“Có một lần Chúa Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: ‘Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gioan đã dạy môn đệ của ông’” (Lc 11,1). Đáp lại lời xin ấy, Chúa Giêsu trao cho các môn đệ của Người và cho Hội Thánh của Người lời kinh căn bản của Kitô Giáo. Thánh Luca đưa ra bản văn ngắn của lời kinh này (có năm lời cầu xin), còn thánh Mátthêu thì đưa ra bản giải thích nhiều hơn (có bảy lời cầu xin). Truyền thống phụng vụ của Hội Thánh đã giữ bản văn của thánh Mátthêu (Mt 6,9-13): “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con, xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.”
Jesus "was praying at a certain place, and when he ceased, one of his disciples said to him, 'Lord, teach us to pray, as John taught his disciples.'" In response to this request the Lord entrusts to his disciples and to his Church the fundamental Christian prayer. St. Luke presents a brief text of five petitions, while St. Matthew gives a more developed version of seven petitions. The liturgical tradition of the Church has retained St. Matthew's text:
Ngay từ buổi đầu, cách sử dụng của phụng vụ đã kết thúc kinh Lạy Cha bằng một vinh tụng ca. Theo sách Điđakê, vinh tụng ca này là: “Vì uy lực và vinh quang là của Cha đến muôn đời.” Sách Quy chế Tông Đồ còn thêm vào đầu câu: “Vương quyền”; biểu thức này còn được giữ đến ngày nay trong lời cầu nguyện đại kết. Truyền thống Byzantin sau thuật ngữ “vinh quang” lại thêm “của Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” Sách Lễ Rôma khai triển lời xin cuối cùng thành viễn ảnh rõ ràng về sự mong đợi niềm hy vọng hồng phúc và ngày trở lại của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta; sau đó là lời tung hô của cộng đoàn, lấy lại vinh tụng ca của sách Quy chế Tông Đồ.
Very early on, liturgical usage concluded the Lord's Prayer with a doxology. In the Didache, we find, "For yours are the power and the glory for ever." The Apostolic Constitutions add to the beginning: "the kingdom," and this is the formula retained to our day in ecumenical prayer. The Byzantine tradition adds after "the glory" the words "Father, Son, and Holy Spirit." the Roman Missal develops the last petition in the explicit perspective of "awaiting our blessed hope" and of the Second Coming of our Lord Jesus Christ. Then comes the assembly's acclamation or the repetition of the doxology from the Apostolic Constitutions.
“Lời Kinh Chúa dạy quả thật là bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng.” “Sau khi dạy mẫu kinh này, Chúa Giêsu thêm: ‘Cứ xin đi, anh em sẽ được’ (Ga 16,24). Vậy mỗi người có thể dâng lên Chúa những lời kinh khác nhau tùy nhu cầu, nhưng luôn phải bắt đầu bằng kinh nguyện căn bản là Lời Kinh Chúa dạy như là lời kinh nền tảng.”
The Lord's Prayer "is truly the summary of the whole gospel." "Since the Lord . . . after handing over the practice of prayer, said elsewhere, 'Ask and you will receive,' and since everyone has petitions which are peculiar to his circumstances, the regular and appropriate prayer [the Lord's Prayer] is said first, as the foundation of further desires."
Sau khi cho thấy các Thánh vịnh là chất liệu nuôi dưỡng chính yếu của kinh nguyện Kitô Giáo và được quy tụ lại nơi các lời cầu xin trong kinh Lạy Cha như thế nào, thánh Augustinô kết luận: “Bạn hãy rảo qua mọi lời cầu nguyện có trong các Sách Thánh, như tôi thiết nghĩ, bạn sẽ thấy không có điều gì mà Lời Kinh Chúa dạy lại không chứa đựng và bao gồm.”
After showing how the psalms are the principal food of Christian prayer and flow together in the petitions of the Our Father, St. Augustine concludes:
Tất cả sách Cựu Ước (Lề luật, các Tiên tri và các Thánh vịnh) đều được ứng nghiệm nơi Đức Kitô. Tin Mừng chính là “Tin vui mừng” đó. Thánh Mátthêu đã tóm lược việc loan báo đầu tiên của Tin vui mừng đó trong Bài giảng trên núi. Mà lời kinh dâng lên Cha chúng ta nằm ở trung tâm của lời loan báo này. Chính trong bối cảnh đó mà mỗi lời cầu xin trong Lời Kinh Chúa dạy được sáng tỏ: “Lời Kinh Chúa dạy là lời cầu nguyện tuyệt hảo... Nhưng trong Lời kinh đó, không những chúng ta cầu xin những điều chúng ta có thể ước ao cách chính đáng, mà còn theo một trật tự những điều đáng ước ao nữa: như vậy, lời kinh này không những dạy chúng ta cầu xin, mà còn huấn luyện toàn thể tâm tình của chúng ta.”
All the Scriptures - the Law, the Prophets, and the Psalms - are fulfilled in Christ. The Gospel is this "Good News." Its first proclamation is summarized by St. Matthew in the Sermon on the Mount; The prayer to our Father is at the center of this proclamation. It is in this context that each petition bequeathed to us by the Lord is illuminated:
Bài giảng trên núi là giáo huấn để sống, kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện, nhưng trong cả hai, Thần Khí của Chúa đem lại thể thức mới cho những ao ước của chúng ta, cho những biến chuyển nội tâm làm sinh động cuộc đời chúng ta. Chúa Giêsu dùng lời Người dạy chúng ta về cuộc đời mới và dạy chúng ta nài xin cuộc đời mới này bằng cầu nguyện. Sự trung thực của cuộc đời chúng ta trong Người sẽ tùy thuộc vào sự trung thực của lời cầu nguyện của chúng ta.
The Sermon on the Mount is teaching for life, the Our Father is a prayer; but in both the one and the other the Spirit of the Lord gives new form to our desires, those inner movements that animate our lives. Jesus teaches us this new life by his words; he teaches us to ask for it by our prayer. the rightness of our life in him will depend on the rightness of our prayer.
Cách gọi truyền thống “Lời Kinh Chúa dạy” muốn nói rằng kinh nguyện chúng ta dâng lên Cha chúng ta là do Chúa Giêsu chỉ dạy và ban tặng. Lời kinh này, từ Chúa Giêsu đến với chúng ta, quả là độc nhất vô nhị: đó là Lời Kinh “của Chúa.” Một đàng, qua những lời trong kinh này, Con Một Thiên Chúa quả thật ban cho chúng ta những lời mà Chúa Cha đã ban cho Người: Người là Thầy dạy chúng ta cầu nguyện. Đàng khác, là Ngôi Lời nhập thể, nên trong trái tim nhân loại của Người, Người biết rõ nhu cầu của những anh chị em loài người của Người, và Người bày tỏ những nhu cầu đó cho chúng ta: Người là mẫu mực của việc cầu nguyện của chúng ta.
The traditional expression "the Lord's Prayer" - oratio Dominica - means that the prayer to our Father is taught and given to us by the Lord Jesus. the prayer that comes to us from Jesus is truly unique: it is "of the Lord." On the one hand, in the words of this prayer the only Son gives us the words the Father gave him: he is the master of our prayer. On the other, as Word incarnate, he knows in his human heart the needs of his human brothers and sisters and reveals them to us: he is the model of our prayer.
Nhưng Chúa Giêsu không để lại cho chúng ta một công thức được lặp đi lặp lại cách máy móc. Cũng như trong bất cứ lời khẩu nguyện nào, chính nhờ Ngôi Lời Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần dạy cho con cái Thiên Chúa biết cầu nguyện với Cha họ. Chúa Giêsu không những ban cho chúng ta những lời cầu nguyện của người con hiếu thảo, mà đồng thời Người còn ban tặng chúng ta Thần Khí để những lời ấy trở thành “thần khí và là sự sống” (Ga 6,63) trong chúng ta. Hơn nữa, chúng ta có lý do và có khả năng dâng lời cầu nguyện con thảo là vì Chúa Cha “đã sai Thần Khí của Con Ngài đến ngự trong lòng chúng ta mà kêu lên: ‘Ápba, Cha ơi’” (Gl 4,6). Bởi vì lời cầu nguyện của chúng ta nói lên những ước muốn của chúng ta trước mặt Chúa Cha, nên Đấng “thấu suốt tâm can”, tức là Chúa Cha, “biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,27). Việc cầu nguyện dâng lên Cha chúng ta được đưa vào trong sứ vụ huyền diệu của Chúa Con và của Thần Khí.
But Jesus does not give us a formula to repeat mechanically. As in every vocal prayer, it is through the Word of God that the Holy Spirit teaches the children of God to pray to their Father. Jesus not only gives us the words of our filial prayer; at the same time he gives us the Spirit by whom these words become in us "spirit and life." Even more, the proof and possibility of our filial prayer is that the Father "sent the Spirit of his Son into our hearts, crying, 'Abba! Father!'" Since our prayer sets forth our desires before God, it is again the Father, "he who searches the hearts of men," who "knows what is the mind of the Spirit, because the Spirit intercedes for the saints according to the will of God." The prayer to Our Father is inserted into the mysterious mission of the Son and of the Spirit.
Ngay từ đầu, Hội Thánh đã đón nhận và sống hồng ân không thể tách rời gồm các lời của Chúa, và Chúa Thánh Thần, Đấng ban sự sống cho các lời đó trong lòng các tín hữu. Các cộng đoàn tiên khởi cầu nguyện bằng Lời Kinh Chúa dạy “ba lần trong ngày” thay thế cho “mười tám lời chúc tụng” vẫn được sử dụng trong việc đạo đức của Do Thái giáo.
This indivisible gift of the Lord's words and of the Holy Spirit who gives life to them in the hearts of believers has been received and lived by the Church from the beginning. the first communities prayed the Lord's Prayer three times a day, in place of the "Eighteen Benedictions" customary in Jewish piety.
Theo Truyền thống các Tông Đồ, Lời Kinh Chúa dạy được bén rễ sâu chủ yếu trong kinh nguyện phụng vụ. “Chúa dạy chúng ta cầu nguyện chung cho các anh chị em. Vì Người không nói ‘Lạy Cha của con, ngự trên trời’, nhưng là ‘Lạy Cha chúng con’, để khẩn cầu cho toàn thân thể Hội Thánh.” Trong mọi truyền thống phụng vụ, Lời Kinh Chúa dạy là thành phần không thể thiếu của các giờ kinh phụng vụ chính. Nhưng nhất là trong ba bí tích khai tâm Kitô Giáo, đặc tính Hội Thánh của lời kinh này nổi bật:
According to the apostolic tradition, the Lord's Prayer is essentially rooted in liturgical prayer:
Trong bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, nghi thức trao Kinh Lạy Cha nói lên ý nghĩa việc sinh hạ mới vào sự sống thần linh. Vì việc cầu nguyện của Kitô Giáo là ngỏ lời với Thiên Chúa bằng chính lời của Thiên Chúa, nên những người “đã được tái sinh... nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống” (1 Pr 1,23) học kêu cầu Cha của mình, bằng Lời duy nhất mà Cha luôn đoái nhận. Và từ nay trở đi, họ có thể làm như thế, bởi vì ấn tín của việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần đã ghi dấu không thể xóa nhòa trong lòng họ, trên tai họ, trên môi họ, trên trọn vẹn thực tại làm con của họ. Chính vì lẽ đó, phần lớn các bài giải thích của các Giáo phụ về kinh Lạy Cha đều nhắm đến các dự tòng và tân tòng. Khi Hội Thánh cầu nguyện bằng Lời Kinh Chúa dạy, thì luôn luôn là đoàn dân “như những trẻ sơ sinh” đang cầu nguyện và nhận được lòng thương xót.
In Baptism and Confirmation, the handing on (traditio) of the Lord's Prayer signifies new birth into the divine life. Since Christian prayer is our speaking to God with the very word of God, those who are "born anew". . . through the living and abiding word of God" learn to invoke their Father by the one Word he always hears. They can henceforth do so, for the seal of the Holy Spirit's anointing is indelibly placed on their hearts, ears, lips, indeed their whole filial being. This is why most of the patristic commentaries on the Our Father are addressed to catechumens and neophytes. When the Church prays the Lord's Prayer, it is always the people made up of the "new-born" who pray and obtain mercy.
Trong Phụng vụ Thánh Thể, Lời Kinh Chúa dạy rõ ràng mang tính cách là lời kinh của toàn thể Hội Thánh, với đầy đủ ý nghĩa và hiệu năng. Được đặt giữa Kinh nguyện Thánh Thể (Anaphora) và phụng vụ hiệp lễ, kinh Lạy Cha một đàng gồm tóm mọi lời cầu xin và chuyển cầu đã được diễn tả sau kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần (Epiclesis), và đàng khác, lời kinh này gõ cửa Bàn tiệc Nước Trời mà việc Hiệp lễ là tiền dự.
In the Eucharistic liturgy the Lord's Prayer appears as the prayer of the whole Church and there reveals its full meaning and efficacy. Placed between the anaphora (the Eucharistic prayer) and the communion, the Lord's Prayer sums up on the one hand all the petitions and intercessions expressed in the movement of the epiclesis and, on the other, knocks at the door of the Banquet of the kingdom which sacramental communion anticipates.
Trong Thánh Lễ, Kinh Lạy Cha còn biểu lộ đặc tính cánh chung của các lời cầu xin trong kinh này. Đây là lời kinh riêng “của thời cuối cùng”, của thời cứu độ đã bắt đầu bằng việc tuôn đổ Chúa Thánh Thần và sẽ kết thúc bằng cuộc trở lại của Chúa. Các lời cầu xin dâng lên Cha chúng ta, khác với các lời kinh trong Cựu Ước, dựa trên mầu nhiệm cứu độ đã được thực hiện, một lần cho mãi mãi, trong Đức Kitô chịu đóng đinh và đã phục sinh.
In the Eucharist, the Lord's Prayer also reveals the eschatological character of its petitions. It is the proper prayer of "the end-time," the time of salvation that began with the outpouring of the Holy Spirit and will be fulfilled with the Lord's return. the petitions addressed to our Father, as distinct from the prayers of the old covenant, rely on the mystery of salvation already accomplished, once for all, in Christ crucified and risen.
Từ niềm tin không lay chuyển ấy, phát xuất niềm hy vọng khơi dậy mỗi một trong bảy lời cầu xin. Những lời cầu xin này diễn tả tiếng rên siết của thời hiện tại, của thời kiên nhẫn và mong đợi này, lúc mà “chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ” (1 Ga 3,2). Thánh Lễ và kinh Lạy Cha đều hướng về ngày Chúa quang lâm, “cho tới khi Chúa đến” (1 Cr 11,26).
From this unshakeable faith springs forth the hope that sustains each of the seven petitions, which express the groanings of the present age, this time of patience and expectation during which "it does not yet appear what we shall be." The Eucharist and the Lord's Prayer look eagerly for the Lord's return, "until he comes."
Đáp lại lời xin của các môn đệ (“Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện”: Lc 11,1), Chúa Giêsu đã trao cho các ông lời kinh căn bản của Kitô Giáo là kinh Lạy Cha.
In response to his disciples' request "Lord, teach us to pray" (Lk 11:1), Jesus entrusts them with the fundamental Christian prayer, the Our Father.
“Lời Kinh Chúa dạy quả thật là bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng”, là “lời kinh tuyệt hảo.” Lời kinh này nằm ở tâm điểm của Sách Thánh.
"The Lord's Prayer is truly the summary of the whole gospel," The "most perfect of prayers." It is at the center of the Scriptures.
Lời kinh này được gọi là “Lời Kinh Chúa dạy” vì lời kinh này đến với chúng ta từ Chúa Giêsu, là Thầy và là mẫu mực cho việc cầu nguyện của chúng ta.
It is called "the Lord's Prayer" because it comes to us from the Lord Jesus, the master and model of our prayer.
Lời Kinh Chúa dạy cũng là lời kinh của Hội Thánh. Lời kinh này là thành phần không thể thiếu của các Giờ Kinh phụng vụ chính và của các bí tích khai tâm Kitô Giáo: Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể. Được đưa vào trong Thánh Lễ, lời kinh này biểu lộ tính “cánh chung” của những lời cầu xin, trong khi mong đợi Chúa, “cho tới khi Chúa đến” (1 Cr 11,26).
The Lord's Prayer is the quintessential prayer of the Church. It is an integral part of the major hours of the Divine Office and of the sacraments of Christian initiation: Baptism, Confirmation, and Eucharist. Integrated into the Eucharist it reveals the eschatological character of its petitions, hoping for the Lord, "until he comes" (1 Cor 11:26).
Trong phụng vụ Rôma, cộng đoàn tham dự thánh lễ được mời đọc kinh Lạy Cha với sự bạo dạn của người con hiếu thảo; các phụng vụ Đông phương cũng dùng những cách diễn tả tương tự và triển khai thêm: “Chúng con dám tin tưởng nguyện rằng”, “xin làm cho chúng con xứng đáng.” Trước bụi gai rực cháy, có tiếng phán bảo ông Môsê: “Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra!” (Xh 3,5). Duy một mình Chúa Giêsu có thể bước qua ngưỡng cửa của sự thánh thiện của Thiên Chúa, vì Người là Đấng “đã tẩy trừ tội lỗi” (Hr 1,3), dẫn chúng ta đến trước tôn nhan Chúa Cha: “Này Con đây, cùng với những con cái mà Cha đã ban cho Con” (Hr 2,13). “Ý thức về tình trạng nô lệ của mình sẽ dìm chúng ta xuống đất, thân phận phàm trần sẽ tiêu tan thành bụi tro, trừ phi quyền bính của chính Chúa Cha, Thần Khí của Con Ngài thúc đẩy chúng ta kêu lên lời này. Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con Ngài kêu lên trong lòng chúng ta: ‘Ápba, Cha ơi!’ (Rm 8,15). Có khi nào một phàm nhân đáng chết dám gọi Thiên Chúa là Cha, nếu quyền năng của thượng giới không tác động vào nội tâm con người?”
In the Roman liturgy, the Eucharistic assembly is invited to pray to our heavenly Father with filial boldness; the Eastern liturgies develop and use similar expressions: "dare in all confidence," "make us worthy of...." From the burning bush Moses heard a voice saying to him, "Do not come near; put off your shoes from your feet, for the place on which you are standing is holy ground." Only Jesus could cross that threshold of the divine holiness, for "when he had made purification for sins," he brought us into the Father's presence: "Here am I, and the children God has given me."
Quyền năng này của Thần Khí, Đấng dẫn đưa chúng ta vào Lời Kinh Chúa dạy, được diễn tả trong các phụng vụ Đông và Tây phương, bằng kiểu nói đẹp đẽ, mang nét đặc trưng Kitô Giáo, là “parrhesia”, có nghĩa là sự đơn sơ thẳng thắn, lòng tin tưởng của người con thảo, sự an tâm phấn khởi, sự bạo dạn khiêm tốn, sự xác tín rằng chúng ta được yêu thương.
This power of the Spirit who introduces us to the Lord's Prayer is expressed in the liturgies of East and of West by the beautiful, characteristically Christian expression: parrhesia, straightforward simplicity, filial trust, joyous assurance, humble boldness, the certainty of being loved.
Trước khi đọc lời đầu tiên của Lời Kinh Chúa dạy, cần phải khiêm tốn thanh tẩy tâm hồn chúng ta khỏi một số hình ảnh sai lạc của “thế gian này.” Lòng khiêm tốn giúp chúng ta nhận biết điều này: “Không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” (Mt 11,27), nghĩa là “cho những người bé mọn” (Mt 11,25). Sự thanh tẩy tâm hồn liên quan đến những hình ảnh về người cha hoặc người mẹ, phát sinh do kinh nghiệm bản thân hoặc văn hóa, làm ảnh hưởng đến tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa. Thiên Chúa, Cha chúng ta, siêu việt trên mọi phạm trù của thế giới thụ tạo. Đem những ý niệm của chúng ta trong vấn đề này để gán cho Thiên Chúa hoặc để chống lại Ngài, là tạo ra các ngẫu tượng để tôn thờ hoặc để hạ bệ. Cầu nguyện cùng Chúa Cha là đi vào mầu nhiệm của Ngài, như Ngài hiện hữu và như Chúa Con đã mặc khải Ngài cho chúng ta: “Danh hiệu Thiên Chúa là Cha, chưa từng được bày tỏ cho một người nào. Cả khi ông Môsê hỏi Thiên Chúa là ai, ông chỉ được nghe một danh khác. Danh hiệu này được mặc khải cho chúng ta trong Chúa Con. Vì trước khi ‘Con’ đến, chưa có danh hiệu ‘Cha’.”
Before we make our own this first exclamation of the Lord's Prayer, we must humbly cleanse our hearts of certain false images drawn "from this world." Humility makes us recognize that "no one knows the Son except the Father, and no one knows the Father except the Son and anyone to whom the Son chooses to reveal him," that is, "to little children." The purification of our hearts has to do with paternal or maternal images, stemming from our personal and cultural history, and influencing our relationship with God. God our Father transcends the categories of the created world. To impose our own ideas in this area "upon him" would be to fabricate idols to adore or pull down. To pray to the Father is to enter into his mystery as he is and as the Son has revealed him to us.
Chúng ta có thể kêu cầu Thiên Chúa là “Cha”, bởi vì Con của Ngài nhập thể mặc khải cho chúng ta và vì Thần Khí của Ngài làm cho chúng ta nhận biết Ngài. Điều con người không thể nhận biết và các cơ binh Thiên thần không thể nhìn ra, về tương quan ngôi vị của Chúa Con với Chúa Cha, thì Thần Khí của Chúa Con đã làm cho chúng ta, những người tin Chúa Giêsu là Đức Kitô và là những người được sinh ra bởi Thiên Chúa, được tham dự vào tương quan đó.
We can invoke God as "Father" because he is revealed to us by his Son become man and because his Spirit makes him known to us. the personal relation of the Son to the Father is something that man cannot conceive of nor the angelic powers even dimly see: and yet, the Spirit of the Son grants a participation in that very relation to us who believe that Jesus is the Christ and that we are born of God.
Khi cầu nguyện cùng Chúa Cha, chúng ta ở trong sự hiệp thông với Ngài và với Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô. Lúc đó chúng ta nhận biết và công nhận Ngài trong sự thán phục luôn luôn mới mẻ. Lời đầu tiên của Lời Kinh Chúa dạy, là một lời chúc tụng tôn thờ, trước khi là một lời cầu khẩn. Quả thật, đây là vinh quang của Thiên Chúa: chúng ta nhận biết Thiên Chúa thật với tư cách là “Cha.” Chúng ta tạ ơn Ngài vì Ngài đã mặc khải Danh Ngài cho chúng ta, vì Ngài đã cho chúng ta tin Ngài và được sống dưới sự hiện diện của Ngài.
When we pray to the Father, we are in communion with him and with his Son, Jesus Christ. Then we know and recognize him with an ever new sense of wonder. the first phrase of the Our Father is a blessing of adoration before it is a supplication. For it is the glory of God that we should recognize him as "Father," the true God. We give him thanks for having revealed his name to us, for the gift of believing in it, and for the indwelling of his Presence in us.
Chúng ta có thể thờ lạy Chúa Cha bởi vì Ngài đã cho chúng ta được tái sinh vào sự sống của Ngài, khi nhận chúng ta làm nghĩa tử trong người Con Một của Ngài: nhờ bí tích Rửa Tội, Ngài tháp nhập chúng ta vào thân thể Đức Kitô (Đấng được xức dầu), và nhờ việc Xức Dầu bằng Thần Khí của Ngài, Đấng tuôn tràn từ Đầu đến các chi thể, Ngài làm cho chúng ta nên “những Kitô” (“những người được xức dầu”). “Vì chưng, Thiên Chúa, Đấng đã tiền định cho chúng ta được ơn làm nghĩa tử, đã làm cho chúng ta được đồng hình đồng dạng với thân thể vinh quang của Đức Kitô. Vì vậy, là những người được thông dự vào Đức Kitô, anh em được gọi, một cách không phải là không chính đáng, là ‘những Kitô’.” “Con người mới, khi đã được tái sinh và được phục hồi cho Thiên Chúa nhờ ân sủng của Ngài, thì trước hết sẽ thưa ‘Lạy Cha’, bởi vì người đó đã bắt đầu là con của Ngài.”
We can adore the Father because he has caused us to be reborn to his life by adopting us as his children in his only Son: by Baptism, he incorporates us into the Body of his Christ; through the anointing of his Spirit who flows from the head to the members, he makes us other "Christs."
Như vậy, nhờ Lời Kinh Chúa dạy, chúng ta được mặc khải cho biết về chính mình, đồng thời với việc Chúa Cha được mặc khải cho chúng ta: “Hỡi con người, bạn không dám ngước mặt lên trời, bạn đưa mắt nhìn xuống đất, rồi bỗng nhiên, bạn nhận được ân sủng của Đức Kitô, mọi tội lỗi của bạn được tha thứ. Từ một người đầy tớ xấu, bạn được trở thành người con ngoan... Vậy, bạn hãy đưa mắt nhìn lên Chúa Cha, Đấng đã sinh ra bạn nhờ Phép Rửa, Đấng đã cứu chuộc bạn nhờ Con của Ngài, và hãy thưa: ‘Lạy Cha chúng con...’. Nhưng bạn đừng đòi hỏi điều gì riêng biệt. Thiên Chúa là Cha riêng biệt đối với Đức Kitô mà thôi, và là Cha chung của tất cả chúng ta, bởi vì Ngài đã sinh ra một mình Chúa Con, còn chúng ta thì được Ngài tạo dựng. Vì thế, nhờ ân sủng bạn hãy thưa: ‘Lạy Cha chúng con’, ngõ hầu bạn xứng đáng là con của Ngài.”
Thus the Lord's Prayer reveals us to ourselves at the same time that it reveals the Father to us.
Hồng ân nhưng không, là được nhận làm nghĩa tử, đòi buộc chúng ta phải hối cải không ngừng và phải có một đời sống mới. Cầu nguyện với Cha chúng ta phải phát triển nơi chúng ta hai tâm tình căn bản này: [Một là] Ước ao và quyết chí muốn nên giống Ngài. Vì được tạo dựng theo hình ảnh Ngài, nhờ ân sủng, chúng ta được phục hồi việc nên giống Ngài, và chúng ta phải cư xử cách tương xứng: “Khi gọi Thiên Chúa là Cha, chúng ta phải hành động như những người con của Thiên Chúa.” “Anh em không thể gọi Thiên Chúa là Cha nhân lành nếu vẫn còn lòng độc ác và bất nhân; bởi vì anh em không còn giữ được trong mình chứng tích về sự nhân lành của Cha trên trời nữa.” “Hãy luôn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Cha trên trời, và phải tô điểm tâm hồn mình theo vẻ đẹp đó.”
The free gift of adoption requires on our part continual conversion and new life. Praying to our Father should develop in us two fundamental dispositions: First, the desire to become like him: though created in his image, we are restored to his likeness by grace; and we must respond to this grace.
[Hai là] Lòng khiêm nhường và tin tưởng, nhờ đó chúng ta hối cải và trở nên “như trẻ nhỏ” (Mt 18,3): vì Chúa Cha mặc khải mình cho “những người bé mọn” (Mt 11,25): “(Khi đọc kinh Lạy Cha,) chúng ta phải chiêm ngắm duy mình Thiên Chúa và bừng cháy lửa mến yêu, nhờ đó, tâm trí được tan chảy và đắm chìm trong tình yêu của Ngài, sẽ thưa chuyện với Ngài một cách hết sức thân mật như với người Cha riêng của mình, với lòng hiếu thảo đặc biệt.” “’Lạy Cha chúng con’: Cách xưng hô này vừa gợi lên lòng yêu mến - vì đối với con cái còn gì yêu quý hơn người cha? - và tâm tình khẩn nguyện, vừa khiến chúng ta biết chắc sẽ nhận được những điều chúng ta sắp cầu xin. Lẽ nào Thiên Chúa từ chối lời cầu xin của con cái, trong khi trước đó Ngài đã ban cho họ được làm con cái của Ngài?”
Second, a humble and trusting heart that enables us "to turn and become like children": for it is to "little children" that the Father is revealed.
Lạy Cha “chúng con” nhắm đến Thiên Chúa. Tĩnh từ “(của) chúng con” không nói lên sự sở hữu, nhưng nói lên tương quan hoàn toàn mới mẻ giữa chúng ta với Thiên Chúa.
"Our" Father refers to God. the adjective, as used by us, does not express possession, but an entirely new relationship with God.
Khi thưa “Lạy Cha chúng con”, trước hết chúng ta nhìn nhận rằng mọi lời hứa yêu thương của Ngài, mà các tiên tri đã loan báo, nay đã được thực hiện nhờ Giao ước mới và vĩnh cửu trong Đức Kitô của Ngài: Chúng ta đã trở thành dân “của Ngài” và từ nay Ngài là Thiên Chúa “của chúng ta.” Tương quan mới này là sự thuộc về nhau, do Chúa ban cách nhưng không cho chúng ta. Chúng ta phải lấy tình yêu và lòng trung thành mà đáp lại “ân sủng và sự thật” mà Ngài đã ban cho chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô.
When we say "our" Father, we recognize first that all his promises of love announced by the prophets are fulfilled in the new and eternal covenant in his Christ: we have become "his" people and he is henceforth "our" God. This new relationship is the purely gratuitous gift of belonging to each other: we are to respond to "grace and truth" given us in Jesus Christ with love and faithfulness.
Vì Kinh Lạy Cha là lời kinh của dân Ngài trong “thời sau hết”, cho nên thuật ngữ “(của) chúng con” cũng diễn tả niềm hy vọng vững vàng của chúng ta vào lời hứa tối hậu của Thiên Chúa: trong thành Giêrusalem mới, Ngài sẽ nói với kẻ chiến thắng: “Ta sẽ là Thiên Chúa của người ấy và người ấy sẽ là con của Ta” (Kh 21,7).
Since the Lord's Prayer is that of his people in the "endtime," this "our" also expresses the certitude of our hope in God's ultimate promise: in the new Jerusalem he will say to the victor, "I will be his God and he shall be my son."
Khi cầu nguyện với Cha “của chúng ta”, chúng ta đích thân hướng về Cha của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Chúng ta không phân chia thần tính, vì Chúa Cha là “nguồn mạch và cội nguồn” của thần tính đó, nhưng qua đó chúng ta tuyên xưng rằng từ đời đời Chúa Con được sinh ra bởi Ngài, và Chúa Thánh Thần phát xuất từ Ngài. Chúng ta cũng không lẫn lộn các Ngôi Vị, vì chúng ta tuyên xưng sự hiệp thông của chúng ta là với Chúa Cha và Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, trong Chúa Thánh Thần độc nhất của hai Ngôi Vị đó. Ba Ngôi Chí Thánh là đồng bản thể và không thể phân chia. Khi chúng ta cầu nguyện với Chúa Cha, chúng ta thờ lạy và tôn vinh Ngài cùng với Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
When we pray to "our" Father, we personally address the Father of our Lord Jesus Christ. By doing so we do not divide the Godhead, since the Father is its "source and origin," but rather confess that the Son is eternally begotten by him and the Holy Spirit proceeds from him. We are not confusing the persons, for we confess that our communion is with the Father and his Son, Jesus Christ, in their one Holy Spirit. the Holy Trinity is consubstantial and indivisible. When we pray to the Father, we adore and glorify him together with the Son and the Holy Spirit.
Theo ngữ pháp, “của chúng con” nói lên một thực tại chung cho nhiều người. Chỉ có một Thiên Chúa, Ngài được nhận biết là Cha bởi những kẻ, nhờ tin vào Con độc nhất của Ngài, đã được Ngài tái sinh nhờ nước và Chúa Thánh Thần. Hội Thánh chính là sự hiệp thông mới này giữa Thiên Chúa với con người: vì được kết hợp với Người Con độc nhất, Đấng đã trở nên “trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29), Hội Thánh được hiệp thông với cùng một Chúa Cha, trong cùng một Chúa Thánh Thần. Khi cầu nguyện với Cha “(của) chúng con”, mỗi người đã được rửa tội đều cầu nguyện trong sự hiệp thông đó: “Các tín hữu... tuy đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý” (Cv 4,32).
Grammatically, "our" qualifies a reality common to more than one person. There is only one God, and he is recognized as Father by those who, through faith in his only Son, are reborn of him by water and the Spirit. The Church is this new communion of God and men. United with the only Son, who has become "the firstborn among many brethren," she is in communion with one and the same Father in one and the same Holy Spirit. In praying "our" Father, each of the baptized is praying in this communion: "The company of those who believed were of one heart and soul."
Do đó, dù còn có sự chia rẽ giữa các Kitô hữu, lời kinh “Lạy Cha chúng con” vẫn là gia sản chung và là lời mời gọi khẩn thiết đối với mọi người đã được rửa tội. Vì hiệp thông nhờ đức tin vào Chúa Kitô và nhờ bí tích Rửa Tội, họ phải dự phần vào lời nguyện của Chúa Giêsu, để cầu cho sự hợp nhất giữa các môn đệ Người.
For this reason, in spite of the divisions among Christians, this prayer to "our" Father remains our common patrimony and an urgent summons for all the baptized. In communion by faith in Christ and by Baptism, they ought to join in Jesus' prayer for the unity of his disciples.
Sau cùng, nếu thật lòng cầu nguyện “Lạy Cha chúng con”, chúng ta thoát được chủ nghĩa cá nhân, bởi vì tình yêu, mà chúng ta đón nhận, giải thoát chúng ta khỏi điều đó. Thuật ngữ “chúng con” ở đầu kinh Lạy Cha, cũng như thuật ngữ “chúng con” trong bốn lời xin cuối cùng, không loại trừ một ai. Để thật lòng đọc kinh Lạy Cha, chúng ta phải vượt qua mọi chia rẽ và đối nghịch.
Finally, if we pray the Our Father sincerely, we leave individualism behind, because the love that we receive frees us from it. the "our" at the beginning of the Lord's Prayer, like the "us" of the last four petitions, excludes no one. If we are to say it truthfully, our divisions and oppositions have to be overcome.
Những người đã chịu Phép Rửa không thể thưa “Lạy Cha chúng con”, nếu không dâng lên Chúa Cha tất cả mọi người, vì Ngài đã trao ban Con yêu dấu của Ngài cho mọi người. Tình yêu của Thiên Chúa không có biên giới, nên lời cầu nguyện của chúng ta cũng phải như vậy. Khi đọc “Lạy Cha chúng con”, lòng chúng ta được mở rộng theo mức độ tình yêu của Chúa Cha được biểu lộ trong Đức Kitô: cầu nguyện với mọi người và cho mọi người chưa nhận biết Cha, để họ được quy tụ về một mối. Sự quan tâm đúng theo ý Chúa đối với mọi người và toàn thể tạo vật đã thúc đẩy tất cả những người cầu nguyện “vĩ đại”: sự quan tâm đó phải đưa lời cầu nguyện của chúng ta đến một tình yêu rộng mở, khi chúng ta dám nguyện rằng: “Lạy Cha chúng con.”
The baptized cannot pray to "our" Father without bringing before him all those for whom he gave his beloved Son. God's love has no bounds, neither should our prayer. Praying "our" Father opens to us the dimensions of his love revealed in Christ: praying with and for all who do not yet know him, so that Christ may "gather into one the children of God." God's care for all men and for the whole of creation has inspired all the great practitioners of prayer; it should extend our prayer to the full breadth of love whenever we dare to say "our" Father.
Thuật ngữ Thánh Kinh này không muốn ám chỉ một vị trí nào đó (“không gian”), nhưng muốn nói lên một cách thức hiện hữu; không nói lên sự xa vời của Thiên Chúa, nhưng diễn tả sự uy nghi cao cả của Ngài. Cha chúng ta không “ở chỗ khác”, nhưng Ngài “vượt xa tất cả” những gì mà chúng ta có thể tưởng nghĩ về sự thánh thiện của Ngài. Bởi vì Thiên Chúa là Đấng chí thánh, nên Ngài rất gần gũi những tâm hồn thống hối, khiêm cung: “Vì vậy, thật chí lý khi lời kinh ‘Lạy Cha chúng con ở trên trời’ được hiểu về trái tim của những người công chính, bởi vì Thiên Chúa ngự nơi họ như là trong đền thánh của Ngài. Vì vậy, ai cầu nguyện thì ước ao cho Đấng mình kêu cầu sẽ đến ngự trong mình.” “‘Trời’ có thể được hiểu về những ai mang hình ảnh của trời, nơi đó Thiên Chúa ngự trị và di động.”
This biblical expression does not mean a place (“space"), but a way of being; it does not mean that God is distant, but majestic. Our Father is not "elsewhere": he transcends everything we can conceive of his holiness. It is precisely because he is thrice holy that he is so close to the humble and contrite heart.
Thuật ngữ “ở trên trời” hướng chúng ta đến mầu nhiệm Giao ước mà chúng ta đang sống, khi chúng ta cầu nguyện với Cha chúng ta. Ngài “ở trên trời”, đó là nơi Ngài ngự, là nhà của Cha, nên cũng là “quê hương” của ta. Tội lỗi đã khiến chúng ta bị lưu đày xa miền đất Giao ước, còn hối cải tâm hồn sẽ dẫn đưa chúng ta trở về cùng Cha “ở trên trời.” Quả vậy, trời đất được giao hòa trong Đức Kitô, bởi vì chỉ có Chúa Con đã “từ trời xuống”, và chính Người đã dẫn đưa chúng ta lên trời với Người, nhờ thập giá, sự Phục sinh và Thăng thiên của Người.
The symbol of the heavens refers us back to the mystery of the covenant we are living when we pray to our Father. He is in heaven, his dwelling place; the Father's house is our homeland. Sin has exiled us from the land of the covenant, but conversion of heart enables us to return to the Father, to heaven. Jn Christ, then, heaven and earth are reconciled, for the Son alone "descended from heaven" and causes us to ascend there with him, by his Cross, Resurrection, and Ascension.
Khi đọc kinh “Lạy Cha chúng con ở trên trời”, Hội Thánh tuyên xưng chúng ta là dân Thiên Chúa, đã được cùng ngự trị với Đức Kitô Giêsu trên cõi trời, tuy còn đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa, và đồng thời, đang “rên siết là vì những ước mong được thấy ngôi nhà thiên quốc của chúng ta phủ lên chiếc lều ở dưới đất này” (2 Cr 5,2): Các Kitô hữu “ở trong xác phàm, nhưng không sống theo xác phàm. Họ sống nơi dương thế, nhưng có quyền công dân trên trời.”
When the Church prays "our Father who art in heaven," she is professing that we are the People of God, already seated "with him in the heavenly places in Christ Jesus" and "hidden with Christ in God;" yet at the same time, "here indeed we groan, and long to put on our heavenly dwelling."
Lòng tin tưởng đơn sơ và trung tín, sự phó thác khiêm tốn và hân hoan là những thái độ mà người cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha phải có.
Simple and faithful trust, humble and joyous assurance are the proper dispositions for one who prays the Our Father.
Chúng ta có thể kêu cầu Thiên Chúa là “Cha”, bởi vì Con Thiên Chúa đã mặc khải cho chúng ta. Nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta được tháp nhập vào Con Thiên Chúa và được thừa nhận làm con cái Thiên Chúa.
We can invoke God as "Father" because the Son of God made man has revealed him to us. Jn this Son, through Baptism, we are incorporated and adopted as sons of God.
Lời Kinh Chúa dạy cho chúng ta được hiệp thông với Chúa Cha và với Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô. Lời kinh này đồng thời mặc khải cho chúng ta biết về chính mình.
The Lord's Prayer brings us into communion with the Father and with his Son, Jesus Christ. At the same time it reveals us to ourselves (cf GS 22 # 1).
Lời cầu nguyện dâng lên Cha chúng ta phải khơi dậy trong chúng ta ước muốn được nên giống như Ngài, cũng như giúp chúng ta có lòng khiêm tốn và phó thác.
Praying to our Father should develop in us the will to become like him and foster in us a humble and trusting heart.
Khi gọi Thiên Chúa là “Cha chúng con”, chúng ta kêu cầu đến Giao Ước Mới trong Chúa Giêsu Kitô, sự hiệp thông với Ba Ngôi Chí Thánh và tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu, nhờ Hội Thánh, trải rộng tới các chiều kích của trần gian.
When we say "Our" Father, we are invoking the new covenant in Jesus Christ, communion with the Holy Trinity, and the divine love which spreads through the Church to encompass the world.
Thuật ngữ “ở trên trời” không muốn ám chỉ một vị trí nào đó, nhưng diễn tả sự uy nghi cao cả của Thiên Chúa và sự hiện diện của Ngài trong trái tim những người công chính. “Trời” là Nhà Cha, nên là quê hương thật sự mà chúng ta hướng tới, và hiện chúng ta đã thuộc về quê hương đó.
"Who art in heaven" does not refer to a place but to God's majesty and his presence in the hearts of the just. Heaven, the Father's house, is the true homeland toward which we are heading and to which, already, we belong.