Hỏi Đáp Công Giáo
Tuyên Xưng Đức Tin · Tuyên xưng đức tin Kitô Giáo · Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa
MỤC 2

“Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô, là Con Một Đức Chúa Cha, cùng là Chúa chúng tôi”

Số 422–455
422

“Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ và sống dưới Lề luật, để chuộc những ai sống dưới Lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4,4-5). Đây là Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa: Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài. Ngài đã thực hiện những lời hứa với tổ phụ Ápraham và con cháu ông. Ngài đã thực hiện vượt quá mọi điều chúng ta mong ước: Ngài đã sai Con yêu dấu của Ngài tới.

'But when the time had fully come, God sent forth his Son, born of a woman, born under the law, to redeem those who were under the law, so that we might receive adoption as sons.' This is 'the gospel of Jesus Christ, the Son of God': God has visited his people. He has fulfilled the promise he made to Abraham and his descendants. He acted far beyond all expectation - he has sent his own 'beloved Son'.

423

Chúng tôi tin và chúng tôi tuyên xưng rằng: Chúa Giêsu Nadarét, một người Do Thái sinh bởi một phụ nữ Ítraen tại Bêlem dưới thời vua Hêrôđê Cả và hoàng đế Xêda Augustô I, vốn làm nghề thợ mộc, đã chịu chết trên thập giá tại Giêrusalem, thời tổng trấn Phongxiô Philatô dưới triều hoàng đế Tibêriô, Chúa Giêsu ấy là Con vĩnh cửu của Thiên Chúa, đã làm người, “Người bởi Thiên Chúa mà đến” (Ga 13,3), là “Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13; 6,33), Đấng đã đến trong xác phàm, bởi vì “Ngôi Lời đã trở nên người phàm, và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,14.16).

We believe and confess that Jesus of Nazareth, born a Jew of a daughter of Israel at Bethlehem at the time of King Herod the Great and the emperor Caesar Augustus, a carpenter by trade, who died crucified in Jerusalem under the procurator Pontius Pilate during the reign of the emperor Tiberius, is the eternal Son of God made man. He 'came from God', 'descended from heaven', and 'came in the flesh'. For 'the Word became flesh and dwelt among us, full of grace and truth; we have beheld his glory, glory as of the only Son from the Father. . . and from his fullness have we all received, grace upon grace.'

424

Được tác động bởi ân sủng Chúa Thánh Thần và được Chúa Cha lôi kéo, chúng tôi tin và tuyên xưng về Chúa Giêsu rằng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Trên tảng đá đức tin, mà ông Phêrô đã tuyên xưng, Đức Kitô đã xây dựng Hội Thánh của Người.

Moved by the grace of the Holy Spirit and drawn by the Father, we believe in Jesus and confess: 'You are the Christ, the Son of the living God.' On the rock of this faith confessed by St. Peter, Christ built his Church. "To preach. . . the unsearchable riches of Christ"

425

Lưu truyền đức tin Kitô Giáo, trước tiên là loan báo Chúa Giêsu Kitô, để dẫn đưa người ta đến chỗ tin vào Người. Ngay từ đầu, các môn đệ tiên khởi đã khao khát loan báo Đức Kitô: “Phần chúng tôi, những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra” (Cv 4,20). Các ông đã kêu mời con người trong mọi thời đại vào hưởng niềm vui hiệp thông với Đức Kitô: “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời Sự Sống. Quả vậy, sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi. Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Chúa Giêsu Kitô, Con của Ngài. Những điều này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (1 Ga 1,1-4).

The transmission of the Christian faith consists primarily in proclaiming Jesus Christ in order to lead others to faith in him. From the beginning, the first disciples burned with the desire to proclaim Christ: "We cannot but speak of what we have seen and heard." It and they invite people of every era to enter into the joy of their communion with Christ:

426

“Phải xác quyết ngay rằng, ở trung tâm của việc dạy giáo lý, chủ yếu chúng ta gặp một nhân vật: đó là Chúa Giêsu Kitô Nadarét, ‘Con Một của Chúa Cha’... Người đã chịu khổ hình và đã chịu chết vì chúng ta; và Người, từ khi sống lại, luôn luôn sống với chúng ta... Dạy giáo lý là giúp người ta nhận ra toàn bộ kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa trong con người Đức Kitô; là tìm hiểu ý nghĩa các hành động và lời nói của Đức Kitô, và các dấu lạ Người đã thực hiện.” Mục đích của việc dạy giáo lý là “dẫn đưa con người đến hiệp thông với Chúa Giêsu Kitô; chỉ một mình Người mới có thể dẫn người ta đến tình yêu của Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần và đến chỗ được thông phần vào sự sống của Ba Ngôi Chí Thánh.”

"At the heart of catechesis we find, in essence, a Person, the Person of Jesus of Nazareth, the only Son from the Father. . .who suffered and died for us and who now, after rising, is living with us forever." To catechize is "to reveal in the Person of Christ the whole of God's eternal design reaching fulfilment in that Person. It is to seek to understand the meaning of Christ's actions and words and of the signs worked by him." Catechesis aims at putting "people . . . in communion . . . with Jesus Christ: only he can lead us to the love of the Father in the Spirit and make us share in the life of the Holy Trinity."

427

“Trong việc dạy giáo lý, phải giảng dạy Đức Kitô, là Ngôi Lời nhập thể và là Con Thiên Chúa, những điều khác phải được quy chiếu về Người; chỉ một mình Đức Kitô giảng dạy, còn bất cứ ai khác giảng dạy đều phải là phát ngôn viên của Người, phải để Đức Kitô nói qua miệng lưỡi họ... Mọi giáo lý viên đều phải có thể áp dụng cho mình lời nói huyền nhiệm này của Chúa Giêsu: ‘Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi’” (Ga 7,16).

In catechesis "Christ, the Incarnate Word and Son of God,. . . is taught - everything else is taught with reference to him - and it is Christ alone who teaches - anyone else teaches to the extent that he is Christ's spokesman, enabling Christ to teach with his lips. . . Every catechist should be able to apply to himself the mysterious words of Jesus: 'My teaching is not mine, but his who sent me.'"

428

Ai được kêu gọi rao giảng Tin Mừng Đức Kitô, trước hết phải tìm “mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô”; người ấy phải “đành mất hết”, “để được Đức Kitô và được kết hợp với Người”, và để “biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3,8-11).

Whoever is called "to teach Christ" must first seek "the surpassing worth of knowing Christ Jesus"; he must suffer "the loss of all things. . ." in order to "gain Christ and be found in him", and "to know him and the power of his resurrection, and (to) share his sufferings, becoming like him in his death, that if possible (he) may attain the resurrection from the dead".

429

Từ việc nhận biết Đức Kitô với tâm tình yêu mến, sẽ nảy sinh ước ao loan báo Người, ước ao “rao giảng Tin Mừng” về Người, và ước ao dẫn đưa người khác đến chỗ “chấp nhận” đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Nhưng đồng thời, người ta cũng cảm thấy nhu cầu phải luôn hiểu biết đức tin ấy một cách tốt hơn. Nhằm mục đích đó, theo thứ tự của Tín biểu, trước hết các tước hiệu chính của Chúa Giêsu sẽ được trình bày: Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Chúa (Mục 2). Tiếp đó Tín biểu tuyên xưng các mầu nhiệm chính yếu của cuộc đời Đức Kitô: các mầu nhiệm về việc Nhập Thể của Người (Mục 3), các mầu nhiệm về cuộc Vượt Qua của Người (Mục 4 và 5) và sau cùng các mầu nhiệm về sự Tôn Vinh Người (Mục 6 và 7).

From this loving knowledge of Christ springs the desire to proclaim him, to "evangelize", and to lead others to the "yes" of faith in Jesus Christ. But at the same time the need to know this faith better makes itself felt. To this end, following the order of the Creed, Jesus' principal titles - "Christ", "Son of God", and "Lord" (article 2) - will be presented. the Creed next confesses the chief mysteries of his life - those of his Incarnation (article 3), Paschal mystery (articles 4 and 5) and glorification (articles 6 and 7).

430

Trong tiếng Do Thái, “Giêsu” có nghĩa là “Thiên Chúa Cứu Độ.” Khi Truyền tin, thiên thần Gáprien dạy đặt tên cho Người là Giêsu; tên gọi này vừa diễn tả căn tính của Người, vừa diễn tả sứ vụ của Người. Bởi vì không ai “có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa” (Mc 2,7), cho nên, trong Chúa Giêsu là Con vĩnh cửu của Ngài, đã làm người, chính Thiên Chúa “sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). Như vậy, nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa tóm kết toàn bộ lịch sử cứu độ của Ngài cho nhân loại.

Jesus means in Hebrew: "God saves." At the annunciation, the angel Gabriel gave him the name Jesus as his proper name, which expresses both his identity and his mission. Since God alone can forgive sins, it is God who, in Jesus his eternal Son made man, "will save his people from their sins". in Jesus, God recapitulates all of his history of salvation on behalf of men.

431

Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa không chỉ bằng lòng với việc giải thoát Ítraen khỏi “cảnh nô lệ” (Đnl 5,6) khi đưa họ ra khỏi Ai Cập. Ngài còn cứu họ khỏi tội lỗi của họ nữa. Bởi vì tội luôn là một xúc phạm đến Thiên Chúa, nên chỉ mình Ngài mới có quyền tha tội. Vì vậy, khi Ítraen càng ý thức rõ hơn về tính phổ quát của tội lỗi, họ càng không thể tìm kiếm ơn cứu độ ngoài việc khẩn cầu danh Thiên Chúa, Đấng Cứu Chuộc.

In the history of salvation God was not content to deliver Israel "out of the house of bondage" by bringing them out of Egypt. He also saves them from their sin. Because sin is always an offence against God, only he can forgive it. For this reason Israel, becoming more and more aware of the universality of sin, will no longer be able to seek salvation except by invoking the name of the Redeemer God.

432

Danh “Giêsu” nói lên rằng chính Danh Thánh Thiên Chúa hiện diện nơi bản thân của Con Ngài, Đấng đã làm người để cứu chuộc mọi người khỏi tội lỗi một cách dứt khoát. “Giêsu” là một Danh thần linh, Danh duy nhất mang lại ơn cứu độ, và từ nay mọi người có thể kêu cầu Danh của Người, bởi vì qua việc Nhập Thể, chính Người đã tự kết hợp với tất cả mọi người đến độ “dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12).

The name "Jesus" signifies that the very name of God is present in the person of his Son, made man for the universal and definitive redemption from sins. It is the divine name that alone brings salvation, and henceforth all can invoke his name, for Jesus united himself to all men through his Incarnation, so that "there is no other name under heaven given among men by which we must be saved."

433

Thánh danh Thiên Chúa Cứu Độ được vị thượng tế kêu cầu mỗi năm một lần để xin ơn xá tội cho Ítraen, khi ông lấy máu của hy lễ rảy lên bàn xá tội trong nơi Cực Thánh. Bàn xá tội xưa là nơi Thiên Chúa hiện diện. Khi thánh Phaolô nói về Chúa Giêsu: “Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội nhờ máu của Người” (Rm 3,25), ông muốn nói rằng trong bản tính nhân loại của Chúa Giêsu, “Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Ngài” (2 Cr 5,19).

The name of the Saviour God was invoked only once in the year by the high priest in atonement for the sins of Israel, after he had sprinkled the mercy seat in the Holy of Holies with the sacrificial blood. the mercy seat was the place of God's presence. When St. Paul speaks of Jesus whom "God put forward as an expiation by his blood", he means that in Christ's humanity "God was in Christ reconciling the world to himself."

434

Việc phục sinh của Chúa Giêsu làm hiển vinh thánh danh Thiên Chúa Cứu Độ, bởi vì từ lúc đó Danh Giêsu bày tỏ cách trọn vẹn quyền năng tối thượng của “Danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2,9-10). Các Thần dữ khiếp sợ Danh Người, và nhân Danh Người, các môn đệ Chúa Giêsu làm nhiều phép lạ, bởi vì tất cả những gì họ xin Chúa Cha nhân danh Chúa Giêsu, Chúa Cha đều ban cho họ.

Jesus' Resurrection glorifies the name of the Saviour God, for from that time on it is the name of Jesus that fully manifests the supreme power of the "name which is above every name". The evil spirits fear his name; in his name his disciples perform miracles, for the Father grants all they ask in this name.

435

Danh Chúa Giêsu nằm ở trung tâm của kinh nguyện Kitô Giáo. Tất cả các lời nguyện trong phụng vụ đều kết thúc bằng công thức: “Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.” Tột đỉnh của Kinh Kính Mừng Maria là câu “và Giêsu, con lòng Bà gồm phúc lạ.” Lời tâm nguyện của Giáo Hội Đông phương, gọi là “Lời khẩn nguyện Chúa Giêsu” (oratio Iesu) thưa lên rằng: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội.” Nhiều Kitô hữu đã chết khi miệng chỉ kêu danh thánh “Giêsu”, như thánh nữ Gioanna xứ Arc (Jean d’Arc).

The name of Jesus is at the heart of Christian prayer. All liturgical prayers conclude with the words "through our Lord Jesus Christ". the Hail Mary reaches its high point in the words "blessed is the fruit of thy womb, Jesus." the Eastern prayer of the heart, the Jesus Prayer, says: "Lord Jesus Christ, Son of God, have mercy on me, a sinner." Many Christians, such as St. Joan of Arc, have died with the one word "Jesus" on their lips.

436

Danh hiệu “Kitô” là một từ Hy Lạp, dịch từ “Mêsia” của tiếng Do Thái, có nghĩa là “người được xức dầu.” Danh hiệu này trở thành tên riêng của Chúa Giêsu bởi vì Người đã chu toàn cách hoàn hảo sứ vụ thần linh mà danh hiệu ấy bao hàm. Quả vậy, trong Ítraen, những ai được thánh hiến cho Thiên Chúa để thi hành một sứ vụ Ngài giao phó, đều được xức dầu nhân danh Thiên Chúa. Đó là trường hợp của các vua, các tư tế và đôi khi, các tiên tri. Đó phải là, một cách tuyệt hảo, trường hợp của Đấng Mêsia, là người Thiên Chúa sai đến để thiết lập Nước của Ngài cách vĩnh viễn. Đấng Mêsia phải được xức dầu bằng Thần Khí của Chúa với tư cách là vua, đồng thời là tư tế, và cũng với tư cách là tiên tri. Chúa Giêsu đã thực hiện niềm hy vọng về Đấng Mêsia của Ítraen trong ba nhiệm vụ của Người là Tư tế, Tiên tri và Vương đế.

The word "Christ" comes from the Greek translation of the Hebrew Messiah, which means "anointed". It became the name proper to Jesus only because he accomplished perfectly the divine mission that "Christ" signifies. In effect, in Israel those consecrated to God for a mission that he gave were anointed in his name. This was the case for kings, for priests and, in rare instances, for prophets. This had to be the case all the more so for the Messiah whom God would send to inaugurate his kingdom definitively. It was necessary that the Messiah be anointed by the Spirit of the Lord at once as king and priest, and also as prophet. Jesus fulfilled the messianic hope of Israel in his threefold office of priest, prophet and king.

437

Thiên thần đã loan báo cho các mục đồng việc Giáng Sinh của Chúa Giêsu, với tính cách là việc ra đời của Đấng Mêsia đã được hứa ban cho Ítraen: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành Vua Đavít, Người là Đấng Kitô, là ĐỨC CHÚA” (Lc 2,11). Ngay từ đầu, Chúa Giêsu là “Đấng Chúa Cha đã hiến thánh và sai đến thế gian” (Ga 10,36), với tư cách là “Đấng Thánh” (Lc 1,35) được cưu mang trong lòng dạ trinh khiết của Đức Maria. Thánh Giuse được Thiên Chúa kêu gọi đón bà Maria vợ ông về, “vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20), để Chúa Giêsu, “cũng gọi là Đấng Kitô” (Mt 1,16), được sinh ra do vợ ông Giuse trong dòng tộc thiên sai (in generatione messianica) của vua Đavít.

To the shepherds, the angel announced the birth of Jesus as the Messiah promised to Israel: "To you is born this day in the city of David a Saviour, who is Christ the Lord." From the beginning he was "the one whom the Father consecrated and sent into the world", conceived as "holy" in Mary's virginal womb. God called Joseph to "take Mary as your wife, for that which is conceived in her is of the Holy Spirit", so that Jesus, "who is called Christ", should be born of Joseph's spouse into the messianic lineage of David.

438

Việc được thánh hiến làm Đấng Mêsia của Chúa Giêsu biểu lộ sứ vụ thần linh của Người. “Trong danh hiệu ‘Kitô’ bao gồm Đấng xức dầu, Đấng được xức dầu, và chính việc xức dầu: Đấng xức dầu là Chúa Cha, Đấng được xức dầu là Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần, Đấng là Việc xức dầu.” Việc xức dầu thánh hiến vĩnh cửu của Chúa Giêsu được mặc khải trong cuộc đời trần thế của Người khi Người chịu phép rửa bởi ông Gioan, khi “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người” (Cv 10,38) “để Người được tỏ ra cho dân Ítraen” (Ga 1,31) trong tư cách là Đấng Mêsia của Thiên Chúa. Những việc Người làm và những lời Người dạy giúp cho chúng ta nhận biết Người là “Đấng Thánh của Thiên Chúa.”

Jesus' messianic consecration reveals his divine mission, "for the name 'Christ' implies 'he who anointed', 'he who was anointed' and 'the very anointing with which he was anointed'. the one who anointed is the Father, the one who was anointed is the Son, and he was anointed with the Spirit who is the anointing.'" His eternal messianic consecration was revealed during the time of his earthly life at the moment of his baptism by John, when "God anointed Jesus of Nazareth with the Holy Spirit and with power", "that he might be revealed to Israel" as its Messiah. His works and words will manifest him as "the Holy One of God".

439

Nhiều người Do Thái, và cả một số người ngoại cùng chia sẻ niềm hy vọng của Ítraen, đã nhận ra nơi Chúa Giêsu những nét cơ bản của “Con vua Đavít”, Đấng Mêsia mà Thiên Chúa đã hứa ban cho Ítraen. Chúa Giêsu đã chấp nhận danh hiệu Mêsia, Người có quyền làm như vậy, nhưng Người chấp nhận một cách dè dặt, bởi vì danh hiệu này bị một số người đương thời với Người hiểu theo một quan niệm quá phàm trần, đặc biệt mang tính chất chính trị.

Many Jews and even certain Gentiles who shared their hope recognized in Jesus the fundamental attributes of the messianic "Son of David", promised by God to Israel. Jesus accepted his rightful title of Messiah, though with some reserve because it was understood by some of his contemporaries in too human a sense, as essentially political.

440

Khi thánh Phêrô tuyên xưng Người là Đấng Mêsia, Chúa Giêsu chấp nhận lời tuyên xưng đức tin đó, nhưng Người loan báo ngay cuộc khổ nạn đã gần đến của “Con Người.” Người tỏ cho thấy ý nghĩa đích thực của vương quyền Mêsia của Người, vừa trong căn tính siêu việt của Con Người, “Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13), vừa trong sứ vụ cứu chuộc của Người với tư cách là Người Tôi trung đau khổ: “Con Người đến, không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Do đó, ý nghĩa đích thực của vương quyền Người chỉ được biểu lộ cách tột đỉnh trên Thập Giá. Chỉ sau khi Người sống lại, thánh Phêrô mới có thể công bố vương quyền Mêsia của Người trước mặt dân Thiên Chúa: “Vậy toàn thể nhà Ítraen phải biết chắc điều này: Chúa Giêsu mà anh em đã treo trên Thập Giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Chúa và làm Đấng Kitô” (Cv 2,36).

Jesus accepted Peter's profession of faith, which acknowledged him to be the Messiah, by announcing the imminent Passion of the Son of Man. He unveiled the authentic content of his messianic kingship both in the transcendent identity of the Son of Man "who came down from heaven", and in his redemptive mission as the suffering Servant: "The Son of Man came not to be served but to serve, and to give his life as a ransom for many." Hence the true meaning of his kingship is revealed only when he is raised high on the cross. Only after his Resurrection will Peter be able to proclaim Jesus' messianic kingship to the People of God: "Let all the house of Israel therefore know assuredly that God has made him both Lord and Christ, this Jesus whom you crucified."

441

Trong Cựu Ước “Con Thiên Chúa” là danh hiệu được ban cho các Thiên thần, cho dân Chúa chọn, cho con cái Ítraen, và cho các vua của họ. Trong những trường hợp ấy, danh hiệu “Con Thiên Chúa” nói lên việc Thiên Chúa nhận một số thụ tạo làm nghĩa tử, và việc này tạo nên những mối liên hệ thân tình đặc biệt giữa Thiên Chúa và thụ tạo của Ngài. Khi vị Vua Mêsia của lời hứa được gọi là “Con Thiên Chúa”, điều này, xét theo nghĩa văn tự của các bản văn nêu trên, không nhất thiết hàm ý rằng Người có bản tính vượt trổi phàm nhân. Những người đã gọi Chúa Giêsu là Đấng Mêsia của Ítraen có lẽ cũng không có ý muốn nói gì hơn.

In the Old Testament, "son of God" is a title given to the angels, the Chosen People, the children of Israel, and their kings. It signifies an adoptive sonship that establishes a relationship of particular intimacy between God and his creature. When the promised Messiah-King is called "son of God", it does not necessarily imply that he was more than human, according to the literal meaning of these texts. Those who called Jesus "son of God", as the Messiah of Israel, perhaps meant nothing more than this.

442

Trường hợp thánh Phêrô thì khác, khi ông tuyên xưng Chúa Giêsu là “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, bởi vì Chúa Giêsu đã long trọng trả lời ông: “Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17). Tương tự như vậy, khi đề cập đến cuộc hối cải của mình trên đường đi Đamát, thánh Phaolô đã nói: “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Ngài. Ngài đã đoái thương mặc khải Con của Ngài cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Ngài cho các dân ngoại” (Gl 1,15-16). “Lập tức, ông bắt đầu rao giảng Chúa Giêsu trong các hội đường, rằng Người là Con Thiên Chúa” (Cv 9,20). Ngay từ đầu, điều này đã là trung tâm của đức tin tông truyền, đức tin mà thánh Phêrô, với tư cách là nền tảng Hội Thánh, đã tuyên xưng trước hết.

Such is not the case for Simon Peter when he confesses Jesus as "the Christ, the Son of the living God", for Jesus responds solemnly: "Flesh and blood has not revealed this to you, but my Father who is in heaven." Similarly Paul will write, regarding his conversion on the road to Damascus, "When he who had set me apart before I was born, and had called me through his grace, was pleased to reveal his Son to me, in order that I might preach him among the Gentiles..." "and in the synagogues immediately [Paul] proclaimed Jesus, saying, 'He is the Son of God.'" From the beginning this acknowledgment of Christ's divine sonship will be the centre of the apostolic faith, first professed by Peter as the Church's foundation.

443

Nếu thánh Phêrô có thể nhận ra tính chất siêu việt trong tư cách Con Thiên Chúa của Chúa Giêsu, Đấng Mêsia, thì đó là bởi vì chính Người đã nói lên điều đó cách rõ ràng. Trước Thượng Hội Đồng, khi những kẻ tố cáo hỏi Người: “Vậy ông là Con Thiên Chúa sao?”, Chúa Giêsu trả lời: “Đúng như các ông nói, chính tôi đây” (Lc 22,70). Trước đó đã lâu, Chúa Giêsu đã tự xưng mình là “Con”, là người biết rõ Chúa Cha, là người phân biệt mình với các “tôi tớ” mà Thiên Chúa đã sai đến trước với dân Ngài, là người trổi vượt trên cả các Thiên thần. Chúa Giêsu phân biệt tư cách làm “Con” của Người với tư cách làm con của các môn đệ Người vì không bao giờ Người nói “Cha chúng ta”, trừ lúc truyền dạy họ: “Anh em hãy cầu nguyện như thế này: ‘Lạy Cha chúng con’” (Mt 6,9); và Người nhấn mạnh sự khác biệt giữa “Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em” (Ga 20,17).

Peter could recognize the transcendent character of the Messiah's divine sonship because Jesus had clearly allowed it to be so understood. To his accusers' question before the Sanhedrin, "Are you the Son of God, then?" Jesus answered, "You say that I am." Well before this, Jesus referred to himself as "the Son" who knows the Father, as distinct from the "servants" God had earlier sent to his people; he is superior even to the angels. He distinguished his sonship from that of his disciples by never saying "our Father", except to command them: "You, then, pray like this: 'Our Father'", and he emphasized this distinction, saying "my Father and your Father".

444

Vào hai thời điểm quan trọng, lúc Đức Kitô chịu Phép Rửa và lúc Người Hiển Dung, các sách Tin Mừng nhắc đến tiếng Chúa Cha gọi Chúa Giêsu là “Con yêu dấu” của Ngài. Chính Chúa Giêsu cũng tự xưng là “Con Một” của Thiên Chúa (Ga 3,16) và qua danh hiệu đó, xác quyết sự tiền hữu vĩnh cửu (aeternam praeexsistentiam) của mình. Người đòi phải tin vào “danh Con Một Thiên Chúa” (Ga 3,18). Lời tuyên xưng này của Kitô Giáo đã xuất hiện ngay từ tiếng kêu của viên đại đội trưởng trước mặt Chúa Giêsu trên thập giá: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Chỉ trong mầu nhiệm Vượt Qua, người tin tước hiệu “Con Thiên Chúa” mới có thể hiểu được ý nghĩa cao cả nhất của tước hiệu đó.

The Gospels report that at two solemn moments, the Baptism and the Transfiguration of Christ, the voice of the Father designates Jesus his "beloved Son". Jesus calls himself the "only Son of God", and by this title affirms his eternal pre-existence. He asks for faith in "the name of the only Son of God". In the centurion's exclamation before the crucified Christ, "Truly this man was the Son of God", that Christian confession is already heard. Only in the Paschal mystery can the believer give the title "Son of God" its full meaning.

445

Sau khi Người phục sinh, tư cách Con Thiên Chúa của Đức Kitô tỏ rạng trong quyền năng của nhân tính được tôn vinh của Người. “Từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” (Rm 1,4). Các Tông Đồ có thể tuyên xưng: “Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1,14).

After his Resurrection, Jesus' divine sonship becomes manifest in the power of his glorified humanity. He was "designated Son of God in power according to the Spirit of holiness by his Resurrection from the dead". The apostles can confess: "We have beheld his glory, glory as of the only Son from the Father, full of grace and truth."

446

Trong bản dịch các sách Cựu ước ra tiếng Hy Lạp, YHWH, danh không thể xưng mà Thiên Chúa dùng để tự mặc khải cho ông Môsê, được dịch là Kyrios (“Chúa”). Từ đó, tước hiệu “Chúa” trở thành danh xưng thông dụng nhất để nói lên chính thần tính của Thiên Chúa Ítraen. Tân Ước dùng tước hiệu “Chúa”, theo nghĩa mạnh như trên, cho Chúa Cha, và đồng thời, và đây là điều mới mẻ, cũng dùng cho Chúa Giêsu, qua đó nhìn nhận Người chính là Thiên Chúa.

In the Greek translation of the Old Testament, the ineffable Hebrew name YHWH, by which God revealed himself to Moses, is rendered as Kyrios, "Lord". From then on, "Lord" becomes the more usual name by which to indicate the divinity of Israel's God. the New Testament uses this full sense of the title "Lord" both for the Father and - what is new - for Jesus, who is thereby recognized as God Himself.

447

Chính Chúa Giêsu nhận tước hiệu ấy cho mình một cách mặc nhiên khi tranh luận với các người Pharisêu về ý nghĩa thánh vịnh 110, nhưng khi nói chuyện với các Tông Đồ thì Người nhận một cách minh nhiên. Trong suốt cuộc đời công khai của Người, những cử chỉ thống trị của Chúa Giêsu trên thiên nhiên, trên bệnh tật, trên ma quỷ, trên sự chết và tội lỗi, chứng tỏ Người có quyền tối thượng của Thiên Chúa.

Jesus ascribes this title to himself in a veiled way when he disputes with the Pharisees about the meaning of Psalm 110, but also in an explicit way when he addresses his apostles. Throughout his public life, he demonstrated his divine sovereignty by works of power over nature, illnesses, demons, death and sin.

448

Trong các sách Tin Mừng, khi thưa chuyện với Chúa Giêsu, người ta rất thường gọi Người là “Chúa.” Tước hiệu này cho thấy lòng tôn kính và tin tưởng của những người đến với Chúa Giêsu và mong đợi Người cứu giúp và chữa lành. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, khi thưa như vậy, người ta nhìn nhận mầu nhiệm thần linh của Chúa Giêsu. Khi gặp gỡ Chúa Giêsu Phục sinh, việc gọi tước hiệu ấy trở thành việc thờ lạy: “Lạy Chúa của con! lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28). Lúc đó, việc gọi Người như vậy còn mang ý nghĩa kính yêu và thân ái, là điểm riêng của truyền thống Kitô Giáo: “Chúa đó!” (Ga 21,7).

Very often in the Gospels people address Jesus as "Lord". This title testifies to the respect and trust of those who approach him for help and healing. At the prompting of the Holy Spirit, "Lord" expresses the recognition of the divine mystery of Jesus. In the encounter with the risen Jesus, this title becomes adoration: "My Lord and my God!" It thus takes on a connotation of love and affection that remains proper to the Christian tradition: "It is the Lord!"

449

Khi dành cho Chúa Giêsu tước hiệu thần linh là “Chúa”, những lời tuyên xưng đức tin tiên khởi của Hội Thánh xác quyết ngay từ đầu rằng quyền năng, danh dự và vinh quang thuộc về Chúa Cha cũng thuộc về Chúa Giêsu, bởi vì Người “vốn dĩ là Thiên Chúa” (Pl 2,6), và bởi vì Chúa Cha đã làm tỏ hiện quyền chủ tể này của Chúa Giêsu khi cho Người sống lại từ cõi chết và tôn dương Người trong vinh quang của Ngài.

By attributing to Jesus the divine title "Lord", the first confessions of the Church's faith affirm from the beginning that the power, honour and glory due to God the Father are due also to Jesus, because "he was in the form of God", and the Father manifested the sovereignty of Jesus by raising him from the dead and exalting him into his glory.

450

Ngay từ đầu lịch sử Kitô Giáo, việc xác quyết quyền chủ tể của Chúa Giêsu trên trần gian và trên lịch sử cũng có nghĩa là nhìn nhận rằng, con người không được để cho tự do cá nhân của mình suy phục một cách tuyệt đối bất cứ quyền bính trần thế nào, nhưng chỉ suy phục một mình Thiên Chúa là Cha và Chúa Giêsu Kitô: Hoàng đế Xêda không phải là “Chúa.” Hội Thánh “tin rằng mình gặp được chìa khóa, trung tâm và cứu cánh của toàn thể lịch sử nhân loại nơi Chúa và Thầy của mình.”

From the beginning of Christian history, the assertion of Christ's lordship over the world and over history has implicitly recognized that man should not submit his personal freedom in an absolute manner to any earthly power, but only to God the Father and the Lord Jesus Christ: Caesar is not "the Lord". "The Church. . . believes that the key, the centre and the purpose of the whole of man's history is to be found in its Lord and Master."

451

Kinh nguyện Kitô Giáo được ghi dấu bằng tước hiệu “Chúa”, dù là lời mời gọi cầu nguyện “Chúa ở cùng anh chị em”, dù là câu kết thúc lời nguyện: “Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con”, hay cả trong tiếng kêu đầy tin tưởng và hy vọng “Maran atha” (“Chúa đến!”) hoặc “Marana tha” (“Lạy Chúa, xin ngự đến!”) (1 Cr 16,22). “Amen. Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20).

Christian prayer is characterized by the title "Lord", whether in the invitation to prayer ("The Lord be with you"), its conclusion ("through Christ our Lord") or the exclamation full of trust and hope: Maranatha ("Our Lord, come!") or Maranatha ("Come, Lord!") - "Amen Come Lord Jesus!"

452

Thánh Danh Giêsu có nghĩa là “Thiên Chúa Cứu Độ.” Hài nhi sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria được gọi là “Giêsu”: “Vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). “Dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12).

The name Jesus means "God saves". the child born of the Virgin Mary is called Jesus, "for he will save his people from their sins" (Mt 1:21): "there is no other name under heaven given among men by which we must be saved" (Acts 4:12).

453

Danh hiệu “Kitô” có nghĩa là “Đấng được xức dầu”, “Đấng Mêsia.” Chúa Giêsu là Đấng Kitô bởi vì “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người” (Cv 10,38). Người là “Đấng phải đến” (Lc 7,19), là đối tượng của niềm hy vọng của Ítraen.

The title "Christ" means "Anointed One" (Messiah).Jesus is the Christ, for "God anointed Jesus of Nazareth with the Holy Spirit and with power" (Acts 10:38). He was the one "who is to come" (Lk 7:19), the object of "the hope of Israel" (Acts 28:20).

454

Danh hiệu “Con Thiên Chúa” nói lên mối tương quan duy nhất và vĩnh cửu của Chúa Giêsu Kitô với Thiên Chúa, Cha của Người. Người là Con Một của Chúa Cha và là chính Thiên Chúa. Ai muốn trở thành Kitô hữu, người ấy nhất thiết phải tin rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.

The title "Son of God" signifies the unique and eternal relationship of Jesus Christ to God his Father: he is the only Son of the Father (cf Jn 1:14, 18; 3:16, 18); he is God himself (cf Jn 1:1). To be a Christian, one must believe that Jesus Christ is the Son of God (cf Acts 8:37; 1 Jn 2:23).

455

Danh hiệu “Chúa” nói lên quyền tối thượng của Thiên Chúa. Tuyên xưng hay kêu cầu Chúa Giêsu là Chúa, là tin vào thần tính của Người. “Không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3).

The title "Lord" indicates divine sovereignty. To confess or invoke Jesus as Lord is to believe in his divinity. "No one can say 'Jesus is Lord' except by the Holy Spirit'" (I Cor 12:3).