lúc Đức Kitô trở lại. Nhưng ước muốn này không làm cho Hội Thánh xao lãng sứ mạng của mình ở trần gian, trái lại càng thúc giục Hội Thánh dấn thân hơn nữa. Vì từ ngày lễ Ngũ Tuần, cuộc Ngự đến của Nước Thiên Chúa là công trình của Thần Khí Chúa, Đấng kiện toàn công trình của Đức Kitô nơi trần gian và hoàn tất công việc thánh hóa.

In the Lord's Prayer, "thy kingdom come" refers primarily to the final coming of the reign of God through Christ's return. But, far from distracting the Church from her mission in this present world, this desire commits her to it all the more strongly. Since Pentecost, the coming of that Reign is the work of the Spirit of the Lord who "complete(s) his work on earth and brings us the fullness of grace."

2819

“Nước Thiên Chúa là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Chúa Thánh Thần” (Rm 14,17). Thời cuối cùng, mà chúng ta đang sống, là thời kỳ tuôn đổ Chúa Thánh Thần. Kể từ đó, cuộc chiến đấu quyết định giữa “xác thịt” và Thần Khí đã khởi đầu: “Chỉ tâm hồn thanh sạch mới có thể tin tưởng nói lên: ‘Nguyện Nước Cha trị đến’. Quả thật, ai nghe lời thánh Phaolô dạy: ‘Vậy tội lỗi đừng có thống trị thân xác phải chết của anh em nữa’ (Rm 6,12), và biết giữ hành động, tư tưởng và lời nói của mình trong sạch, người đó mới có thể thưa với Thiên Chúa: ‘Nguyện Nước Cha trị đến’.”

"The kingdom of God (is) righteousness and peace and joy in the Holy Spirit." The end-time in which we live is the age of the outpouring of the Spirit. Ever since Pentecost, a decisive battle has been joined between "the flesh" and the Spirit.

2820

Trong sự phân định theo Thần Khí, các Kitô hữu phải biết phân biệt giữa sự thăng tiến của Nước Thiên Chúa với sự tiến bộ của văn hóa và xã hội họ đang sống. Sự phân biệt này không phải là tách biệt. Ơn gọi của con người vào sự sống muôn đời không bãi bỏ nhưng củng cố nhiệm vụ của họ là phải sử dụng các năng lực và phương tiện do Đấng Tạo Hóa ban, để phục vụ công lý và hòa bình trên trần gian.

By a discernment according to the Spirit, Christians have to distinguish between the growth of the Reign of God and the progress of the culture and society in which they are involved. This distinction is not a separation. Man's vocation to eternal life does not suppress, but actually reinforces, his duty to put into action in this world the energies and means received from the Creator to serve justice and peace.

2821

Lời cầu xin này được nâng đỡ và đoái nhận trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, vốn hiện diện và hữu hiệu trong bí tích Thánh Thể; lời cầu nguyện này mang lại hoa trái trong đời sống mới theo các mối phúc.

This petition is taken up and granted in the prayer of Jesus which is present and effective in the Eucharist; it bears its fruit in new life in keeping with the Beatitudes.

2822

Ý muốn của Cha chúng ta là “mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,3-4). Ngài “kiên nhẫn... vì Ngài không muốn cho ai phải diệt vong” (2 Pr 3,9). Mệnh lệnh của Ngài, gồm tóm mọi mệnh lệnh khác, và diễn tả tất cả ý muốn của Ngài, là chúng ta hãy yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta.

Our Father "desires all men to be saved and to come to the knowledge of the truth." He "is forbearing toward you, not wishing that any should perish." His commandment is "that you love one another; even as I have loved you, that you also love one another." This commandment summarizes all the others and expresses his entire will.

2823

Thiên Chúa “cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Ngài đã định từ trước... là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô. Cũng trong Đức Kitô, Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Ngài, đã tiền định cho chúng ta đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Ngài” (Ep 1,9-11). Vì thế, chúng ta tha thiết cầu xin để kế hoạch lân tuất này được thực hiện trọn vẹn dưới đất, như đã được thực hiện trên trời.

"He has made known to us the mystery of his will, according to his good pleasure that he set forth in Christ . . . to gather up all things in him, things in heaven and things on earth. In Christ we have also obtained an inheritance, having been destined according to the purpose of him who accomplishes all things according to his counsel and will." We ask insistently for this loving plan to be fully realized on earth as it is already in heaven.

2824

Ý Cha được thực hiện một cách tuyệt hảo và một lần cho mãi mãi, trong Đức Kitô, và qua ý chí nhân loại của Người. Khi vào trần gian, Chúa Giêsu đã nói: “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,7). Chỉ mình Chúa Giêsu mới có thể nói: “Tôi hằng làm những điều đẹp ý Ngài” (Ga 8,29). Khi cầu nguyện trong cơn hấp hối, Người hoàn toàn vâng phục ý Cha: “Xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha” (Lc 22,42). Vì vậy, Chúa Giêsu “đã tự hiến vì tội lỗi chúng ta, theo ý muốn của Thiên Chúa” (Gl 1,4). “Theo ý đó, chúng ta được thánh hóa nhờ Chúa Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế” (Hr 10,10).

In Christ, and through his human will, the will of the Father has been perfectly fulfilled once for all. Jesus said on entering into this world: "Lo, I have come to do your will, O God." Only Jesus can say: "I always do what is pleasing to him." In the prayer of his agony, he consents totally to this will: "not my will, but yours be done." For this reason Jesus "gave himself for our sins to deliver us from the present evil age, according to the will of our God and Father." "and by that will we have been sanctified through the offering of the body of Jesus Christ once for all."

2825

Chúa Giêsu, “dầu là Con Thiên Chúa, đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Hr 5,8), phương chi chúng ta, là những thụ tạo và là tội nhân, đã được nhận làm nghĩa tử trong Người. Chúng ta cầu xin Chúa Cha cho ý muốn của chúng ta được kết hợp với ý muốn của Con Ngài, để chu toàn thánh ý của Cha, là kế hoạch cứu độ hầu cho trần gian được sống. Trong công việc này, chúng ta hoàn toàn bất lực, nhưng nhờ kết hợp với Chúa Giêsu và nhờ quyền năng Thánh Thần của Ngài, chúng ta có thể phó dâng cho Chúa Cha ý muốn của chúng ta và quyết định chọn điều Con Ngài luôn luôn chọn: đó là làm điều đẹp lòng Cha. “Khi gắn bó với Đức Kitô, chúng ta có thể nên một lòng trí với Người, và nhờ đó thực thi ý muốn của Người để, ý Chúa đã nên trọn trên trời thế nào, thì cũng được thể hiện dưới đất như vậy.” “Hãy xem Chúa Giêsu Kitô dạy chúng ta sống khiêm tốn như thế nào, khi Người cho chúng ta thấy rằng nhân đức của chúng ta không chỉ tùy thuộc công sức của mình nhưng còn nhờ ân sủng từ trên cao. Ngoài ra, Người ra lệnh cho mỗi người chúng ta khi cầu nguyện, phải quan tâm đến toàn thế giới. Vì Người không dạy: ‘Xin cho ý Cha thể hiện’ nơi tôi hay nơi anh em, nhưng nói chung là ở mọi nơi ‘dưới đất’, để sai lầm bị loại bỏ và chân lý được gieo trồng, để thói xấu bị hủy diệt, nhân đức được nảy nở, và như vậy, ‘dưới đất’ không còn gì khác với ‘trên trời’ nữa.”

"Although he was a Son, [Jesus] learned obedience through what he suffered." How much more reason have we sinful creatures to learn obedience - we who in him have become children of adoption. We ask our Father to unite our will to his Son's, in order to fulfill his will, his plan of salvation for the life of the world. We are radically incapable of this, but united with Jesus and with the power of his Holy Spirit, we can surrender our will to him and decide to choose what his Son has always chosen: to do what is pleasing to the Father.

2826

Nhờ cầu nguyện, chúng ta có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa, và kiên nhẫn để thi hành ý Ngài. Chúa Giêsu dạy chúng ta vào Nước Trời, không phải bằng lời lẽ, nhưng bằng việc thi hành “ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời” (Mt 7,21).

By prayer we can discern "what is the will of God" and obtain the endurance to do it. Jesus teaches us that one enters the kingdom of heaven not by speaking words, but by doing "the will of my Father in heaven."

2827

“Ai làm theo ý Thiên Chúa, thì Ngài nhậm lời kẻ ấy” (Ga 9,31). Lời cầu nguyện của Hội Thánh đạt được quyền năng như thế là vì được thực hiện trong Danh Thánh của Chúa Giêsu, nhất là trong Thánh Lễ, và nhờ lời chuyển cầu hiệp thông với Mẹ Thiên Chúa, và với toàn thể các Thánh, là những vị “làm đẹp lòng” Chúa, bởi vì các vị đó đã không muốn điều gì khác ngoài thánh ý Ngài: “‘Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời’, chúng ta có thể diễn tả mà không sợ sai như sau: Ý Cha thể hiện trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con thế nào, thì trong Hội Thánh cũng như vậy; như trong Phu Quân đã chu toàn thánh ý của Cha thế nào, thì trong Hiền Thê đã kết ước với Người cũng như vậy.”

"If any one is a worshiper of God and does his will, God listens to him." Such is the power of the Church's prayer in the name of her Lord, above all in the Eucharist. Her prayer is also a communion of intercession with the all-holy Mother of God and all the saints who have been pleasing to the Lord because they willed his will alone:

2828

“Xin Cha cho chúng con”: đẹp thay lòng tin tưởng của con cái trông chờ Cha ban cho mọi sự: “Ngài cho mặt trời của Ngài mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45), Ngài cho tất cả mọi sinh vật “đến bữa cho ăn” (Tv 104,27). Chúa Giêsu dạy chúng ta lời cầu xin này: đây là lời tôn vinh Cha chúng ta, bởi vì lời cầu xin này nhận biết Cha là Đấng quá tốt lành, vượt xa mọi lòng tốt.

"Give us": the trust of children who look to their Father for everything is beautiful. "He makes his sun rise on the evil and on the good, and sends rain on the just and on the unjust." He gives to all the living "their food in due season." Jesus teaches us this petition, because it glorifies our Father by acknowledging how good he is, beyond all goodness.

2829

“Xin Cha cho chúng con” cũng là lời cầu xin trong tinh thần Giao Ước: chúng ta thuộc về Ngài và Ngài thuộc về chúng ta, lo cho chúng ta. Nhưng từ “chúng con” nhận biết Ngài là Cha của mọi người nên chúng ta cầu xin Cha cho mọi người, trong tình liên đới với các nhu cầu và đau khổ của họ.

"Give us" also expresses the covenant. We are his and he is ours, for our sake. But this "us" also recognizes him as the Father of all men and we pray to him for them all, in solidarity with their needs and sufferings.

2830

“Lương thực”: Chúa Cha, Đấng ban sự sống cho chúng ta, không lẽ lại không ban những gì cần thiết cho sự sống, tất cả những điều thiện hảo “thích hợp”, vật chất cũng như tinh thần. Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến lòng tín thác con thảo, cùng cộng tác với sự quan phòng của Cha chúng ta. Ngài không muốn chúng ta làm biếng, nhưng muốn giải phóng chúng ta khỏi mọi lo âu và bận tâm. Đó là sự phó thác hiếu thảo của con cái Thiên Chúa: “Đối với những ai tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, Ngài hứa ban cho họ mọi điều khác. Bởi vì mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa, nên ai có Thiên Chúa thì sẽ không thiếu thốn sự gì, nếu họ không thiếu vắng Thiên Chúa.”

"Our bread": the Father who gives us life cannot not but give us the nourishment life requires - all appropriate goods and blessings, both material and spiritual. In the Sermon on the Mount, Jesus insists on the filial trust that cooperates with our Father's providence. He is not inviting us to idleness, but wants to relieve us from nagging worry and preoccupation. Such is the filial surrender of the children of God:

2831

Nhưng sự tồn tại của những người đang đói cơm bánh cho thấy một chiều sâu khác của lời cầu xin này. Thảm kịch đói khát trên thế giới mời gọi các Kitô hữu đang cầu nguyện trong chân lý, phải có trách nhiệm hữu hiệu đối với các anh em, trong cách hành động cá nhân của họ cũng như trong sự liên đới của họ với gia đình nhân loại. Lời cầu xin này trong kinh Lạy Cha không được tách biệt với các dụ ngôn Anh Lazarô nghèo khó và Cuộc Phán Xét Chung.

But the presence of those who hunger because they lack bread opens up another profound meaning of this petition. the drama of hunger in the world calls Christians who pray sincerely to exercise responsibility toward their brethren, both in their personal behavior and in their solidarity with the human family. This petition of the Lord's Prayer cannot be isolated from the parables of the poor man Lazarus and of the Last Judgment.

2832

Như men trong bột, sự mới mẻ của Nước Chúa phải làm “dậy men” trái đất bằng Thần Khí của Đức Kitô. Điều này phải được tỏ hiện bằng việc thiết lập công bằng trong các tương quan cá nhân và xã hội, kinh tế và quốc tế, mà đừng bao giờ quên rằng không thể có cơ cấu xã hội công bằng nếu không có những con người muốn sống công bằng.

As leaven in the dough, the newness of the kingdom should make the earth "rise" by the Spirit of Christ. This must be shown by the establishment of justice in personal and social, economic and international relations, without ever forgetting that there are no just structures without people who want to be just.

2833

Đối tượng cầu xin là lương thực của “chúng con”: “một” điều cho “tất cả.” Tinh thần khó nghèo theo các mối phúc là nhân đức chia sẻ: nó thúc đẩy thông chia và phân phát những của cải vật chất cũng như tinh thần, không vì cưỡng bách nhưng do tình yêu, ngõ hầu sự dư thừa của người này bù đắp sự túng thiếu của những người khác.

"Our" bread is the "one" loaf for the "many." In the Beatitudes "poverty" is the virtue of sharing: it calls us to communicate and share both material and spiritual goods, not by coercion but out of love, so that the abundance of some may remedy the needs of others.

2834

“Cầu nguyện và làm việc.” “Anh em hãy cầu nguyện như thể tất cả tùy thuộc vào Thiên Chúa, và hãy làm việc như thể tất cả tùy thuộc vào anh em.” Cả khi chúng ta đã hoàn tất công việc của mình, lương thực vẫn là một hồng ân của Cha chúng ta; đẹp thay việc cầu xin Ngài và tạ ơn Ngài về lương thực đó. Đó là ý nghĩa của kinh chúc lành bữa ăn trong gia đình Kitô Giáo.

"Pray and work." "Pray as if everything depended on God and work as if everything depended on you." Even when we have done our work, the food we receive is still a gift from our Father; it is good to ask him for it with thanksgiving, as Christian families do when saying grace at meals.

2835

Lời cầu xin này và trách nhiệm kèm theo, cũng có giá trị đối với một nạn đói khác khiến cho con người phải diệt vong: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4,4), nghĩa là nhờ Lời và Thần Khí của Thiên Chúa. Các Kitô hữu phải vận dụng mọi nỗ lực của mình để “những người nghèo khó được loan báo Tin Mừng.” Trên trái đất còn những người đói khát, “không phải đói bánh ăn, cũng không phải khát nước uống, mà là đói khát được nghe Lời Chúa” (Am 8,11). Vì thế, ý nghĩa đặc thù Kitô Giáo của lời cầu xin thứ tư này liên quan đến Bánh trường sinh: đó là Lời Chúa được đón nhận trong đức tin, là Mình Thánh Chúa Kitô được lãnh nhận trong bí tích Thánh Thể.

This petition, with the responsibility it involves, also applies to another hunger from which men are perishing: "Man does not live by bread alone, but . . . by every word that proceeds from the mouth of God," that is, by the Word he speaks and the Spirit he breathes forth. Christians must make every effort "to proclaim the good news to the poor." There is a famine on earth, "not a famine of bread, nor a thirst for water, but of hearing the words of the LORD." For this reason the specifically Christian sense of this fourth petition concerns the Bread of Life: the Word of God accepted in faith, the Body of Christ received in the Eucharist.

2836

“Hôm nay” cũng là kiểu nói biểu lộ sự phó thác. Chúa dạy chúng ta điều này; chứ chúng ta không thể sáng chế ra. Đặc biệt khi nói đến Lời Chúa và Mình Thánh của Con Ngài, từ “hôm nay” không chỉ nói đến hiện tại của thời gian chóng qua, mà còn là ngày “Hôm nay” của Thiên Chúa: “Nếu mỗi ngày bạn lãnh nhận lương thực, thì mỗi ngày đều là ngày hôm nay cho bạn. Nếu Đức Kitô hôm nay là của bạn, thì mỗi ngày Người sống lại cho bạn. Làm sao lại như thế được? ‘Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con’ (Tv 2,7). Vì vậy, Ngày Hôm Nay là khi Đức Kitô sống lại.”

"This day" is also an expression of trust taught us by the Lord, which we would never have presumed to invent. Since it refers above all to his Word and to the Body of his Son, this "today" is not only that of our mortal time, but also the "today" of God.

2837

“Hằng ngày”. Tân Ước không sử dụng từ “hằng ngày” (épiousios) ở chỗ nào khác. Theo nghĩa thời gian, từ này là sự lặp lại từ “hôm nay” theo kiểu sư phạm, để dạy chúng ta phó thác cách triệt để. Theo nghĩa phẩm chất, từ này có nghĩa là điều cần thiết cho sự sống và, hiểu rộng hơn, mọi điều thiện hảo đủ để tồn tại. Theo nghĩa văn tự (épi-ousios: “super-substantiale”, vượt trên điều cốt thiết), từ này trực tiếp nói đến Bánh trường sinh, là Mình Thánh Chúa Kitô, “phương dược trường sinh”, mà nếu không có lương thực này, chúng ta sẽ không có sự sống nơi mình. Sau cùng, kết hợp với điều đã nói trên, ý nghĩa thiên quốc là rõ ràng: “ngày” là ngày của Chúa, ngày của Bàn tiệc Nước Trời, mà bí tích Thánh Thể là một sự tham dự trước, như nếm trước Nước Trời đang đến. Chính vì vậy, phụng vụ Thánh Thể phải được cử hành “hằng ngày.” “Vậy Thánh Thể là lương thực hằng ngày của chúng ta... Đặc tính của lương thực thần thiêng này là sự hợp nhất, để một khi được kết hợp trong Mình Thánh Người, trở nên các chi thể của Người, chúng ta trở thành điều chúng ta lãnh nhận... Và lương thực hằng ngày là khi anh em nghe các bài đọc mỗi ngày ở nhà thờ; lương thực hằng ngày là khi anh em nghe và hát các thánh thi. Bởi vì những điều đó là cần thiết cho cuộc lữ hành của chúng ta.” “Cha trên trời thúc giục chúng ta là, với tư cách là con cái bởi trời, chúng ta hãy cầu xin Bánh bởi trời. Đức Kitô ‘chính Người là tấm bánh được gieo trồng trong lòng Đức Trinh Nữ, dậy men trong xác phàm, làm thành bánh trong cuộc khổ nạn, nấu nướng trong lò huyệt mộ, lưu giữ trong các nhà thờ, được dâng lên trên các bàn thờ, hằng ngày cung cấp lương thực bởi trời cho các tín hữu’.”

"Daily" (epiousios) occurs nowhere else in the New Testament. Taken in a temporal sense, this word is a pedagogical repetition of "this day," to confirm us in trust "without reservation." Taken in the qualitative sense, it signifies what is necessary for life, and more broadly every good thing sufficient for subsistence. Taken literally (epi-ousios: "super-essential"), it refers directly to the Bread of Life, the Body of Christ, the "medicine of immortality," without which we have no life within us. Finally in this connection, its heavenly meaning is evident: "this day" is the Day of the Lord, the day of the feast of the kingdom, anticipated in the Eucharist that is already the foretaste of the kingdom to come. For this reason it is fitting for the Eucharistic liturgy to be celebrated each day.

2838

Lời cầu xin này thật lạ lùng. Nếu chỉ có phần đầu - “xin tha nợ chúng con” -, lời xin này có thể đã tiềm ẩn trong ba lời nguyện đầu của Lời Kinh Chúa dạy, bởi vì hy lễ của Đức Kitô là “để tha thứ tội lỗi.” Tuy nhiên, theo phần hai của câu, lời cầu xin của chúng ta sẽ không được nhậm lời nếu trước đó chúng ta không đáp ứng một đòi buộc của nó. Lời cầu xin của chúng ta hướng đến tương lai; lời đáp ứng của chúng ta phải đi trước; nối kết hai phần của lời cầu xin là từ “như.”

This petition is astonishing. If it consisted only of the first phrase, "and forgive us our trespasses," it might have been included, implicitly, in the first three petitions of the Lord's Prayer, since Christ's sacrifice is "that sins may be forgiven." But, according to the second phrase, our petition will not be heard unless we have first met a strict requirement. Our petition looks to the future, but our response must come first, for the two parts are joined by the single word "as."

2839

Với lòng phó thác bạo dạn, chúng ta đã bắt đầu cầu nguyện với Cha chúng ta. Khi nguyện xin Ngài cho Danh Ngài cả sáng, chúng ta đã xin Ngài luôn thánh hóa chúng ta hơn nữa. Nhưng, dù đã mặc chiếc áo Rửa Tội, chúng ta vẫn không ngừng phạm tội, và quay lưng lại với Thiên Chúa. Giờ đây, trong lời cầu xin mới này, chúng ta trở lại với Ngài, như đứa con hoang đàng, và thú nhận mình là tội nhân trước mặt Ngài, như người thu thuế. Lời cầu xin của chúng ta bắt đầu bằng “việc xưng thú”, qua đó chúng ta vừa thú nhận sự khốn cùng của chúng ta, và đồng thời, vừa tuyên xưng lòng thương xót của Ngài. Niềm hy vọng của chúng ta thật vững chắc, bởi vì, trong Con của Ngài, “chúng ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi” (Cl 1,14). Chúng ta gặp được dấu chỉ hữu hiệu và chắc chắn về ơn tha thứ của Ngài trong các bí tích của Hội Thánh Ngài.

With bold confidence, we began praying to our Father. In begging him that his name be hallowed, we were in fact asking him that we ourselves might be always made more holy. But though we are clothed with the baptismal garment, we do not cease to sin, to turn away from God. Now, in this new petition, we return to him like the prodigal son and, like the tax collector, recognize that we are sinners before him. Our petition begins with a "confession" of our wretchedness and his mercy. Our hope is firm because, in his Son, "we have redemption, the forgiveness of sins." We find the efficacious and undoubted sign of his forgiveness in the sacraments of his Church.

2840

Tuy nhiên, có điều thật đáng sợ, là nguồn ơn thương xót này của Thiên Chúa không thể thấm nhập vào trái tim chúng ta, một khi chúng ta không tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng ta. Tình yêu, cũng như Thân Thể Đức Kitô, không thể phân chia được: chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa mà chúng ta không thấy, nếu chúng ta không yêu mến anh em, chị em mà chúng ta đang thấy. Khi từ chối tha thứ cho anh chị em mình, lòng chúng ta đóng lại và sự chai đá của cõi lòng khiến tình yêu tha thứ của Cha không thể thấm nhập vào được; trong việc xưng thú tội lỗi của mình, lòng chúng ta mới mở ra cho ân sủng của Ngài.

Now - and this is daunting - this outpouring of mercy cannot penetrate our hearts as long as we have not forgiven those who have trespassed against us. Love, like the Body of Christ, is indivisible; we cannot love the God we cannot see if we do not love the brother or sister we do see. In refusing to forgive our brothers and sisters, our hearts are closed and their hardness makes them impervious to the Father's merciful love; but in confessing our sins, our hearts are opened to his grace.

2841

Lời cầu xin này hết sức quan trọng, đến nỗi đây là lời cầu xin duy nhất mà Chúa phải nhắc lại và triển khai thêm trong Bài giảng trên núi. Con người bất lực trước đòi hỏi quan trọng này của mầu nhiệm giao ước. “Nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được” (Mt 19,26).

This petition is so important that it is the only one to which the Lord returns and which he develops explicitly in the Sermon on the Mount. This crucial requirement of the covenant mystery is impossible for man. But "with God all things are possible." . . . as we forgive those who trespass against us

2842

Từ “như” ở đây không phải là trường hợp duy nhất trong giáo huấn của Chúa Giêsu: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48); “Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36); “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Chúng ta không thể tuân giữ điều răn của Chúa, nếu chỉ bắt chước mẫu gương của Chúa theo dáng vẻ bên ngoài. Vấn đề ở đây là phải tham dự một cách sống động và “tận đáy lòng” vào sự thánh thiện, vào lòng thương xót, vào tình yêu của Thiên Chúa chúng ta. Chỉ có Thần Khí, “nhờ Ngài mà chúng ta sống” (Gl 5,25), mới có thể làm cho chúng ta có được những tâm tình như Đức Kitô Giêsu đã có. Lúc đó hai việc tha thứ có thể trở nên một, nghĩa là, “biết tha thứ cho nhau như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4,32).

This "as" is not unique in Jesus' teaching: "You, therefore, must be perfect, as your heavenly Father is perfect"; "Be merciful, even as your Father is merciful"; "A new commandment I give to you, that you love one another, even as I have loved you, that you also love one another." It is impossible to keep the Lord's commandment by imitating the divine model from outside; there has to be a vital participation, coming from the depths of the heart, in the holiness and the mercy and the love of our God. Only the Spirit by whom we live can make "ours" the same mind that was in Christ Jesus. Then the unity of forgiveness becomes possible and we find ourselves "forgiving one another, as God in Christ forgave" us.

2843

Như thế, những lời Chúa dạy về tha thứ, nghĩa là về thứ tình yêu “yêu đến tận cùng của tình yêu” là một thực tại sống động. Dụ ngôn về người đầy tớ không biết thương xót, kết thúc giáo huấn của Chúa về cộng đoàn giáo hội, được kết thúc bằng lời này: “Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng sẽ đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình.” Thật vậy, ở đó, ở “tận đáy lòng”, mà mọi sự bị cầm buộc hay được tháo cởi. Việc không cảm thấy hay quên đi sự xúc phạm không tùy thuộc khả năng chúng ta; nhưng một khi trái tim biết tự hiến cho Chúa Thánh Thần sẽ biết biến đổi thương đau thành lòng thương xót, và thanh luyện ký ức bằng cách biến đổi sự xúc phạm thành lời chuyển cầu.

Thus the Lord's words on forgiveness, the love that loves to the end, become a living reality. the parable of the merciless servant, which crowns the Lord's teaching on ecclesial communion, ends with these words: "So also my heavenly Father will do to every one of you, if you do not forgive your brother from your heart." It is there, in fact, "in the depths of the heart," that everything is bound and loosed. It is not in our power not to feel or to forget an offense; but the heart that offers itself to the Holy Spirit turns injury into compassion and purifies the memory in transforming the hurt into intercession.

2844

Kinh nguyện Kitô Giáo đi đến chỗ tha thứ cho kẻ thù . Lời cầu nguyện biến đổi người môn đệ bằng cách làm cho họ nên đồng hình đồng dạng với Thầy của mình. Tha thứ là một tột đỉnh của kinh nguyện Kitô Giáo; chỉ trái tim nào hòa điệu với lòng trắc ẩn của Chúa mới có thể đón nhận hồng ân cầu nguyện. Tha thứ còn minh chứng rằng, trong thế giới này, tình yêu mạnh hơn tội lỗi. Các vị tử đạo, trong quá khứ cũng như hiện tại, đều làm chứng cho Chúa Giêsu về điều này. Tha thứ là điều kiện căn bản cho sự hòa giải giữa con cái Thiên Chúa với Cha của họ và giữa con người với nhau.

Christian prayer extends to the forgiveness of enemies, transfiguring the disciple by configuring him to his Master. Forgiveness is a high-point of Christian prayer; only hearts attuned to God's compassion can receive the gift of prayer. Forgiveness also bears witness that, in our world, love is stronger than sin. the martyrs of yesterday and today bear this witness to Jesus. Forgiveness is the fundamental condition of the reconciliation of the children of God with their Father and of men with one another.

2845

Việc tha thứ tự bản chất mang tính thần linh này không có giới hạn cũng như mức độ. Nếu đề cập đến “những xúc phạm” (là “tội” theo Lc 11,4 hoặc “nợ” theo Mt 6,12), thì thật sự mọi người chúng ta luôn luôn là những kẻ mắc nợ: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,8). Sự hiệp thông của Ba Ngôi Chí Thánh là nguồn mạch và quy luật chân lý của bất cứ tương quan nào. Chúng ta phải sống sự hiệp thông đó trong cầu nguyện, đặc biệt là trong bí tích Thánh Thể: “Thiên Chúa không nhận tế phẩm của những kẻ gây bất hòa, và Ngài truyền họ hãy rời bỏ bàn thờ, và đi làm hòa với anh em trước đã, ngõ hầu có thể giao hòa với Thiên Chúa bằng những lời nài xin an bình. Hy lễ đẹp lòng Chúa hơn cả là sự bình an của chúng ta, sự hòa thuận, tình đoàn kết của đoàn dân trong sự hợp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.”

There is no limit or measure to this essentially divine forgiveness, whether one speaks of "sins" as in Luke (⇒ 11:4), "debts" as in Matthew (⇒ 6:12). We are always debtors: "Owe no one anything, except to love one another." The communion of the Holy Trinity is the source and criterion of truth in every relation ship. It is lived out in prayer, above all in the Eucharist.

2846

Lời cầu xin này xuất phát từ điều trước, vì tội lỗi của chúng ta là kết quả của sự ưng theo cám dỗ. Chúng ta xin Cha chúng ta đừng “dẫn” chúng ta vào cơn cám dỗ. Khó mà dịch kiểu nói Hy Lạp bằng một từ: Nó có nghĩa là “đừng cho phép bước vào”, “đừng để chúng con sa chước cám dỗ.” “Thiên Chúa không thể bị cám dỗ làm điều xấu, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai” (Gc 1,13), trái lại, Ngài muốn giải thoát chúng ta khỏi cơn cám dỗ. Chúng ta cầu xin Ngài đừng để ta đi vào con đường dẫn đến tội lỗi. Chúng ta đang ở trong cuộc chiến đấu “giữa xác thịt và Thần Khí.” Lời cầu xin này khẩn cầu Thần Khí cho chúng ta biết phân định và có sức mạnh.

This petition goes to the root of the preceding one, for our sins result from our consenting to temptation; we therefore ask our Father not to "lead" us into temptation. It is difficult to translate the Greek verb used by a single English word: the Greek means both "do not allow us to enter into temptation" and "do not let us yield to temptation." "God cannot be tempted by evil and he himself tempts no one"; on the contrary, he wants to set us free from evil. We ask him not to allow us to take the way that leads to sin. We are engaged in the battle "between flesh and spirit"; this petition implores the Spirit of discernment and strength.

2847

Chúa Thánh Thần giúp chúng ta biết phân định đâu là thử thách, vốn cần thiết để con người nội tâm tăng trưởng và nhằm “thử thách nhân đức”, và đâu là cám dỗ dẫn đến tội lỗi và sự chết. Chúng ta còn phải biết phân định giữa “bị cám dỗ” và “thuận theo” cơn cám dỗ. Cuối cùng, phân định vạch trần sự dối trá của chước cám dỗ: bề ngoài, đối tượng có vẻ “ngon, trông đẹp mắt và đáng quý” (St 3,6), nhưng thật sự, kết quả của nó là sự chết. “Thiên Chúa không muốn áp đặt điều tốt cho ai, nhưng muốn họ tự nguyện... Hơn nữa, cám dỗ cũng có cái lợi. Ngoại trừ Thiên Chúa, không ai biết được những gì tâm hồn chúng ta đã lãnh nhận, kể cả chính chúng ta, những điều đó được bộc lộ ra nhờ các cơn cám dỗ, kẻo chúng ta vẫn không biết mình cách đúng nghĩa, nhưng khi đã biết mình, chúng ta sẽ nhận ra tình trạng tệ hại của mình, và chúng ta phải tạ ơn Chúa vì những ơn lành, được bộc lộ ra cho chúng ta nhờ các cơn cám dỗ.”

The Holy Spirit makes us discern between trials, which are necessary for the growth of the inner man, and temptation, which leads to sin and death. We must also discern between being tempted and consenting to temptation. Finally, discernment unmasks the lie of temptation, whose object appears to be good, a "delight to the eyes" and desirable, when in reality its fruit is death. God does not want to impose the good, but wants free beings.... There is a certain usefulness to temptation. No one but God knows what our soul has received from him, not even we ourselves. But temptation reveals it in order to teach us to know ourselves, and in this way we discover our evil inclinations and are obliged to give thanks for the goods that temptation has revealed to us.

2848

Để khỏi sa chước cám dỗ, cần phải có một sự cương quyết của trái tim. “Kho tàng của anh ở đâu thì lòng anh ở đó... Không ai có thể làm tôi hai chủ” (Mt 6,21.24). “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,25). Trong việc “thuận theo” Chúa Thánh Thần như vậy, Chúa Cha sẽ ban cho chúng ta sức mạnh. “Không một cám dỗ nào đã xảy ra cho anh em mà lại vượt quá sức loài người. Thiên Chúa là Đấng trung tín: Ngài sẽ không để anh em bị cám dỗ quá sức; nhưng khi để anh em bị cám dỗ, Ngài sẽ cho kết thúc tốt đẹp, để anh em có sức chịu đựng” (1 Cr 10,13).

"Lead us not into temptation" implies a decision of the heart: "For where your treasure is, there will your heart be also.... No one can serve two masters." "If we live by the Spirit, let us also walk by the Spirit." In this assent to the Holy Spirit the Father gives us strength. "No testing has overtaken you that is not common to man. God is faithful, and he will not let you be tempted beyond your strength, but with the temptation will also provide the way of escape, so that you may be able to endure it."

2849

Cần phải cầu nguyện thì mới có thể chiến đấu và chiến thắng được. Chính nhờ việc cầu nguyện mà Chúa Giêsu chiến thắng tên Cám dỗ ngay từ buổi đầu, và trong cuộc chiến cuối cùng khi hấp hối. Trong lời cầu xin này dâng lên Chúa Cha, Đức Kitô kết hợp chúng ta vào cuộc chiến đấu và cơn hấp hối của Người. Tâm hồn phải tỉnh thức, hiệp thông với sự tỉnh thức của Người, là điều không ngừng được nhắc đi nhắc lại. Sự tỉnh thức là “kẻ canh giữ trái tim” và Chúa Giêsu xin Cha Người gìn giữ chúng ta trong Danh Cha. Chúa Thánh Thần không ngừng hành động, để giúp chúng ta tỉnh thức. Lời cầu xin này mang đầy ý nghĩa bi thảm khi nghĩ đến cơn cám dỗ cuối cùng của cuộc giao tranh trên đời này; lời cầu xin này xin ơn bền đỗ đến cùng. “Đây, Ta đến như kẻ trộm. Phúc thay kẻ đang canh thức” (Kh 16,15).

Such a battle and such a victory become possible only through prayer. It is by his prayer that Jesus vanquishes the tempter, both at the outset of his public mission and in the ultimate struggle of his agony. In this petition to our heavenly Father, Christ unites us to his battle and his agony. He urges us to vigilance of the heart in communion with his own. Vigilance is "custody of the heart," and Jesus prayed for us to the Father: "Keep them in your name." The Holy Spirit constantly seeks to awaken us to keep watch. Finally, this petition takes on all its dramatic meaning in relation to the last temptation of our earthly battle; it asks for final perseverance. "Lo, I am coming like a thief! Blessed is he who is awake."

2850

Lời cầu xin cuối cùng dâng lên Chúa Cha cũng được bao hàm trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần” (Ga 17,15). Lời cầu xin này liên hệ đến chúng ta, cách riêng đến từng người, nhưng bao giờ cũng là “chúng con” đang cầu nguyện, trong sự hiệp thông với toàn Hội Thánh, để cầu cho toàn thể gia đình nhân loại được giải thoát. Lời Kinh Chúa dạy không ngừng mở ra cho chúng ta các chiều kích của nhiệm cục cứu độ. Việc liên kết của chúng ta với nhau trong thảm trạng tội lỗi và sự chết được biến đổi thành sự liên đới trong Thân Thể Đức Kitô, trong mầu nhiệm “các Thánh thông công.”

The last petition to our Father is also included in Jesus' prayer: "I am not asking you to take them out of the world, but I ask you to protect them from the evil one." It touches each of us personally, but it is always "we" who pray, in communion with the whole Church, for the deliverance of the whole human family. the Lord's Prayer continually opens us to the range of God's economy of salvation. Our interdependence in the drama of sin and death is turned into solidarity in the Body of Christ, the "communion of saints."

2851

Trong lời cầu xin này, Sự Dữ không phải là một điều trừu tượng nào đó, nhưng là một cá vị, là Xatan, là Ác thần, là thiên thần đã chống lại Thiên Chúa. Ma quỷ (tiếng Hy Lạp là Dia-bolos) là “kẻ phá ngang” kế hoạch của Thiên Chúa và “công trình cứu độ” của Ngài được thực hiện trong Đức Kitô.

In this petition, evil is not an abstraction, but refers to a person, Satan, the Evil One, the angel who opposes God. the devil (dia-bolos) is the one who "throws himself across" God's plan and his work of salvation accomplished in Christ.

2852

Ma quỷ “ngay từ đầu đã là tên sát nhân... là kẻ nói dối và là cha sự gian dối” (Ga 8,44), “là Xatan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ” (Kh 12,9). Vì nó mà tội lỗi và sự chết đã xâm nhập trần gian và nhờ nó vĩnh viễn bị đánh bại, mà toàn thể thụ tạo đã “được giải thoát khỏi cảnh hư nát vì tội lỗi và sự chết.” “Chúng ta biết rằng phàm ai đã được Thiên Chúa sinh ra, người đó không phạm tội; nhưng có Đấng Thiên Chúa đã sinh ra giữ gìn người ấy, và Ác thần không đụng đến người ấy được. Chúng ta biết rằng chúng ta thuộc về Thiên Chúa, còn tất cả thế gian đều nằm dưới ách thống trị của Ác thần” (1 Ga 5,18-19): “Chúa quyền năng, Đấng tẩy sạch tội lỗi và tha thứ các lỗi lầm của bạn, Ngài che chở và gìn giữ bạn chống lại các mưu mô của kẻ thù là ma quỷ, để kẻ thù, vốn có thói quen gây nên lầm lỗi, không làm bạn ngạc nhiên. Nhưng ai phó mình cho Thiên Chúa thì không sợ ma quỷ, bởi vì ‘có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?’ (Rm 8,31).”

"A murderer from the beginning, . . . a liar and the father of lies," Satan is "the deceiver of the whole world." Through him sin and death entered the world and by his definitive defeat all creation will be "freed from the corruption of sin and death." Now "we know that anyone born of God does not sin, but He who was born of God keeps him, and the evil one does not touch him. We know that we are of God, and the whole world is in the power of the evil one."

2853

Cuộc chiến thắng trên “thủ lãnh thế gian này” đã hoàn tất, một lần cho mãi mãi, vào Giờ Chúa Giêsu tự nguyện nộp mình chịu chết để ban cho chúng ta sự sống của Người. Đó là lúc phán xét thế gian này và thủ lãnh thế gian này “bị tống ra ngoài.” Hắn “đuổi bắt người Phụ Nữ” (Kh 12,13), nhưng không bắt được Bà; Bà là Evà mới, “đầy ân sủng” của Chúa Thánh Thần, được gìn giữ khỏi tội lỗi và sự hư nát của cái chết (Sự Vô nhiễm nguyên tội và Lên trời của Mẹ rất thánh của Thiên Chúa, Đức Maria trọn đời đồng trinh). “Con Mãng Xà nổi giận với người Phụ Nữ và đi giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà” (Kh 12,17). Vì thế, Thần Khí và Hội Thánh cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,17.20), bởi vì khi Người ngự đến, Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi Ác thần.

Victory over the "prince of this world" was won once for all at the Hour when Jesus freely gave himself up to death to give us his life. This is the judgment of this world, and the prince of this world is "cast out." "He pursued the woman" but had no hold on her: the new Eve, "full of grace" of the Holy Spirit, is preserved from sin and the corruption of death (the Immaculate Conception and the Assumption of the Most Holy Mother of God, Mary, ever virgin). "Then the dragon was angry with the woman, and went off to make war on the rest of her offspring." Therefore the Spirit and the Church pray: "Come, Lord Jesus," since his coming will deliver us from the Evil One.

2854

Khi xin được giải thoát khỏi Ác thần, chúng ta cũng xin được cứu khỏi mọi sự dữ trong hiện tại, quá khứ, và tương lai, do ma quỷ là thủ phạm hay kẻ chủ mưu. Trong lời cầu xin cuối cùng này, Hội Thánh mang đến trước Chúa Cha mọi nỗi khốn cùng của trần gian. Cùng với ơn được giải thoát khỏi mọi sự dữ đang đè nén nhân loại, Hội Thánh nài xin hồng ân quý giá là sự bình an và ơn bền đỗ mong đợi ngày trở lại của Đức Kitô. Khi cầu nguyện như thế, Hội Thánh, trong sự khiêm tốn của đức tin, tiền dự sự quy tụ mọi người và mọi sự trong Đấng nắm “chìa khóa của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1,18), “Đấng hiện có, đã có và đang đến, là Đấng Toàn Năng” (Kh 1,8). “Lạy Chúa, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Nhờ Chúa rộng lòng thương cứu giúp, chúng con sẽ luôn luôn thoát khỏi tội lỗi, và được an toàn khỏi mọi biến loạn, đang khi chúng con mong đợi niềm hy vọng hồng phúc, và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng con.”

When we ask to be delivered from the Evil One, we pray as well to be freed from all evils, present, past, and future, of which he is the author or instigator. In this final petition, the Church brings before the Father all the distress of the world. Along with deliverance from the evils that overwhelm humanity, she implores the precious gift of peace and the grace of perseverance in expectation of Christ's return By praying in this way, she anticipates in humility of faith the gathering together of everyone and everything in him who has "the keys of Death and Hades," who "is and who was and who is to come, the Almighty."