Hỏi Đáp Công Giáo
Tuyên Xưng Đức Tin · Tuyên xưng đức tin Kitô Giáo · “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là cha” · “Tôi tin kính Đức Chúa Trời, là Cha phép tắc vô cùng, dựng nên trời đất”
TIẾT 7

Sự sa ngã

Số 385–421
385

Thiên Chúa vô cùng tốt lành và mọi công trình của Ngài đều tốt đẹp. Tuy nhiên, không ai thoát được kinh nghiệm về đau khổ, về những sự dữ trong thiên nhiên - những sự dữ coi như gắn liền với những giới hạn riêng của các thụ tạo -, và nhất là vấn nạn về sự dữ luân lý. Sự dữ từ đâu đến? Thánh Augustinô nói: “Tôi đã tìm xem sự dữ từ đâu và không thấy câu giải đáp”, và cuộc tìm kiếm đau thương riêng của thánh nhân chỉ tìm được câu giải đáp lúc ngài hối cải trở về với Thiên Chúa hằng sống. Bởi vì “mầu nhiệm của sự gian ác” (2 Tx 2,7) chỉ được sáng tỏ dưới ánh sáng của mầu nhiệm đạo thánh. Việc mặc khải tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Kitô đã biểu lộ tình trạng lan tràn của sự dữ và đồng thời sự đầy tràn chan chứa của ân sủng. Vì vậy, chúng ta phải xem xét vấn nạn về nguồn gốc của sự dữ với cái nhìn đức tin hướng về Đấng duy nhất đã chiến thắng sự dữ.

God is infinitely good and all his works are good. Yet no one can escape the experience of suffering or the evils in nature which seem to be linked to the limitations proper to creatures: and above all to the question of moral evil. Where does evil come from? "I sought whence evil comes and there was no solution", said St. Augustine, and his own painful quest would only be resolved by his conversion to the living God. For "the mystery of lawlessness" is clarified only in the light of the "mystery of our religion". The revelation of divine love in Christ manifested at the same time the extent of evil and the superabundance of grace. We must therefore approach the question of the origin of evil by fixing the eyes of our faith on him who alone is its conqueror.

386

Tội lỗi hiện diện trong lịch sử loài người: Thật là vô ích khi tìm cách làm ngơ hoặc gán những cái tên khác cho thực tại tăm tối đó. Muốn hiểu tội là gì, trước hết phải nhận biết mối liên hệ thâm sâu của con người với Thiên Chúa, bởi vì ngoài mối tương quan đó, chúng ta không thể khám phá ra ác tính của tội lỗi trong căn tính đích thực của nó, là chối bỏ và chống đối Thiên Chúa, cho dù tội lỗi vẫn đè nặng trên đời sống con người và trên lịch sử.

Sin is present in human history; any attempt to ignore it or to give this dark reality other names would be futile. To try to understand what sin is, one must first recognize the profound relation of man to God, for only in this relationship is the evil of sin unmasked in its true identity as humanity's rejection of God and opposition to him, even as it continues to weigh heavy on human life and history.

387

Thực tại của tội lỗi, và cách riêng của tội tổ tông, chỉ được làm sáng tỏ dưới ánh sáng của mặc khải Thiên Chúa. Không nhận biết điều mặc khải đem lại cho chúng ta về Thiên Chúa, chúng ta không thể biết rõ tội lỗi là gì, và bị cám dỗ muốn giải thích tội lỗi như một khiếm khuyết trong quá trình tăng trưởng, như một yếu kém về tâm lý, một sai lầm, một hậu quả tất yếu của một cơ cấu xã hội thoái hóa, v.v... Chỉ khi nào nhận biết được kế hoạch của Thiên Chúa về con người, người ta mới hiểu rằng tội lỗi là lạm dụng sự tự do, vốn được Thiên Chúa ban cho các ngôi vị được tạo dựng để họ có thể yêu mến Ngài và yêu mến nhau.

Only the light of divine Revelation clarifies the reality of sin and particularly of the sin committed at mankind's origins. Without the knowledge Revelation gives of God we cannot recognize sin clearly and are tempted to explain it as merely a developmental flaw, a psychological weakness, a mistake, or the necessary consequence of an inadequate social structure, etc. Only in the knowledge of God's plan for man can we grasp that sin is an abuse of the freedom that God gives to created persons so that they are capable of loving him and loving one another.

388

Thực tại của tội lỗi cũng được làm sáng tỏ cùng với sự tiến triển của mặc khải. Mặc dầu dân Thiên Chúa thời Cựu Ước đã biết đến thân phận đau thương của con người dưới ánh sáng của việc sa ngã được thuật lại trong sách Sáng Thế, họ vẫn không thể nắm bắt được ý nghĩa tối hậu của việc sa ngã đó, ý nghĩa tối hậu này chỉ được biểu lộ dưới ánh sáng của cái Chết và sự Sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Cần phải nhận biết Đức Kitô là nguồn mạch của ân sủng, thì mới nhận ra ông Ađam là nguồn gốc của tội lỗi. Thần Khí bào chữa, do Đức Kitô phục sinh sai đến, đã đến tố cáo “thế gian sai lầm về tội lỗi” (Ga 16,8), khi Ngài mặc khải Đức Kitô là Đấng cứu chuộc trần gian.

With the progress of Revelation, the reality of sin is also illuminated. Although to some extent the People of God in the Old Testament had tried to understand the pathos of the human condition in the light of the history of the fall narrated in Genesis, they could not grasp this story's ultimate meaning, which is revealed only in the light of the death and Resurrection of Jesus Christ. We must know Christ as the source of grace in order to know Adam as the source of sin. the Spirit-Paraclete, sent by the risen Christ, came to "convict the world concerning sin", by revealing him who is its Redeemer.

389

Giáo lý về tội tổ tông, có thể nói được, là “mặt trái” của Tin Mừng này: Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ của tất cả mọi người, mọi người đều cần ơn cứu độ, và ơn cứu độ được ban cho mọi người nhờ Đức Kitô. Hội Thánh, người có cảm thức về Đức Kitô, biết rằng không thể công kích mặc khải về tội tổ tông mà không xúc phạm đến mầu nhiệm Đức Kitô.

The doctrine of original sin is, so to speak, the "reverse side" of the Good News that Jesus is the Saviour of all men, that all need salvation and that salvation is offered to all through Christ. the Church, which has the mind of Christ, knows very well that we cannot tamper with the revelation of original sin without undermining the mystery of Christ.

390

Trình thuật về sự sa ngã (St 3) sử dụng kiểu nói hình tượng, nhưng xác quyết một sự kiện thuở đầu, đã xảy ra vào lúc khởi đầu lịch sử nhân loại. Mặc khải cho chúng ta sự chắc chắn của đức tin rằng toàn bộ lịch sử nhân loại đều mang dấu tích của tội tổ tông, do nguyên tổ chúng ta đã phạm một cách tự do.

The account of the fall in Genesis 3 uses figurative language, but affirms a primeval event, a deed that took place at the beginning of the history of man. Revelation gives us the certainty of faith that the whole of human history is marked by the original fault freely committed by our first parents.

391

Đàng sau sự lựa chọn bất tuân của nguyên tổ chúng ta, có một tiếng nói dụ dỗ, chống lại Thiên Chúa, đã vì ghen tương mà làm cho nguyên tổ sa vào cõi chết. Thánh Kinh và Truyền thống của Hội Thánh coi hữu thể này là một thiên thần sa ngã, gọi là Xatan hay ma quỷ. Hội Thánh dạy rằng thoạt đầu đó là một Thiên thần tốt lành do Thiên Chúa tạo dựng. “Chắc chắn ma quỷ và các thần dữ khác được Thiên Chúa tạo dựng đều tốt lành theo bản tính, nhưng chính chúng đã làm cho mình nên ác xấu.”

Behind the disobedient choice of our first parents lurks a seductive voice, opposed to God, which makes them fall into death out of envy. Scripture and the Church's Tradition see in this being a fallen angel, called "Satan" or the "devil". The Church teaches that Satan was at first a good angel, made by God: "The devil and the other demons were indeed created naturally good by God, but they became evil by their own doing."

392

Thánh Kinh có nói đến tội của các thiên thần này. Sự “sa ngã” đó cốt tại một lựa chọn tự do của các thụ tạo thiêng liêng này, họ chối bỏ Thiên Chúa và Nước của Ngài một cách triệt để và không thể thay đổi. Chúng ta thấy được sự phản ánh của cuộc nổi loạn này trong những lời Tên Cám Dỗ nói với các nguyên tổ chúng ta: “Các người sẽ trở nên như Thiên Chúa” (St 3,5). “Ma quỷ phạm tội từ lúc khởi đầu” (1 Ga 3,8); “nó là kẻ nói dối và là cha sự gian dối” (Ga 8,44).

Scripture speaks of a sin of these angels. This "fall" consists in the free choice of these created spirits, who radically and irrevocably rejected God and his reign. We find a reflection of that rebellion in the tempter's words to our first parents: "You will be like God." The devil "has sinned from the beginning"; he is "a liar and the father of lies".

393

Tính cách không thể thay đổi của sự lựa chọn của các thiên thần, chứ không phải vì thiếu lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, làm cho tội của chúng không thể được tha thứ. “Quả vậy, sau khi sa ngã, chính chúng không chút thống hối, cũng như con người sau khi chết.”

It is the irrevocable character of their choice, and not a defect in the infinite divine mercy, that makes the angels' sin unforgivable. "There is no repentance for the angels after their fall, just as there is no repentance for men after death."

394

Thánh Kinh chứng tỏ ảnh hưởng tai hại của kẻ mà Chúa Giêsu gọi là “tên sát nhân... ngay từ đầu” (Ga 8,44), nó cũng đã ra sức làm cho Chúa Giêsu đi trệch ra khỏi sứ vụ Người đã lãnh nhận nơi Chúa Cha. “Con Thiên Chúa xuất hiện, là để phá hủy công việc của ma quỷ” (l Ga 3,8). Trong các hậu quả của các việc làm của ma quỷ, nghiêm trọng nhất là sự quyến rũ dối trá dẫn đưa con người đến chỗ bất tuân Thiên Chúa.

Scripture witnesses to the disastrous influence of the one Jesus calls "a murderer from the beginning", who would even try to divert Jesus from the mission received from his Father. "The reason the Son of God appeared was to destroy the works of the devil." In its consequences the gravest of these works was the mendacious seduction that led man to disobey God.

395

Tuy nhiên, quyền năng của Xatan không phải là vô hạn. Nó chỉ là một thụ tạo, có quyền năng vì là thuần túy thiêng liêng, nhưng vẫn luôn luôn là thụ tạo: nó không thể ngăn chặn công trình xây dựng Nước Thiên Chúa. Mặc dầu Xatan hoạt động trong trần gian do thù hận chống lại Thiên Chúa và Nước Ngài trong Chúa Giêsu Kitô, và mặc dầu hoạt động của nó gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho mỗi người và cho xã hội - trong lãnh vực tinh thần và một cách gián tiếp cả trong lãnh vực vật chất -, hoạt động ấy được cho phép bởi Chúa quan phòng, Đấng điều khiển lịch sử của loài người và của trần gian cách mạnh mẽ và dịu dàng. Việc Thiên Chúa cho phép ma quỷ hoạt động quả là một mầu nhiệm lớn lao, nhưng “chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài” (Rm 8,28).

The power of Satan is, nonetheless, not infinite. He is only a creature, powerful from the fact that he is pure spirit, but still a creature. He cannot prevent the building up of God's reign. Although Satan may act in the world out of hatred for God and his kingdom in Christ Jesus, and although his action may cause grave injuries - of a spiritual nature and, indirectly, even of a physical nature - to each man and to society, the action is permitted by divine providence which with strength and gentleness guides human and cosmic history. It is a great mystery that providence should permit diabolical activity, but "we know that in everything God works for good with those who love him."

396

Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài và cho họ sống trong tình bằng hữu với Ngài. Là một thụ tạo tinh thần, con người chỉ có thể sống trong tình bằng hữu đó bằng cách tự do suy phục Thiên Chúa. Điều đó được diễn tả trong lệnh cấm con người không được ăn trái của cây cho biết điều thiện, điều ác, “vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2,17). “Cây cho biết điều thiện điều ác” (St 2,17) là một biểu tượng diễn tả ranh giới không thể vượt qua mà con người, trong tư cách là thụ tạo, phải nhìn nhận một cách tự do và tôn trọng một cách tin tưởng. Con người lệ thuộc Đấng Tạo Hóa; nó phải quy phục các định luật của công trình tạo dựng và các quy tắc luân lý quy định việc sử dụng sự tự do.

God created man in his image and established him in his friendship. A spiritual creature, man can live this friendship only in free submission to God. the prohibition against eating "of the tree of the knowledge of good and evil" spells this out: "for in the day that you eat of it, you shall die." The "tree of the knowledge of good and evil" symbolically evokes the insurmountable limits that man, being a creature, must freely recognize and respect with trust. Man is dependent on his Creator, and subject to the laws of creation and to the moral norms that govern the use of freedom.

397

Con người, bị ma quỷ cám dỗ, đã dập tắt trong trái tim mình lòng tin tưởng đối với Đấng Tạo hóa của mình, và lạm dụng sự tự do của mình, đã bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa. Đó là tội đầu tiên của con người. Mọi tội lỗi sau đó đều là bất tuân Thiên Chúa và thiếu tin tưởng vào lòng nhân hậu của Ngài.

Man, tempted by the devil, let his trust in his Creator die in his heart and, abusing his freedom, disobeyed God's command. This is what man's first sin consisted of. All subsequent sin would be disobedience toward God and lack of trust in his goodness.

398

Trong tội này, con người đã chọn mình hơn Thiên Chúa và qua đó đã khinh thường Thiên Chúa: con người đã chọn chính bản thân chống lại Thiên Chúa, chống lại những đòi buộc của thân phận thụ tạo của mình, và do đó chống lại cả lợi ích riêng của mình. Con người, được tạo dựng trong tình trạng thánh thiện, được Thiên Chúa nhắm cho nó được “thần hóa” trọn vẹn trong vinh quang. Do ma quỷ cám dỗ, con người đã muốn trở nên “như Thiên Chúa” mà “không cần Thiên Chúa, vượt qua Thiên Chúa, và không theo Thiên Chúa.”

In that sin man preferred himself to God and by that very act scorned him. He chose himself over and against God, against the requirements of his creaturely status and therefore against his own good. Created in a state of holiness, man was destined to be fully "divinized" by God in glory. Seduced by the devil, he wanted to "be like God", but "without God, before God, and not in accordance with God".

399

Thánh Kinh cho thấy những hậu quả bi đát của sự bất tuân đầu tiên đó. Ông Ađam và bà Evà đã lập tức đánh mất sự thánh thiện nguyên thủy. Họ đâm ra sợ hãi Thiên Chúa, vì họ đã tạo ra một hình ảnh sai lầm về Ngài, hình ảnh của một vị Thần ham hố các đặc quyền của mình.

Scripture portrays the tragic consequences of this first disobedience. Adam and Eve immediately lose the grace of original holiness. They become afraid of the God of whom they have conceived a distorted image - that of a God jealous of his prerogatives.

400

Sự hài hòa mà tổ tông đang hưởng nhờ sự công chính nguyên thủy, đã bị phá hủy; quyền điều khiển của các khả năng tinh thần của linh hồn trên thể xác đã bị đập tan; sự kết hợp của người nam và người nữ trở nên căng thẳng; những liên hệ giữa họ bị đánh dấu bằng ham muốn và thống trị. Sự hài hòa với công trình tạo dựng bị phá vỡ: thế giới hữu hình trở nên xa lạ và thù nghịch với con người. Vì con người, muôn loài đã phải lệ thuộc vào cảnh hư nát. Cuối cùng, hậu quả đã được báo trước cách minh nhiên đối với tội bất tuân, nay thành hiện thực: con người từ tro bụi sẽ trở về bụi tro. Sự chết đã xâm nhập vào lịch sử nhân loại .

The harmony in which they had found themselves, thanks to original justice, is now destroyed: the control of the soul's spiritual faculties over the body is shattered; the union of man and woman becomes subject to tensions, their relations henceforth marked by lust and domination. Harmony with creation is broken: visible creation has become alien and hostile to man. Because of man, creation is now subject "to its bondage to decay". Finally, the consequence explicitly foretold for this disobedience will come true: man will "return to the ground", for out of it he was taken. Death makes its entrance into human history.

401

Sau tội đầu tiên này, một “cuộc xâm lăng” thật sự của tội lỗi tràn ngập trần gian: Cain giết em là Aben, sự sa đọa lan rộng khắp nơi như là hậu quả của tội lỗi; trong lịch sử Ítraen, tội lỗi cũng thường được biểu lộ một cách đặc biệt như sự bất trung đối với Thiên Chúa của Giao Ước và như sự vi phạm luật Môsê. Ngay cả sau việc Cứu Chuộc của Đức Kitô, giữa các Kitô hữu, tội lỗi còn xuất hiện bằng nhiều cách khác nhau. Thánh Kinh và Truyền Thống Hội Thánh không ngừng nhắc đến sự hiện diện và tính phổ quát của tội lỗi trong lịch sử loài người: “Những điều mặc khải cho biết, kinh nghiệm riêng của chúng ta cũng xác nhận. Khi nhìn vào trong lòng, con người thấy mình bị lôi kéo về những điều sai trái, và ngụp lặn trong muôn vàn sự dữ, vốn là những điều không thể xuất phát từ Đấng Tạo Hóa tốt lành. Khi từ chối không nhìn nhận Thiên Chúa như nguồn gốc của mình, con người cũng đã phá đổ sự quy hướng cần thiết về cùng đích tối hậu, đồng thời phá vỡ toàn bộ sự hòa hợp của mình đối với chính bản thân, đối với những người khác và đối với mọi loài thụ tạo.”

After that first sin, the world is virtually inundated by sin There is Cain's murder of his brother Abel and the universal corruption which follows in the wake of sin. Likewise, sin frequently manifests itself in the history of Israel, especially as infidelity to the God of the Covenant and as transgression of the Law of Moses. and even after Christ's atonement, sin raises its head in countless ways among Christians. Scripture and the Church's Tradition continually recall the presence and universality of sin in man's history:

402

Mọi người đều bị liên lụy với tội Ađam. Thánh Phaolô khẳng định: “Vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân” (Rm 5,19), muôn người ở đây có nghĩa là mọi người: “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội” (Rm 5,12). Đối lại tính phổ quát của tội lỗi và sự chết, thánh Tông Đồ nêu lên tính phổ quát của ơn cứu độ trong Đức Kitô: “Cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống” (Rm 5,18).

All men are implicated in Adam's sin, as St. Paul affirms: "By one man's disobedience many (that is, all men) were made sinners": "sin came into the world through one man and death through sin, and so death spread to all men because all men sinned." The Apostle contrasts the universality of sin and death with the universality of salvation in Christ. "Then as one man's trespass led to condemnation for all men, so one man's act of righteousness leads to acquittal and life for all men."

403

Noi theo thánh Phaolô, Hội Thánh luôn dạy rằng tình trạng cùng khốn đang đè nặng lên con người, cũng như việc họ hướng chiều về sự dữ và về sự chết là những điều không thể hiểu được, nếu không xét đến mối liên hệ của chúng với tội Ađam và với việc ông đã truyền lại cho chúng ta một tội mà mọi người chúng ta phải mang lấy từ khi sinh ra, và tội này là “cái chết của linh hồn.” Dựa trên sự chắc chắn này của đức tin, Hội Thánh ban phép Rửa Tội để tha tội cho cả những trẻ em chưa từng phạm tội riêng.

Following St. Paul, the Church has always taught that the overwhelming misery which oppresses men and their inclination towards evil and death cannot be understood apart from their connection with Adam's sin and the fact that he has transmitted to us a sin with which we are all born afflicted, a sin which is the "death of the soul". Because of this certainty of faith, the Church baptizes for the remission of sins even tiny infants who have not committed personal sin.

404

Tội Ađam đã trở nên tội của tất cả dòng dõi của ông như thế nào? Toàn thể nhân loại đều ở trong Ađam “như một thân thể duy nhất của một con người duy nhất.” Do “tính thống nhất” này của nhân loại, mọi người đều bị liên lụy với tội Ađam, cũng như mọi người đều được thông phần vào sự công chính của Đức Kitô. Dẫu sao, việc lưu truyền tội tổ tông là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu cách đầy đủ. Nhưng nhờ mặc khải, chúng ta biết ông Ađam đã nhận được sự thánh thiện và công chính nguyên thủy không phải chỉ cho riêng ông, nhưng cho toàn thể bản tính nhân loại: Khi nghe theo Tên Cám Dỗ, ông Ađam và bà Evà đã phạm một tội cá nhân, nhưng tội đó ảnh hưởng đến bản tính nhân loại, một bản tính mà họ sẽ lưu truyền trong tình trạng đã sa ngã . Đó là một tội được lưu truyền cho toàn thể nhân loại qua việc sinh sản, nghĩa là qua việc lưu truyền một bản tính nhân loại đã mất sự thánh thiện và công chính nguyên thủy. Do đó, tội tổ tông được gọi là “tội” theo nghĩa loại suy: đó là một thứ tội con người bị “nhiễm” chứ không phải đã “phạm”; một tình trạng, chứ không phải một hành vi.

How did the sin of Adam become the sin of all his descendants? the whole human race is in Adam "as one body of one man". By this "unity of the human race" all men are implicated in Adam's sin, as all are implicated in Christ's justice. Still, the transmission of original sin is a mystery that we cannot fully understand. But we do know by Revelation that Adam had received original holiness and justice not for himself alone, but for all human nature. By yielding to the tempter, Adam and Eve committed a personal sin, but this sin affected the human nature that they would then transmit in a fallen state. It is a sin which will be transmitted by propagation to all mankind, that is, by the transmission of a human nature deprived of original holiness and justice. and that is why original sin is called "sin" only in an analogical sense: it is a sin "contracted" and not "committed" - a state and not an act.

405

Tội tổ tông, mặc dầu truyền đến mỗi người, nhưng không hề mang tính cách một tội của bản thân nơi bất kỳ ai trong con cháu ông Ađam. Không còn sự thánh thiện và sự công chính nguyên thủy, nhưng bản tính nhân loại không hoàn toàn bị hủy hoại: bản tính nhân loại bị thương tật trong các sức lực tự nhiên riêng của mình, u mê dốt nát, phải chịu đau khổ, bị sự chết thống trị, và hướng chiều về tội lỗi (sự hướng chiều về điều xấu được gọi là dục vọng: concupiscentia). Bí tích Rửa Tội, khi ban cho con người đời sống ân sủng của Chúa Kitô, xóa bỏ tội tổ tông và đưa con người trở về cùng Thiên Chúa, nhưng những hậu quả của tội tổ tông trên bản tính, đã bị suy yếu và hướng chiều về điều xấu, vẫn tồn tại nơi con người và kêu gọi con người vào cuộc chiến đấu thiêng liêng.

Although it is proper to each individual, original sin does not have the character of a personal fault in any of Adam's descendants. It is a deprivation of original holiness and justice, but human nature has not been totally corrupted: it is wounded in the natural powers proper to it, subject to ignorance, suffering and the dominion of death, and inclined to sin - an inclination to evil that is called concupiscence". Baptism, by imparting the life of Christ's grace, erases original sin and turns a man back towards God, but the consequences for nature, weakened and inclined to evil, persist in man and summon him to spiritual battle.

406

Giáo lý của Hội Thánh về sự lưu truyền tội tổ tông đã được xác định cách đặc biệt vào thế kỷ V, chủ yếu là dưới ảnh hưởng sự quan tâm của thánh Augustinô chống lại chủ thuyết của ông Pêlagiô, và vào thế kỷ XVI, chống lại cuộc Cải Cách của những người thệ phản. Ông Pêlagiô chủ trương rằng, bằng sức mạnh tự nhiên của ý chí tự do, không cần sự trợ giúp của ân sủng, con người vẫn có thể sống tốt lành về mặt luân lý; như vậy, ông này giản lược ảnh hưởng của tội Ađam thành ảnh hưởng của một gương xấu. Trái lại, những nhà Cải Cách thệ phản đầu tiên chủ trương rằng, vì tội tổ tông, con người đã bị hư hỏng hoàn toàn và con người không còn sự tự do; họ đồng hóa tội mà mỗi người lãnh nhận do lưu truyền với sự nghiêng chiều về sự dữ (dục vọng), một sự nghiêng chiều không thể cưỡng lại được. Hội Thánh đã tuyên bố về ý nghĩa của mặc khải liên quan đến tội tổ tông, đặc biệt tại Công đồng Arausicanô II năm 529, và tại Công đồng Triđentinô năm 1546.

The Church's teaching on the transmission of original sin was articulated more precisely in the fifth century, especially under the impulse of St. Augustine's reflections against Pelagianism, and in the sixteenth century, in opposition to the Protestant Reformation. Pelagius held that man could, by the natural power of free will and without the necessary help of God's grace, lead a morally good life; he thus reduced the influence of Adam's fault to bad example. the first Protestant reformers, on the contrary, taught that original sin has radically perverted man and destroyed his freedom; they identified the sin inherited by each man with the tendency to evil (concupiscentia), which would be insurmountable. the Church pronounced on the meaning of the data of Revelation on original sin especially at the second Council of Orange (529) and at the Council of Trent (1546).

407

Giáo lý về tội tổ tông, gắn liền với giáo lý về ơn Cứu chuộc nhờ Đức Kitô, mang lại cho ta một cái nhìn để phân định sáng suốt về tình trạng của con người và hành động của họ ở trần gian. Vì tội tổ tông, ma quỷ đã có được một quyền thống trị nào đó trên con người, mặc dầu con người vẫn còn tự do. Tội tổ tông khiến con người “bị cầm giữ dưới quyền của kẻ nắm quyền thống trị của sự chết, tức là ma quỷ.” Nếu không biết rằng bản tính nhân loại đã bị tổn thương, bị nghiêng chiều về sự dữ, người ta có thể mắc những sai lầm nghiêm trọng trong các lãnh vực giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội và luân lý.

The doctrine of original sin, closely connected with that of redemption by Christ, provides lucid discernment of man's situation and activity in the world. By our first parents' sin, the devil has acquired a certain domination over man, even though man remains free. Original sin entails "captivity under the power of him who thenceforth had the power of death, that is, the devil". Ignorance of the fact that man has a wounded nature inclined to evil gives rise to serious errors in the areas of education, politics, social action and morals.

408

Các hậu quả của tội tổ tông và của tất cả các tội cá nhân của con người đã đưa trần gian, trong tổng thể của nó, vào một tình trạng tội lỗi mà thánh Gioan đã gọi bằng kiểu nói: “tội trần gian” (Ga 1,29). Kiểu nói này cũng được dùng để nêu lên ảnh hưởng tiêu cực mà các thỏa thuận tập thể và các cơ cấu xã hội, là hoa trái của tội lỗi con người, áp đặt lên các nhân vị.

The consequences of original sin and of all men's personal sins put the world as a whole in the sinful condition aptly described in St. John's expression, "the sin of the world". This expression can also refer to the negative influence exerted on people by communal situations and social structures that are the fruit of men's sins.

409

Hoàn cảnh bi đát như vậy của trần gian, đang “nằm dưới ách thống trị của Ác thần” (1 Ga 5,19) làm cho đời sống con người trở thành một cuộc chiến đấu: “Toàn bộ lịch sử của nhân loại là lịch sử của cuộc chiến cam go chống lại quyền lực của sự dữ, khởi đầu ngay từ lúc bình minh của lịch sử và sẽ kéo dài đến ngày cuối cùng như lời Chúa phán. Nằm giữa cuộc chiến này, con người phải luôn luôn chiến đấu để gắn bó với điều thiện hảo và chỉ sau khi hết sức cố gắng và với sự trợ giúp của ơn Chúa, con người mới đạt được sự thống nhất nội tâm.”

This dramatic situation of "the whole world [which] is in the power of the evil one" makes man's life a battle:

410

Sau khi sa ngã, con người không bị Thiên Chúa bỏ rơi. Trái lại, Thiên Chúa gọi con người và, một cách bí nhiệm, loan báo cho con người cuộc chiến thắng trên sự dữ và việc nâng con người sa ngã dậy. Đoạn này trong sách Sáng Thế được gọi là “Tiền Tin Mừng” bởi vì đó là lời loan báo đầu tiên về Đấng Mêsia Cứu Chuộc, về cuộc chiến đấu giữa con rắn và Người Nữ, và về chiến thắng chung cuộc của một hậu duệ Người Nữ này.

After his fall, man was not abandoned by God. On the contrary, God calls him and in a mysterious way heralds the coming victory over evil and his restoration from his fall. This passage in Genesis is called the Protoevangelium ("first gospel"): the first announcement of the Messiah and Redeemer, of a battle between the serpent and the Woman, and of the final victory of a descendant of hers.

411

Truyền thống Kitô Giáo nhận ra trong đoạn này lời tiên báo một vị “Ađam mới”, Đấng đã lấy sự “vâng lời cho đến chết... trên thập giá” (Pl 2,8) của mình, mà sửa lại một cách đầy tràn chan chứa tội bất tuân của ông Ađam. Đàng khác, nơi Người Nữ được tiên báo trong Tiền Tin Mừng, nhiều Giáo phụ và tiến sĩ Hội Thánh nhận ra Đức Maria, Mẹ Đức Kitô, như là một bà “Evà mới.” Đức Maria là người đầu tiên và theo một cách thế độc nhất vô nhị, được thừa hưởng chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi: Bà được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ của tội tổ tông và trong suốt cuộc đời trần thế của mình, nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, Bà đã không hề phạm một tội nào.

The Christian tradition sees in this passage an announcement of the "New Adam" who, because he "became obedient unto death, even death on a cross", makes amends superabundantly for the disobedience, of Adam. Furthermore many Fathers and Doctors of the Church have seen the woman announced in the "Proto-evangelium" as Mary, the mother of Christ, the "new Eve". Mary benefited first of all and uniquely from Christ's victory over sin: she was preserved from all stain of original sin and by a special grace of God committed no sin of any kind during her whole earthly life.

412

Nhưng tại sao Thiên Chúa không ngăn cản con người đầu tiên phạm tội? Thánh Lêô Cả trả lời: “Điều chúng ta nhận được nhờ ân sủng khôn tả của Đức Kitô cao cả hơn điều chúng ta bị mất vì sự ghen tương của ma quỷ.” Và thánh Tôma Aquinô nói: “Không có gì ngăn cản bản tính loài người, sau tội lỗi, lại được nâng lên một mức cao hơn: thật vậy, Thiên Chúa cho phép sự dữ xảy ra để từ đó Ngài rút ra một điều thiện hảo hơn. Do đó, thánh Phaolô đã nói trong Rm 5,20: ‘Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội’; và do đó, trong bài Công bố Tin Mừng Phục Sinh có câu: ‘Ôi tội hồng phúc (felix culpa), nhờ có tội, ta mới có được Đấng Cứu Chuộc cao cả dường này!’.”

But why did God not prevent the first man from sinning? St. Leo the Great responds, "Christ's inexpressible grace gave us blessings better than those the demon's envy had taken away." and St. Thomas Aquinas wrote, "There is nothing to prevent human nature's being raised up to something greater, even after sin; God permits evil in order to draw forth some greater good. Thus St. Paul says, 'Where sin increased, grace abounded all the more'; and the Exsultet sings, 'O happy fault,. . . which gained for us so great a Redeemer!'"

413

“Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong... Nhưng chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian” (Kn 1,13; 2,24).

"God did not make death, and he does not delight in the death of the living. . . It was through the devil's envy that death entered the world" (Wis 1:13; 2:24).

414

Xatan hoặc ma quỷ và các ác thần khác là những thiên thần sa ngã bởi vì chúng đã tự do khước từ phục vụ Thiên Chúa và kế hoạch của Ngài. Lựa chọn của chúng là một lựa chọn dứt khoát chống lại Thiên Chúa. Chúng ra sức lôi kéo con người vào cuộc nổi loạn của chúng chống lại Thiên Chúa.

Satan or the devil and the other demons are fallen angels who have freely refused to serve God and his plan. Their choice against God is definitive. They try to associate man in their revolt against God.

415

“Được Thiên Chúa dựng nên trong tình trạng công chính, nhưng con người, bị ma quỷ dụ dỗ, ngay từ khởi đầu lịch sử, đã lạm dụng sự tự do của mình, nâng mình lên chống lại Thiên Chúa và muốn đạt tới cứu cánh của mình ngoài Thiên Chúa.”

"Although set by God in a state of rectitude man, enticed by the evil one, abused his freedom at the very start of history. He lifted himself up against God, and sought to attain his goal apart from him" (GS 13 # 1).

416

Ông Ađam, với tư cách là con người đầu tiên, vì tội của mình, đã đánh mất sự thánh thiện và công chính nguyên thủy mà ông đã lãnh nhận từ Thiên Chúa, không phải cho riêng mình ông nhưng cho tất cả mọi người.

By his sin Adam, as the first man, lost the original holiness and justice he had received from God, not only for himself but for all human beings.

417

Vì tội đầu tiên của họ, ông Ađam và bà Evà đã lưu truyền cho hậu duệ một bản tính nhân loại đã bị thương tật, nên đã mất đi sự thánh thiện và sự công chính nguyên thủy. Sự mất mát đó được gọi là “tội tổ tông.”

Adam and Eve transmitted to their descendants human nature wounded by their own first sin and hence deprived of original holiness and justice; this deprivation is called "original sin".

418

Hậu quả của tội tổ tông là bản tính nhân loại bị suy yếu trong các sức lực tự nhiên của mình, u mê dốt nát, phải đau khổ, bị sự chết thống trị và hướng chiều về tội lỗi (sự hướng chiều này được gọi là “dục vọng”).

As a result of original sin, human nature is weakened in its powers, subject to ignorance, suffering and the domination of death, and inclined to sin (this inclination is called "concupiscence").

419

“Cùng với Công đồng Triđentinô, chúng tôi xác quyết rằng tội tổ tông được lưu truyền lại cùng với bản tính loài người, ‘không phải do bắt chước, nhưng qua truyền sinh’ và tội ấy ‘thuộc về riêng mỗi người’.”

"We therefore hold, with the Council of Trent, that original sin is transmitted with human nature, "by propagation, not by imitation" and that it is. . . 'proper to each'" (Paul VI, CPG # 16).

420

Chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi đã ban cho chúng ta những điều thiện hảo cao quý hơn những gì tội lỗi đã lấy mất của chúng ta: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5,20).

The victory that Christ won over sin has given us greater blessings than those which sin had taken from us: "where sin increased, grace abounded all the more" (Rom 5:20).

421

“Các Kitô hữu tin rằng trần gian này đã được dựng nên và bảo tồn bởi tình yêu của Đấng Tạo Hóa, quả thật nó đã rơi vào ách nô lệ tội lỗi, nhưng đã được giải thoát bởi Đức Kitô, Đấng chịu đóng đinh và phục sinh để đập tan quyền lực của Ác thần.”

Christians believe that "the world has been established and kept in being by the Creator's love; has fallen into slavery to sin but has been set free by Christ, crucified and risen to break the power of the evil one. . ." (GS 2 # 2).