Hỏi Đáp Công Giáo
Tuyên Xưng Đức Tin · Tuyên xưng đức tin Kitô Giáo · Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa · Chúa Giêsu Kitô “bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi bà Maria đồng trinh”
TIẾT 1

Con Thiên Chúa làm người

Số 456–483
456

Cùng với Tín biểu Nicêa - Constantinôpôli, chúng ta tuyên xưng: “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria và đã làm người.”

With the Nicene Creed, we answer by confessing: "For us men and for our salvation he came down from heaven; by the power of the Holy Spirit, he became incarnate of the Virgin Mary, and was made man."

457

Ngôi Lời đã làm người để cứu độ chúng ta, bằng cách giao hòa chúng ta với Thiên Chúa: Thiên Chúa “đã yêu thương chúng ta và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10). “Chúa Cha đã sai Con của Ngài đến làm Đấng cứu độ thế gian” (1 Ga 4,14). “Chúa Giêsu đã xuất hiện để xóa bỏ tội lỗi” (1 Ga 3,5): “Bản tính chúng ta vì bệnh tật nên cần được chữa lành, vì sa ngã nên cần được nâng dậy, vì đã chết nên cần được phục sinh. Chúng ta đã đánh mất việc thông phần vào sự thiện, nên cần được dẫn trở về sự thiện. Chúng ta bị vây hãm trong bóng tối, nên cần đến ánh sáng. Chúng ta bị tù đày nên mong người cứu chuộc; bị thua trận, nên cần người trợ giúp, bị áp bức dưới ách nô lệ nên chờ người giải phóng. Đó lại là những lý do nhỏ bé và không xứng đáng để làm cho Thiên Chúa động lòng hay sao? Những lý do ấy không đủ để Thiên Chúa xuống viếng thăm bản tính nhân loại, trong lúc nhân loại đang ở trong tình trạng khốn cùng và bất hạnh hay sao?”

The Word became flesh for us in order to save us by reconciling us with God, who "loved us and sent his Son to be the expiation for our sins": "the Father has sent his Son as the Saviour of the world", and "he was revealed to take away sins":

458

Ngôi Lời đã làm người để chúng ta nhận biết tình yêu của Thiên Chúa: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Ngài mà chúng ta được sống” (1 Ga 4,9). “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

The Word became flesh so that thus we might know God's love: "In this the love of God was made manifest among us, that God sent his only Son into the world, so that we might live through him." "For God so loved the world that he gave his only Son, that whoever believes in him should not perish but have eternal life."

459

Ngôi Lời đã làm người để trở thành gương mẫu thánh thiện cho chúng ta. “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi...” (Mt 11,29). “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Và trên núi Hiển Dung, Chúa Cha đã truyền: “Hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9,7). Người đúng là gương mẫu của các mối phúc thật và là chuẩn mực của Luật mới: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Tình yêu này đòi hỏi người ta thật sự hiến thân để đi theo Người.

The Word became flesh to be our model of holiness: "Take my yoke upon you, and learn from me." "I am the way, and the truth, and the life; no one comes to the Father, but by me." On the mountain of the Transfiguration, the Father commands: "Listen to him!" Jesus is the model for the Beatitudes and the norm of the new law: "Love one another as I have loved you." This love implies an effective offering of oneself, after his example.

460

Ngôi Lời đã làm người để làm cho chúng ta được “thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4). “Chính vì điều này mà Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người, Đấng là Con Thiên Chúa trở nên Con Người, đó là để cho loài người, khi kết hợp với Ngôi Lời của Thiên Chúa và nhận quyền làm nghĩa tử, thì được trở nên con cái Thiên Chúa.” “Chính Người đã làm người, để chúng ta được trở thành những vị thần.” “Con Một Thiên Chúa, bởi muốn cho chúng ta được tham dự vào thần tính của Người, nên đã mang lấy bản tính của chúng ta, để Đấng đã làm người, làm cho người ta trở thành những vị thần.”

The Word became flesh to make us "partakers of the divine nature": "For this is why the Word became man, and the Son of God became the Son of man: so that man, by entering into communion with the Word and thus receiving divine sonship, might become a son of God." "For the Son of God became man so that we might become God." "The only-begotten Son of God, wanting to make us sharers in his divinity, assumed our nature, so that he, made man, might make men gods."

461

Lấy lại cách nói của thánh Gioan (“Ngôi Lời đã trở thành nhục thể”: Ga 1,14), Hội Thánh dùng từ “Nhập Thể” để gọi sự kiện Con Thiên Chúa nhận lấy bản tính nhân loại, để thực hiện việc cứu độ chúng ta trong bản tính ấy. Trong một thánh thi do thánh Phaolô ghi lại, Hội Thánh hát mừng mầu nhiệm Nhập Thể như sau: “Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu: Chúa Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,5-8).

Taking up St. John's expression, "The Word became flesh", The Church calls "Incarnation" the fact that the Son of God assumed a human nature in order to accomplish our salvation in it. In a hymn cited by St. Paul, the Church sings the mystery of the Incarnation:

462

Thư gửi tín hữu Do Thái cũng nói về mầu nhiệm ấy như sau: “Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,5-7, trích Tv 40,7-9, bản LXX).

The Letter to the Hebrews refers to the same mystery:

463

Tin vào việc Nhập Thể thật của Con Thiên Chúa là dấu hiệu đặc trưng của đức tin Kitô Giáo. “Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra Thần Khí của Thiên Chúa: Thần Khí nào tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã đến, và trở nên người phàm, thì Thần Khí ấy bởi Thiên Chúa” (1 Ga 4,2). Đó cũng là niềm xác tín hân hoan của Hội Thánh ngay từ buổi đầu, khi hát mừng “mầu nhiệm cao cả của đạo thánh”: “Đức Kitô xuất hiện trong thân phận người phàm” (1 Tm 3,16).

Belief in the true Incarnation of the Son of God is the distinctive sign of Christian faith: "By this you know the Spirit of God: every spirit which confesses that Jesus Christ has come in the flesh is of God." Such is the joyous conviction of the Church from her beginning whenever she sings "the mystery of our religion": "He was manifested in the flesh."

464

Biến cố độc nhất vô nhị là việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa không có nghĩa là Chúa Giêsu Kitô một phần là Thiên Chúa, một phần là người; cũng không có nghĩa Người là kết quả của một sự pha trộn lẫn lộn giữa hai bản tính thần linh và nhân loại. Người đã thật sự làm người, mà vẫn thật sự là Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật. Hội Thánh đã phải bảo vệ và làm sáng tỏ chân lý đức tin này suốt những thế kỷ đầu tiên, trước các lạc thuyết đã làm sai lạc chân lý đó.

The unique and altogether singular event of the Incarnation of the Son of God does not mean that Jesus Christ is part God and part man, nor does it imply that he is the result of a confused mixture of the divine and the human. He became truly man while remaining truly God. Jesus Christ is true God and true man. During the first centuries, the Church had to defend and clarify this truth of faith against the heresies that falsified it.

465

Các lạc thuyết đầu tiên không phủ nhận thần tính của Đức Kitô, cho bằng chối bỏ nhân tính thật của Người (Ảo thân thuyết theo chủ trương Ngộ đạo). Ngay từ thời các Tông Đồ, đức tin Kitô Giáo nhấn mạnh đến việc Nhập Thể thật của Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trong xác phàm. Nhưng vào thế kỷ thứ III, để chống lại Phaolô Samosatênô, tại Công đồng họp ở Antiôkhia, Hội Thánh phải khẳng định rằng: Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa do bản tính chứ không phải do được nhận làm nghĩa tử. Công đồng chung thứ I, họp tại Nicêa vào năm 325, tuyên xưng trong Tín biểu của mình rằng: Con Thiên Chúa “được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha” (trong tiếng Hy Lạp là homousion), và Hội Thánh đã kết án Ariô là người đã khẳng định rằng “Con Thiên Chúa đã xuất phát từ hư vô” và “có một bản thể hay yếu tính khác với Chúa Cha.”

The first heresies denied not so much Christ's divinity as his true humanity (Gnostic Docetism). From apostolic times the Christian faith has insisted on the true incarnation of God's Son "come in the flesh". But already in the third century, the Church in a council at Antioch had to affirm against Paul of Samosata that Jesus Christ is Son of God by nature and not by adoption. the first ecumenical council of Nicaea in 325 confessed in its Creed that the Son of God is "begotten, not made, of the same substance (homoousios) as the Father", and condemned Arius, who had affirmed that the Son of God "came to be from things that were not" and that he was "from another substance" than that of the Father.

466

Lạc thuyết của Nestôriô cho rằng trong Đức Kitô ngôi vị nhân loại được liên kết với Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa. Chống lại lạc thuyết này, Thánh Cyrillô Alêxanđria và Công đồng chung thứ III họp tại Êphêsô năm 431 tuyên xưng rằng: “Ngôi Lời đã làm người, khi một thân thể do một linh hồn có lý trí làm cho sống động được kết hợp với Ngài theo Ngôi Vị.” Nhân tính của Đức Kitô không có một chủ thể nào khác ngoài Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa, Đấng đã nhận lấy nhân tính ấy làm của mình từ lúc tượng thai. Chính vì vậy, Công đồng chung Êphêsô vào năm 431 công bố rằng Đức Maria, nhờ sự tượng thai nhân loại của Con Thiên Chúa trong lòng bà, bà đã rất thật sự trở thành Mẹ Thiên Chúa: “[Đức Maria là] Mẹ Thiên Chúa..., không phải vì bản tính của Ngôi Lời và thần tính của Ngài đã bắt đầu được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ rất thánh, nhưng vì từ Đức Trinh Nữ đã sinh ra thân xác thánh thiêng đó, do một linh hồn có lý trí làm cho sống động, và Ngôi Lời Thiên Chúa đã kết hợp với thân xác đó theo Ngôi Vị, nên có thể nói Ngôi Lời đã được sinh ra theo xác phàm.”

The Nestorian heresy regarded Christ as a human person joined to the divine person of God's Son. Opposing this heresy, St. Cyril of Alexandria and the third ecumenical council, at Ephesus in 431, confessed "that the Word, uniting to himself in his person the flesh animated by a rational soul, became man." Christ's humanity has no other subject than the divine person of the Son of God, who assumed it and made it his own, from his conception. For this reason the Council of Ephesus proclaimed in 431 that Mary truly became the Mother of God by the human conception of the Son of God in her womb: "Mother of God, not that the nature of the Word or his divinity received the beginning of its existence from the holy Virgin, but that, since the holy body, animated by a rational soul, which the Word of God united to himself according to the hypostasis, was born from her, the Word is said to be born according to the flesh."

467

Những người chủ trương thuyết Nhất Tính (Monophysitae) khẳng định: bản tính nhân loại không còn tồn tại nơi Đức Kitô, khi bản tính đó được Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa đảm nhận. Để chống lại lạc thuyết này, Công đồng chung thứ IV, họp tại Chalcêđônia năm 451, tuyên xưng: “Theo sau các thánh phụ, chúng tôi đồng thanh dạy phải tuyên xưng Một Chúa Con Duy Nhất là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, hoàn hảo trong thần tính và cũng hoàn hảo trong nhân tính; là Thiên Chúa thật và là người thật, gồm có một linh hồn có lý trí và một thân xác; đồng bản thể với Đức Chúa Cha theo thần tính mà cũng đồng bản tính với chúng ta theo nhân tính, ‘giống chúng ta về mọi phương diện ngoại trừ tội lỗi’; sinh bởi Đức Chúa Cha theo thần tính từ trước muôn đời, và trong những thời cuối cùng này, vì chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người được sinh ra theo nhân tính từ Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Cùng một Đấng duy nhất là Đức Kitô, là Chúa, là Con Một, phải được nhìn nhận trong hai bản tính một cách không lẫn lộn, không thay đổi, không phân chia, không tách biệt, sự khác biệt giữa hai bản tính không hề bị mất đi do việc kết hợp, nhưng các đặc điểm của mỗi bản tính đã được bảo tồn khi kết hợp với nhau trong một Ngôi Vị và một Đấng duy nhất.”

The Monophysites affirmed that the human nature had ceased to exist as such in Christ when the divine person of God's Son assumed it. Faced with this heresy, the fourth ecumenical council, at Chalcedon in 451, confessed: Following the holy Fathers, we unanimously teach and confess one and the same Son, our Lord Jesus Christ: the same perfect in divinity and perfect in humanity, the same truly God and truly man, composed of rational soul and body; consubstantial with the Father as to his divinity and consubstantial with us as to his humanity; "like us in all things but sin". He was begotten from the Father before all ages as to his divinity and in these last days, for us and for our salvation, was born as to his humanity of the virgin Mary, the Mother of God.

468

Sau Công đồng Chalcêđônia một số người biến nhân tính của Đức Kitô thành như một chủ thể có ngôi vị riêng. Chống lại những người này, Công đồng chung thứ V, họp tại Constantinôpôli, năm 553, tuyên xưng rằng: “Chỉ có một Ngôi Vị duy nhất, là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Một Ngôi Vị trong Ba Ngôi Chí Thánh.” Bởi vậy, mọi sự trong nhân tính của Đức Kitô đều phải được quy về Ngôi Vị thần linh của Người với tư cách là chủ thể riêng của Người, không những các phép lạ, nhưng cả những đau khổ và chính cái chết: chúng tôi tuyên xưng rằng “Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng bị đóng đinh vào thập giá về phần xác, là Thiên Chúa thật, là Chúa vinh quang, và là một Ngôi trong Ba Ngôi chí thánh.”

After the Council of Chalcedon, some made of Christ's human nature a kind of personal subject. Against them, the fifth ecumenical council, at Constantinople in 553, confessed that "there is but one hypostasis [or person], which is our Lord Jesus Christ, one of the Trinity." Thus everything in Christ's human nature is to be attributed to his divine person as its proper subject, not only his miracles but also his sufferings and even his death: "He who was crucified in the flesh, our Lord Jesus Christ, is true God, Lord of glory, and one of the Holy Trinity."

469

Như vậy, Hội Thánh tuyên xưng rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật một cách không thể tách biệt. Người thật sự là Con Thiên Chúa đã làm người, là anh em của chúng ta, mà vẫn không ngừng là Thiên Chúa, Chúa chúng ta: Phụng vụ Rôma hát kính: “Ngài vẫn là Ngài như trước [Ngài là Thiên Chúa], và Ngài đã đảm nhận lấy điều mà trước đó Ngài không là [Ngài làm người].” Còn phụng vụ của thánh Gioan Kim Khẩu công bố và hát kính: “Lạy Con duy nhất và Ngôi Lời của Thiên Chúa, dù bất tử, nhưng để cứu độ chúng con, Chúa đã đoái thương nhập thể trong lòng Đức Maria, Mẹ rất thánh của Thiên Chúa và trọn đời đồng trinh. Chúa đã làm người và đã chịu đóng đinh vào thập giá mà không hề biến đổi. Lạy Đức Kitô, là Thiên Chúa, Chúa đã dùng cái chết của mình mà đập tan sự chết, Chúa là Một trong Ba Ngôi Chí Thánh, được tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, xin cứu độ chúng con!”

The Church thus confesses that Jesus is inseparably true God and true man. He is truly the Son of God who, without ceasing to be God and Lord, became a man and our brother: "What he was, he remained and what he was not, he assumed", sings the Roman Liturgy. and the liturgy of St. John Chrysostom proclaims and sings: "O only-begotten Son and Word of God, immortal being, you who deigned for our salvation to become incarnate of the holy Mother of God and ever-virgin Mary, you who without change became man and were crucified, O Christ our God, you who by your death have crushed death, you who are one of the Holy Trinity, glorified with the Father and the Holy Spirit, save us!"

470

Trong sự kết hợp kỳ diệu của mầu nhiệm Nhập Thể, “bản tính nhân loại được đảm nhận, chứ không bị hòa tan”, nên qua các thế kỷ, Hội Thánh hằng tuyên xưng Chúa Kitô có một linh hồn nhân loại thật với các hoạt động của trí tuệ và ý chí, và một thân xác nhân loại thật. Nhưng đồng thời Hội Thánh đã phải luôn nhắc lại rằng bản tính nhân loại của Đức Kitô thuộc hẳn về Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa, Đấng đã đảm nhận nó. Tất cả những gì Đức Kitô là và tất cả những gì Người làm trong bản tính nhân loại, đều xuất phát từ “một Đấng trong Ba Ngôi Thiên Chúa.” Vì vậy, Con Thiên Chúa truyền thông cho nhân tính của Người cách thức hiện hữu riêng của Ngôi Vị mình trong Ba Ngôi. Như vậy, trong linh hồn cũng như trong thân xác của Người, Đức Kitô diễn tả theo cách thế nhân loại cung cách hành xử của Thiên Chúa Ba Ngôi: “Con Thiên Chúa đã làm việc với đôi tay nhân loại, suy nghĩ bằng trí óc nhân loại, hành động theo ý chí nhân loại, yêu mến bằng quả tim nhân loại. Sinh làm con Đức Trinh Nữ Maria, Người đã thật sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi.”

Because "human nature was assumed, not absorbed", in the mysterious union of the Incarnation, the Church was led over the course of centuries to confess the full reality of Christ's human soul, with its operations of intellect and will, and of his human body. In parallel fashion, she had to recall on each occasion that Christ's human nature belongs, as his own, to the divine person of the Son of God, who assumed it. Everything that Christ is and does in this nature derives from "one of the Trinity".

471

Apôlinariô Laođicensê cho rằng trong Đức Kitô, Ngôi Lời đã thay thế linh hồn hay tinh thần. Để chống lại điều sai lạc này, Hội Thánh tuyên xưng: Ngôi Con hằng hữu cũng đã đảm nhận một linh hồn nhân loại có lý trí.

Apollinarius of Laodicaea asserted that in Christ the divine Word had replaced the soul or spirit. Against this error the Church confessed that the eternal Son also assumed a rational, human soul.

472

Linh hồn nhân loại này, mà Con Thiên Chúa đã đảm nhận, đã được phú bẩm một tri thức nhân loại thật sự. Tri thức này, theo đúng nghĩa, tự nó không thể có tính chất vô hạn: nó được hình thành trong các điều kiện lịch sử của cuộc sống trong không gian và thời gian. Do đó, Con Thiên Chúa khi làm người, đã có thể chấp nhận “ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa” (Lc 2,52) và thậm chí Người còn phải tìm hiểu về những điều mà trong điều kiện nhân loại, phải được học hỏi qua kinh nghiệm. Điều này phù hợp với việc Người tự nguyện hạ mình “mặc lấy thân nô lệ.”

This human soul that the Son of God assumed is endowed with a true human knowledge. As such, this knowledge could not in itself be unlimited: it was exercised in the historical conditions of his existence in space and time. This is why the Son of God could, when he became man, "increase in wisdom and in stature, and in favour with God and man", and would even have to inquire for himself about what one in the human condition can learn only from experience. This corresponded to the reality of his voluntary emptying of himself, taking "the form of a slave".

473

Nhưng, đồng thời, tri thức nhân loại thật sự này của Con Thiên Chúa cũng diễn tả sự sống thần linh của Ngôi Vị của Người. “Con Thiên Chúa biết hết mọi sự; và con người mà Người tiếp nhận cũng biết như thế, không phải do bản tính, nhưng do kết hợp với Ngôi Lời. Nhân tính, được kết hợp với Ngôi Lời, biết hết mọi sự và biểu hiện những đặc tính thần linh xứng với uy quyền nơi mình.” Trước hết, đó là trường hợp Con Thiên Chúa làm người có một sự hiểu biết thâm sâu và trực tiếp về Cha của Người. Trong tri thức nhân loại của mình, Chúa Con cũng cho thấy Người có khả năng thần linh nhìn thấu những tư tưởng thầm kín trong lòng dạ người ta.

But at the same time, this truly human knowledge of God's Son expressed the divine life of his person. "The human nature of God's Son, not by itself but by its union with the Word, knew and showed forth in itself everything that pertains to God." Such is first of all the case with the intimate and immediate knowledge that the Son of God made man has of his Father. The Son in his human knowledge also showed the divine penetration he had into the secret thoughts of human hearts.

474

Tri thức nhân loại của Đức Kitô, vì được kết hợp với Đức Khôn Ngoan thần linh trong Ngôi Lời nhập thể, hiểu biết đầy đủ các kế hoạch vĩnh cửu mà Người đến để mặc khải. Điều Người nói là Người không biết trong lãnh vực này, thì ở chỗ khác Người tuyên bố là Người không có sứ vụ mặc khải điều ấy.

By its union to the divine wisdom in the person of the Word incarnate, Christ enjoyed in his human knowledge the fullness of understanding of the eternal plans he had come to reveal. What he admitted to not knowing in this area, he elsewhere declared himself not sent to reveal.

475

Một cách tương tự, trong Công đồng chung thứ VI, Hội Thánh đã tuyên xưng rằng Đức Kitô có hai ý muốn và hai hoạt động theo hai bản tính Thiên Chúa và nhân loại, không đối kháng nhưng hợp tác với nhau, cho nên Ngôi Lời làm người, trong sự phục tùng theo nhân tính đối với Chúa Cha, đã muốn điều mà Người đã quyết định, theo thần tính, cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, về ơn cứu độ chúng ta. Hội Thánh nhận biết rằng “ý muốn nhân loại của Người luôn theo ý muốn thần linh, không miễn cưỡng, không đối kháng, và hơn nữa, ý muốn nhân loại của Người đã phục tùng ý muốn thần linh và toàn năng của Người.”

Similarly, at the sixth ecumenical council, Constantinople III in 681, the Church confessed that Christ possesses two wills and two natural operations, divine and human. They are not opposed to each other, but co-operate in such a way that the Word made flesh willed humanly in obedience to his Father all that he had decided divinely with the Father and the Holy Spirit for our salvation. Christ's human will "does not resist or oppose but rather submits to his divine and almighty will."

476

Bởi vì Ngôi Lời đã làm người khi đảm nhận một nhân tính thật, nên thân xác của Đức Kitô có những nét xác định rõ ràng. Do đó, dung nhan nhân loại của Chúa Giêsu có thể được “họa lại” Trong Công đồng chung thứ VII, Hội Thánh công nhận việc Người được trình bày qua các ảnh tượng thánh là hợp pháp.

Since the Word became flesh in assuming a true humanity, Christ's body was finite. Therefore the human face of Jesus can be portrayed; at the seventh ecumenical council (Nicaea II in 787) the Church recognized its representation in holy images to be legitimate.

477

Đồng thời, Hội Thánh cũng luôn luôn công nhận: trong thân xác của Chúa Giêsu, “Thiên Chúa vốn là Đấng vô hình, đã xuất hiện hữu hình cho chúng ta.” Thật vậy, các đặc điểm cá nhân của thân xác Đức Kitô diễn tả Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đã nhận làm của mình những nét nhân dạng của thân xác Người, cho nên khi được họa lại nơi một ảnh tượng thánh nào đó, những nét này có thể được tôn kính, bởi vì khi tín hữu tôn kính ảnh tượng thánh, là họ “tôn thờ chính Đấng mà ảnh tượng thánh ấy diễn tả.”

At the same time the Church has always acknowledged that in the body of Jesus "we see our God made visible and so are caught up in love of the God we cannot see." The individual characteristics of Christ's body express the divine person of God's Son. He has made the features of his human body his own, to the point that they can be venerated when portrayed in a holy image, for the believer "who venerates the icon is venerating in it the person of the one depicted".

478

Trong cuộc đời của Người, trong lúc Người hấp hối và trong lúc Người chịu khổ nạn, Chúa Giêsu biết và yêu thương mọi người và từng người chúng ta, và Người đã tự hiến mạng vì mỗi người chúng ta. Con Thiên Chúa “đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Người đã yêu mến tất cả chúng ta bằng một trái tim nhân loại. Do đó, Trái Tim cực thánh của Chúa Giêsu, bị đâm thâu vì tội lỗi chúng ta và để cứu độ chúng ta, “được coi là dấu chỉ và biểu tượng đặc biệt của tình yêu, qua đó Đấng Cứu Chuộc thần linh hằng liên lỉ yêu mến Chúa Cha vĩnh cửu và yêu mến tất cả mọi người.”

Jesus knew and loved us each and all during his life, his agony and his Passion, and gave himself up for each one of us: "The Son of God. . . loved me and gave himself for me." He has loved us all with a human heart. For this reason, the Sacred Heart of Jesus, pierced by our sins and for our salvation, "is quite rightly considered the chief sign and symbol of that. . . love with which the divine Redeemer continually loves the eternal Father and all human beings" without exception.

479

Vào thời gian Thiên Chúa đã định, Con Một của Chúa Cha, là Ngôi Lời vĩnh cửu và là hình ảnh bản thể của Chúa Cha, đã nhập thể: Người đã đảm nhận bản tính nhân loại mà không mất đi bản tính Thiên Chúa.

At the time appointed by God, the only Son of the Father, the eternal Word, that is, the Word and substantial Image of the Father, became incarnate; without losing his divine nature he has assumed human nature.

480

Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật trong sự duy nhất của Ngôi Vị Thiên Chúa của Người; vì vậy, Người là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người.

Jesus Christ is true God and true man, in the unity of his divine person; for this reason he is the one and only mediator between God and men.

481

Chúa Giêsu Kitô có hai bản tính, thần tính và nhân tính, không lẫn lộn, nhưng kết hợp trong Ngôi Vị duy nhất của Con Thiên Chúa.

Jesus Christ possesses two natures, one divine and the other human, not confused, but united in the one person of God's Son.

482

Vì là Thiên Chúa thật và là người thật, Đức Kitô có một tri thức và một ý muốn nhân loại, hoàn toàn hòa hợp và quy phục tri thức và ý muốn thần linh của Người, mà Người có chung với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Christ, being true God and true man, has a human intellect and will, perfectly attuned and subject to his divine intellect and divine will, which he has in common with the Father and the Holy Spirit.

483

Vì vậy, Nhập Thể là mầu nhiệm kỳ diệu của sự kết hợp giữa bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại trong Ngôi Vị duy nhất của Ngôi Lời.

The Incarnation is therefore the mystery of the wonderful union of the divine and human natures in the one person of the Word.