Khi đề cập đến cuộc đời Đức Kitô, Tín biểu chỉ nói về các mầu nhiệm Nhập Thể (được thụ thai và ra đời) và Vượt Qua (chịu khổ nạn, chịu đóng đinh vào thập giá, chịu chết, chịu mai táng, xuống ngục tổ tông, sống lại, và lên trời). Tín biểu không nói gì cách minh nhiên về các mầu nhiệm của cuộc đời ẩn dật và công khai của Chúa Giêsu; tuy nhiên, các đề mục đức tin liên quan đến việc Nhập Thể và cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu, lại làm sáng tỏ toàn bộ cuộc đời trần thế của Người. “Tất cả những việc Chúa Giêsu làm và những điều Người dạy, kể từ đầu cho tới ngày Người được rước lên trời” (Cv 1,1-2), cần phải được nhìn xem dưới ánh sáng các mầu nhiệm Giáng Sinh và Phục Sinh.
Concerning Christ's life the Creed speaks only about the mysteries of the Incarnation (conception and birth) and Paschal mystery (passion, crucifixion, death, burial, descent into hell, resurrection and ascension). It says nothing explicitly about the mysteries of Jesus' hidden or public life, but the articles of faith concerning his Incarnation and Passover do shed light on the whole of his earthly life. "All that Jesus did and taught, from the beginning until the day when he was taken up to heaven", is to be seen in the light of the mysteries of Christmas and Easter.
Tùy theo hoàn cảnh, việc dạy giáo lý sẽ trình bày tất cả sự phong phú của các mầu nhiệm của Chúa Giêsu. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên một số yếu tố chung cho tất cả mọi mầu nhiệm của cuộc đời của Người (I), rồi sau đó phác họa các mầu nhiệm chính yếu trong cuộc đời ẩn dật (II) và công khai (III) của Chúa Giêsu.
According to circumstances catechesis will make use of all the richness of the mysteries of Jesus. Here it is enough merely to indicate some elements common to all the mysteries of Christ's life (I), in order then to sketch the principal mysteries of Jesus' hidden (II) and public (III) life.
Có nhiều điều liên quan đến Chúa Giêsu mà loài người tò mò muốn biết, nhưng lại không được các sách Tin Mừng nói đến. Tin Mừng hầu như không nói gì về cuộc sống của Người ở Nadarét, và một phần lớn cuộc đời công khai của Người cũng không được kể lại. Những gì đã được viết ra trong các Tin Mừng, được kể lại là “để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31).
Many things about Jesus of interest to human curiosity do not figure in the Gospels. Almost nothing is said about his hidden life at Nazareth, and even a great part of his public life is not recounted. What is written in the Gospels was set down there "so that you may believe that Jesus is the Christ, the Son of God, and that believing you may have life in his name."
Các sách Tin Mừng đã được viết ra bởi những người trong số những người đầu tiên đã có đức tin, và muốn cho những người khác được tham dự vào đức tin đó. Đã được biết Chúa Giêsu là ai trong đức tin, họ có thể thấy và chỉ cho người khác thấy những dấu tích của mầu nhiệm của Người trong suốt cuộc đời trần thế của Người. Từ những mảnh tã quấn thân ngày Người Giáng Sinh, cho đến chút giấm lúc Người chịu khổ hình, và tấm khăn liệm ngày Người Phục Sinh, mọi sự trong cuộc đời Chúa Giêsu đều là dấu chỉ của mầu nhiệm của Người. Qua những cử chỉ, những phép lạ, những lời nói của Người, Người mặc khải “nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Cl 2,9). Như vậy, nhân tính của Người xuất hiện như một “bí tích”, nghĩa là, một dấu chỉ và dụng cụ của thần tính của Người, và của ơn cứu độ mà Người mang lại: những gì hữu hình trong cuộc đời trần thế của Người, dẫn chúng ta đến với mầu nhiệm vô hình, là địa vị làm Con Thiên Chúa của Người và sứ vụ cứu chuộc của Người.
The Gospels were written by men who were among the first to have the faith and wanted to share it with others. Having known in faith who Jesus is, they could see and make others see the traces of his mystery in all his earthly life. From the swaddling clothes of his birth to the vinegar of his Passion and the shroud of his Resurrection, everything in Jesus' life was a sign of his mystery. His deeds, miracles and words all revealed that "in him the whole fullness of deity dwells bodily." His humanity appeared as "sacrament", that is, the sign and instrument, of his divinity and of the salvation he brings: what was visible in his earthly life leads to the invisible mystery of his divine sonship and redemptive mission
Cả cuộc đời của Đức Kitô là một Mặc khải về Chúa Cha: những lời Người nói, những việc Người làm, những lúc Người im lặng, những đau khổ Người chịu, cách thế Người sống và giảng dạy. Chúa Giêsu có thể nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9), và Chúa Cha nói: “Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người” (Lc 9,35). Vì Chúa chúng ta đã làm người để chu toàn thánh ý của Chúa Cha, nên ngay cả những điểm nhỏ nhặt nhất trong các mầu nhiệm của Người đều biểu lộ cho chúng ta thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta.
Christ's whole earthly life - his words and deeds, his silences and sufferings, indeed his manner of being and speaking - is Revelation of the Father. Jesus can say: "Whoever has seen me has seen the Father", and the Father can say: "This is my Son, my Chosen; listen to him!" Because our Lord became man in order to do his Father's will, even the least characteristics of his mysteries manifest "God's love. . . among us".
Cả cuộc đời của Đức Kitô là một mầu nhiệm Cứu chuộc. Ơn Cứu chuộc đến với chúng ta trước hết nhờ Máu Người đổ ra trên thập giá, nhưng mầu nhiệm này được thực hiện qua cả cuộc đời Đức Kitô: — ngay trong việc Người Nhập Thể, Người đã trở nên nghèo để lấy cái nghèo của Người mà làm cho chúng ta nên giàu có; — trong cuộc sống ẩn dật, Người vâng phục để sửa lại sự bất phục tùng của chúng ta; — khi giảng dạy, lời Người nói thanh tẩy những người nghe; — khi chữa bệnh và trừ quỷ, “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta, và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17); — khi phục sinh, Người làm cho chúng ta được nên công chính.
Christ's whole life is a mystery of redemption. Redemption comes to us above all through the blood of his cross, but this mystery is at work throughout Christ's entire life: -already in his Incarnation through which by becoming poor he enriches us with his poverty; - in his hidden life which by his submission atones for our disobedience; - in his word which purifies its hearers;- in his healings and exorcisms by which "he took our infirmities and bore our diseases"; - and in his Resurrection by which he justifies us.
Cả cuộc đời của Đức Kitô là một mầu nhiệm Quy tụ: tất cả những gì Chúa Giêsu đã làm, đã nói, và đã chịu đau khổ, đều có mục đích là để phục hồi con người sa ngã về lại ơn gọi đầu tiên của họ: “Khi nhập thể và làm người, Đức Kitô đã quy tụ nơi mình lịch sử lâu dài của nhân loại, và đã đem lại ơn cứu độ cho chúng ta theo con đường tắt, để những gì xưa kia chúng ta đã mất nơi Ađam, tức là không còn là hình ảnh và giống như Thiên Chúa nữa, thì nay chúng ta được nhận lại trong Đức Kitô Giêsu.” “Chính vì thế, Đức Kitô đã trải qua mọi tuổi đời, để cho mọi người lại được hiệp thông với Thiên Chúa.”
Christ's whole life is a mystery of recapitulation. All Jesus did, said and suffered had for its aim restoring fallen man to his original vocation:
Mọi sự phong phú của Đức Kitô là dành cho mọi người và là tài sản của mọi người. Đức Kitô không sống cho bản thân Người, nhưng cho chúng ta, từ lúc Người nhập thể “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”, cho đến khi Người chịu chết “vì tội lỗi chúng ta” (1 Cr 15,3) và sống lại “để chúng ta được nên công chính” (Rm 4,25). Cả bây giờ nữa, Người vẫn là trạng sư của chúng ta “trước mặt Chúa Cha” (1 Ga 2,1), “vì Người hằng sống để chuyển cầu” cho chúng ta (Hr 7,25). Với tất cả những gì Người đã sống và đã chịu đựng một lần cho mãi mãi vì chúng ta, giờ đây Người luôn hiện diện “trước mặt Thiên Chúa chuyển cầu cho chúng ta” (Hr 9,24) đến muôn đời.
All Christ's riches "are for every individual and are everybody's property." Christ did not live his life for himself but for us, from his Incarnation "for us men and for our salvation" to his death "for our sins" and Resurrection "for our justification". He is still "our advocate with the Father", who "always lives to make intercession" for us. He remains ever "in the presence of God on our behalf, bringing before him all that he lived and suffered for us."
Trong cả cuộc đời của Người, Chúa Giêsu tỏ mình là mẫu mực của chúng ta: chính Người là “con người hoàn hảo”, Người mời gọi chúng ta trở nên môn đệ của Người và bước đi theo Người; qua việc tự hạ của Người, Người ban cho chúng ta một gương mẫu để bắt chước; qua việc cầu nguyện của Người, Người lôi kéo chúng ta cầu nguyện; qua sự nghèo khó của Người, Người kêu gọi chúng ta tự nguyện chấp nhận sự thiếu thốn và những cơn bách hại.
In all of his life Jesus presents himself as our model. He is "the perfect man", who invites us to become his disciples and follow him. In humbling himself, he has given us an example to imitate, through his prayer he draws us to pray, and by his poverty he calls us to accept freely the privation and persecutions that may come our way.
Tất cả những gì chính Người đã sống, Đức Kitô làm cho chúng ta được sống những điều đó trong Người, và Người sống những điều đó trong chúng ta. “Khi nhập thể, Con Thiên Chúa một cách nào đó đã nên một với mọi người.” Chúng ta được kêu gọi nên một với Người; chính Người làm cho chúng ta, với tư cách là những chi thể của Thân Thể Người, được hiệp thông với những gì Người đã sống trong thân thể Người vì chúng ta và nên như mẫu mực cho chúng ta: Chúng ta phải tiếp nối và hoàn thành nơi bản thân chúng ta các giai đoạn của cuộc đời Chúa Giêsu và các mầu nhiệm của Người, và thường xuyên cầu xin... để Người hoàn tất và kiện toàn những điều ấy trong chúng ta và trong toàn thể Hội Thánh Người... Vì Con Thiên Chúa có ý truyền thông, mở rộng và tiếp tục các mầu nhiệm của Người trong chúng ta và trong toàn thể Hội Thánh Người,... hoặc bằng các ân sủng Người quyết định ban cho chúng ta hoặc bằng những hiệu quả Người muốn thực hiện nơi chúng ta qua các mầu nhiệm ấy. Bằng cách này, Người muốn hoàn tất các mầu nhiệm của Người trong chúng ta.
Christ enables us to live in him all that he himself lived, and he lives it in us. "By his Incarnation, he, the Son of God, has in a certain way united himself with each man." We are called only to become one with him, for he enables us as the members of his Body to share in what he lived for us in his flesh as our model:
Việc Con Thiên Chúa ngự đến trong thế gian là một biến cố hết sức trọng đại, đến độ Thiên Chúa đã muốn chuẩn bị cho biến cố đó qua nhiều thế kỷ. Các nghi thức và các hy lễ, các hình ảnh và các biểu tượng của “Giao Ước Cũ”, tất cả đều được Thiên Chúa làm cho hội tụ trong Đức Kitô: Chính Ngài loan báo Đức Kitô qua miệng các Tiên tri kế tiếp nhau ở Ítraen. Ngoài ra, Ngài còn khơi dậy trong tâm hồn các người ngoại giáo một sự chờ đợi chưa rõ ràng việc Con Thiên Chúa ngự đến.
The coming of God's Son to earth is an event of such immensity that God willed to prepare for it over centuries. He makes everything converge on Christ: all the rituals and sacrifices, figures and symbols of the "First Covenant". He announces him through the mouths of the prophets who succeeded one another in Israel. Moreover, he awakens in the hearts of the pagans a dim expectation of this coming.
Thánh Gioan Tẩy Giả là vị Tiền Hô trực tiếp của Chúa, đã được sai đến để dọn đường. Thánh nhân là “ngôn sứ của Đấng Tối Cao” (Lc 1,76), trổi vượt tất cả mọi Tiên tri, và là vị Tiên tri cuối cùng. Thánh nhân khởi đầu Tin Mừng; ngay từ trong lòng mẹ đã đón chào Đức Kitô đến, và tìm thấy niềm vui trong việc được làm “bạn của chú rể” (Ga 3,29), Đấng mà thánh nhân chỉ cho biết là Chiên “Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29). Thánh nhân đi trước Chúa Giêsu trong “thần trí và quyền năng của ngôn sứ Êlia” (Lc 1,17), và làm chứng cho Người bằng lời rao giảng của mình, bằng phép rửa thống hối của mình và cuối cùng bằng cuộc tử đạo của mình.
St. John the Baptist is the Lord's immediate precursor or forerunner, sent to prepare his way. "Prophet of the Most High", John surpasses all the prophets, of whom he is the last. He inaugurates the Gospel, already from his mother's womb welcomes the coming of Christ, and rejoices in being "the friend of the bridegroom", whom he points out as "the Lamb of God, who takes away the sin of the world". Going before Jesus "in the spirit and power of Elijah", John bears witness to Christ in his preaching, by his Baptism of conversion, and through his martyrdom.
Mỗi năm khi cử hành phụng vụ Mùa Vọng, Hội Thánh thể hiện lại niềm mong đợi Đấng Mêsia: khi hiệp thông với sự chuẩn bị lâu dài để đón Đấng Cứu độ ngự đến lần thứ nhất, các tín hữu canh tân lòng sốt sắng đón chờ Người ngự đến lần thứ hai. Khi mừng sinh nhật và cuộc tử đạo của vị Tiền Hô, Hội Thánh hợp nhất với ước nguyện của thánh nhân: “Đức Kitô phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3,30).
When the Church celebrates the liturgy of Advent each year, she makes present this ancient expectancy of the Messiah, for by sharing in the long preparation for the Saviour's first coming, the faithful renew their ardent desire for his second coming. By celebrating the precursor's birth and martyrdom, the Church unites herself to his desire: "He must increase, but I must decrease."
Chúa Giêsu đã ra đời trong cảnh bần hàn của chuồng bò lừa, trong một gia đình nghèo; các mục đồng chất phác là những chứng nhân đầu tiên của biến cố. Chính trong cảnh nghèo hèn này mà vinh quang thiên quốc được tỏ lộ. Hội Thánh không ngừng hoan hỉ hát mừng vinh quang đêm ấy: “Hôm nay Đức Trinh Nữ sinh hạ Đấng Hằng Hữu, và thế gian dâng tặng hang đá cho Đấng Chí Tôn. Các Thiên thần cùng với các mục đồng tôn vinh Người, các đạo sĩ tiến bước theo ánh sao: bởi vì một Hài Nhi bé nhỏ, là Thiên Chúa vĩnh cửu, đã được sinh ra cho chúng ta!”
Jesus was born in a humble stable, into a poor family. Simple shepherds were the first witnesses to this event. In this poverty heaven's glory was made manifest. The Church never tires of singing the glory of this night:
“Trở nên trẻ nhỏ” trong tương quan với Thiên Chúa là điều kiện để vào Nước Trời; để được vậy, cần phải tự hạ, phải trở nên bé mọn; hơn nữa, còn phải “được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên” (Ga 3,7), được sinh ra từ Thiên Chúa để trở nên con cái Thiên Chúa. Mầu nhiệm Giáng Sinh được thực hiện nơi chúng ta khi Đức Kitô “được thành hình” nơi chúng ta. Việc Giáng Sinh của Chúa Giêsu là mầu nhiệm của “việc trao đổi kỳ diệu” này: “Cuộc trao đổi sao mà kỳ diệu! Đấng Tạo hóa của nhân loại, nhận lấy một thân xác có linh hồn, khấng hạ sinh bởi một Trinh Nữ; khi làm người mà chẳng cần mầm giống nam nhân, Người đã rộng ban cho chúng ta thần tính của Người.”
To become a child in relation to God is the condition for entering the kingdom. For this, we must humble ourselves and become little. Even more: to become "children of God" we must be "born from above" or "born of God". Only when Christ is formed in us will the mystery of Christmas be fulfilled in us. Christmas is the mystery of this "marvellous exchange":
Việc cắt bì cho Chúa Giêsu, ngày thứ tám sau khi Người ra đời, là dấu chỉ việc Người được tháp nhập vào dòng dõi của tổ phụ Ápraham, vào dân của Giao Ước, là dấu chỉ sự suy phục Lề luật của Người, của việc Người đến với phụng tự Ítraen, nền phụng tự mà Người sẽ tham dự suốt đời Người. Dấu chỉ này báo trước “phép cắt bì của Đức Kitô”, tức là bí tích Rửa Tội.
Jesus' circumcision, on the eighth day after his birth, is the sign of his incorporation into Abraham's descendants, into the people of the covenant. It is the sign of his submission to the Law and his deputation to Israel's worship, in which he will participate throughout his life. This sign prefigures that "circumcision of Christ" which is Baptism.
Hiển Linh là sự tỏ mình ra của Chúa Giêsu, như Đấng Mêsia của Ítraen, là Con Thiên Chúa, và là Đấng Cứu Độ trần gian. Cùng với việc Chúa Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođan và với tiệc cưới Cana, lễ này mừng kính việc “các đạo sĩ” từ phương Đông đến thờ lạy Chúa Giêsu. Nơi các “đạo sĩ” này, là đại diện cho các tôn giáo lương dân lân cận, Tin Mừng nhận ra những hoa quả đầu mùa của các dân tộc sẽ đón nhận Tin Mừng cứu độ nhờ mầu nhiệm Nhập Thể. Việc các đạo sĩ đến Giêrusalem để bái lạy Vua dân Do Thái cho thấy các vị ấy đến Ítraen, dưới ánh sáng tiên báo Đấng Mêsia của ngôi sao Đavít, để tìm kiếm Đấng sẽ là vua của các dân tộc. Việc họ đến có nghĩa là các dân ngoại chỉ có thể gặp được Chúa Giêsu và thờ lạy Người là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ trần gian, bằng cách hướng về dân Do Thái và nhờ dân ấy mà lãnh nhận lời hứa về Đấng Mêsia như đã được ghi chép trong Cựu Ước. Cuộc Hiển Linh cho thấy đông đảo dân ngoại được gia nhập vào gia đình của các Tổ Phụ, và được hưởng “phẩm giá của Ítraen.”
The Epiphany is the manifestation of Jesus as Messiah of Israel, Son of God and Saviour of the world. the great feast of Epiphany celebrates the adoration of Jesus by the wise men (magi) from the East, together with his baptism in the Jordan and the wedding feast at Cana in Galilee. In the magi, representatives of the neighbouring pagan religions, the Gospel sees the first-fruits of the nations, who welcome the good news of salvation through the Incarnation. the magi's coming to Jerusalem in order to pay homage to the king of the Jews shows that they seek in Israel, in the messianic light of the star of David, the one who will be king of the nations. Their coming means that pagans can discover Jesus and worship him as Son of God and Saviour of the world only by turning towards the Jews and receiving from them the messianic promise as contained in the Old Testament. The Epiphany shows that "the full number of the nations" now takes its "place in the family of the patriarchs", and acquires Israelitica dignitas (is made "worthy of the heritage of Israel").
Việc dâng Chúa Giêsu vào Đền thờ cho thấy Người có tư cách là “con đầu lòng” thuộc về Thiên Chúa như sở hữu riêng của Ngài. Cùng với ông Simêon và bà Anna, toàn thể dân Ítraen đến gặp gỡ Đấng Cứu Độ mà họ trông chờ (truyền thống Byzantin gọi biến cố này như vậy). Chúa Giêsu được nhìn nhận là Đấng Mêsia được mong đợi đã quá lâu, là “ánh sáng muôn dân”, là “vinh quang của Ítraen”, nhưng cũng là “dấu hiệu cho người đời chống báng.” Lưỡi gươm của đau khổ được tiên báo cho Đức Maria, loan báo một việc dâng hiến khác, hoàn hảo và duy nhất, là việc dâng hiến trên thập giá, việc dâng hiến này sẽ mang lại ơn cứu độ mà Thiên Chúa “đã dành sẵn cho muôn dân.”
The presentation of Jesus in the temple shows him to be the firstborn Son who belongs to the Lord. With Simeon and Anna, all Israel awaits its encounter with the Saviour - the name given to this event in the Byzantine tradition. Jesus is recognized as the long-expected Messiah, the "light to the nations" and the "glory of Israel", but also "a sign that is spoken against". the sword of sorrow predicted for Mary announces Christ's perfect and unique oblation on the cross that will impart the salvation God had "prepared in the presence of all peoples".
Việc trốn sang Ai Cập và sự kiện tàn sát trẻ vô tội cho thấy sự chống đối của bóng tối đối với ánh sáng: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11). Cả cuộc đời của Đức Kitô sẽ được ghi dấu bằng sự bách hại. Những ai thuộc về Người, đều tham dự vào điều đó với Người. Việc Người rời bỏ Ai Cập để trở về gợi nhớ cuộc Xuất Hành và giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng giải phóng tối hậu.
The flight into Egypt and the massacre of the innocents make manifest the opposition of darkness to the light: "He came to his own home, and his own people received him not." Christ's whole life was lived under the sign of persecution. His own share it with him. Jesus' departure from Egypt recalls the exodus and presents him as the definitive liberator of God's people.
Phần lớn cuộc đời Người, Chúa Giêsu đã chia sẻ thân phận của đại đa số con người: một cuộc sống thường ngày không có vẻ cao trọng nào, một cuộc sống lao động tay chân, một cuộc sống suy phục Luật Thiên Chúa trong Do Thái giáo, một cuộc sống trong cộng đoàn. Về toàn bộ quãng đời này, chúng ta được mặc khải là Chúa Giêsu đã vâng phục cha mẹ Người và “ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn, và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52).
During the greater part of his life Jesus shared the condition of the vast majority of human beings: a daily life spent without evident greatness, a life of manual labour. His religious life was that of a Jew obedient to the law of God, a life in the community. From this whole period it is revealed to us that Jesus was "obedient" to his parents and that he "increased in wisdom and in stature, and in favour with God and man."
Sự vâng phục của Chúa Giêsu đối với Mẹ Người và cha nuôi của Người là chu toàn cách trọn hảo điều răn thứ tư. Sự vâng phục ở trần gian là hình ảnh của sự vâng phục con thảo của Người đối với Cha trên trời của Người. Việc Chúa Giêsu hằng ngày vâng phục thánh Giuse và Mẹ Maria loan báo và tham dự trước vào sự tuân phục của lời cầu nguyện trong vườn Cây Dầu: “Xin đừng cho ý con thể hiện...” (Lc 22,42). Sự vâng phục của Đức Kitô trong các hoàn cảnh thường ngày của cuộc đời ẩn dật đã khởi đầu công trình tái tạo những gì mà ông Ađam đã phá hủy vì bất tuân.
Jesus' obedience to his mother and legal father fulfils the fourth commandment perfectly and was the temporal image of his filial obedience to his Father in heaven. the everyday obedience of Jesus to Joseph and Mary both announced and anticipated the obedience of Holy Thursday: "Not my will. . ." The obedience of Christ in the daily routine of his hidden life was already inaugurating his work of restoring what the disobedience of Adam had destroyed.
Cuộc đời ẩn dật ở Nadarét cho phép mọi người hiệp thông với Chúa Giêsu qua những lối sống thông thường nhất: “Ngôi nhà Nadarét là mái trường nơi chúng ta bắt đầu học về cuộc đời Chúa Giêsu; đây là trường dạy Tin Mừng. Trước hết là bài học về thinh lặng. Ước gì chúng ta biết quý chuộng sự thinh lặng, vì đó là bầu khí tuyệt vời và tối cần cho tâm hồn... Kế đến là bài học về đời sống gia đình: Ước gì Nadarét dạy chúng ta biết gia đình là gì, sự hiệp thông tình yêu của gia đình là gì, vẻ đẹp quan trọng và bừng sáng của gia đình là gì, tính chất thánh thiêng và bất khả xâm phạm của gia đình là gì... Sau cùng là bài học về lao động. Ôi Nadarét, ngôi nhà của “Con bác thợ mộc”, chính tại đây, chúng ta muốn hiểu biết và đề cao bổn phận lao động của con người, tuy nhọc nhằn nhưng đem lại ơn cứu chuộc... Sau hết, tại đây chúng tôi muốn chào mừng mọi người lao động trên toàn thế giới, và chỉ cho họ một mẫu mực vĩ đại, là người anh thần linh của họ.”
The hidden life at Nazareth allows everyone to enter into fellowship with Jesus by the most ordinary events of daily life:
Việc tìm thấy Chúa Giêsu trong Đền thờ là biến cố duy nhất phá vỡ sự im lặng của các sách Tin Mừng về những năm tháng ẩn dật của Chúa Giêsu. Ở đây, Chúa Giêsu cho chúng ta thoáng thấy mầu nhiệm của sự tận hiến của Người cho sứ vụ xuất phát từ tư cách làm Con Thiên Chúa của Người. “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49) Đức Maria và thánh Giuse “không hiểu” lời này, nhưng đón nhận lời ấy trong đức tin, và Đức Maria “hằng ghi nhớ những điều ấy trong lòng”, suốt những năm dài Chúa Giêsu ẩn mình trong sự thinh lặng của cuộc đời bình thường.
The finding of Jesus in the temple is the only event that breaks the silence of the Gospels about the hidden years of Jesus. Here Jesus lets us catch a glimpse of the mystery of his total consecration to a mission that flows from his divine sonship: "Did you not know that I must be about my Father's work?" Mary and Joseph did not understand these words, but they accepted them in faith. Mary "kept all these things in her heart" during the years Jesus remained hidden in the silence of an ordinary life.
Chúa Giêsu khởi đầu quãng đời công khai bằng việc Người chịu phép rửa của ông Gioan tại sông Giođan. Ông Gioan rao giảng “phép rửa tỏ lòng thống hối để được ơn tha tội” (Lc 3,3). Đông đảo những người tội lỗi, thu thuế, binh lính, Pharisêu và Xađốc, cùng những cô gái điếm, đến xin ông làm phép rửa. “Bấy giờ Chúa Giêsu đến.” Vị Tẩy Giả ngần ngại, nhưng Chúa Giêsu yêu cầu: Người chịu phép rửa. Lúc đó, Chúa Thánh Thần, lấy hình chim bồ câu, ngự xuống trên Chúa Giêsu, và có tiếng phán từ trời: “Đây là Con yêu dấu của Ta” (Mt 3,13-17). Đây là việc Chúa Giêsu tỏ mình ra (“Hiển Linh”) với tư cách là Đấng Mêsia của Ítraen và là Con Thiên Chúa.
Jesus' public life begins with his baptism by John in the Jordan. John preaches "a baptism of repentance for the forgiveness of sins". A crowd of sinners - tax collectors and soldiers, Pharisees and Sadducees, and prostitutes - come to be baptized by him. "Then Jesus appears." the Baptist hesitates, but Jesus insists and receives baptism. Then the Holy Spirit, in the form of a dove, comes upon Jesus and a voice from heaven proclaims, "This is my beloved Son." This is the manifestation ("Epiphany") of Jesus as Messiah of Israel and Son of God.
Phép Rửa của Chúa Giêsu, về phần Người, là sự chấp nhận và khởi đầu sứ vụ của Người, với tư cách là Người Tôi Trung Đau Khổ. Người chấp nhận bị liệt vào hàng tội nhân. Chính Người là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29); nay Người tham dự trước vào “phép rửa” là cái chết đẫm máu của Người. Người đến để chu toàn “đức công chính” (Mt 3,15), nghĩa là, Người hoàn toàn quy phục thánh ý của Cha Người: vì tình yêu, Người bằng lòng chịu phép rửa là cái chết để chúng ta được ơn tha thứ tội lỗi. Đáp lại sự chấp nhận ấy, có tiếng của Chúa Cha tuyên bố Ngài hoàn toàn hài lòng về Con của mình. Chúa Thánh Thần, mà Chúa Giêsu đã có đầy tràn từ lúc được Người được thụ thai, nay đến để “ở lại” trên Người. Chúa Giêsu sẽ là nguồn mạch ban Thánh Thần cho toàn thể nhân loại. Trong phép rửa của Người, “các tầng trời”, mà tội của ông Ađam đã đóng lại, nay được “mở ra cho Người” (Mt 3,16); và dòng nước nhờ việc Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần ngự xuống được thánh hóa, để chuẩn bị cho một công trình tạo dựng mới.
The baptism of Jesus is on his part the acceptance and inauguration of his mission as God's suffering Servant. He allows himself to be numbered among sinners; he is already "the Lamb of God, who takes away the sin of the world". Already he is anticipating the "baptism" of his bloody death. Already he is coming to "fulfil all righteousness", that is, he is submitting himself entirely to his Father's will: out of love he consents to this baptism of death for the remission of our sins. The Father's voice responds to the Son's acceptance, proclaiming his entire delight in his Son. The Spirit whom Jesus possessed in fullness from his conception comes to "rest on him". Jesus will be the source of the Spirit for all mankind. At his baptism "the heavens were opened" - the heavens that Adam's sin had closed - and the waters were sanctified by the descent of Jesus and the Spirit, a prelude to the new creation.
Kitô hữu, nhờ bí tích Rửa Tội, được đồng hóa một cách bí tích với Chúa Giêsu, Đấng, trong phép rửa của mình, đã tham dự trước vào cái Chết và sự Sống Lại của mình; họ phải tiến vào mầu nhiệm của sự khiêm tốn quy phục và thống hối này, bước xuống nước cùng với Chúa Giêsu để cùng với Người bước lên, và phải được tái sinh bởi nước và Chúa Thánh Thần để trở nên con yêu dấu của Chúa Cha trong Chúa Con và “sống một đời sống mới” (Rm 6,4): “Chúng ta hãy cùng chịu mai táng với Đức Kitô bằng Phép Rửa, để cùng được phục sinh với Người; hãy cùng bước xuống với Người, để đồng thời cũng được nâng lên; chúng ta hãy cùng đi lên với Người, để đồng thời cũng được tôn vinh.” “Nhờ những gì đã được hoàn thành nơi Đức Kitô, chúng ta biết rằng: sau khi chúng ta được tẩy rửa trong nước và Chúa Thánh Thần từ trời ngự xuống trên chúng ta, thì chúng ta được xức dầu vinh quang thiên quốc và trở thành con cái Thiên Chúa nhờ có tiếng của Chúa Cha nhận cho làm nghĩa tử.”
Through Baptism the Christian is sacramentally assimilated to Jesus, who in his own baptism anticipates his death and resurrection. the Christian must enter into this mystery of humble self-abasement and repentance, go down into the water with Jesus in order to rise with him, be reborn of water and the Spirit so as to become the Father's beloved son in the Son and "walk in newness of life":
Các sách Tin Mừng có nói đến một thời gian Chúa Giêsu sống cô tịch trong hoang địa, ngay sau khi Người nhận phép rửa của ông Gioan. “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa” (Mc 1,12) và Chúa Giêsu ở lại đó bốn mươi ngày không ăn; Người sống giữa các dã thú và các Thiên thần hầu hạ Người. Cuối thời gian này, Xatan cám dỗ Người ba lần nhằm đặt vấn đề về thái độ con thảo của Người đối với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã đẩy lui các cuộc tấn công này, chúng thu tóm cơn cám dỗ của ông Ađam trong vườn địa đàng và những cơn cám dỗ của dân Ítraen trong hoang địa, rồi ma quỷ bỏ Người mà đi, “chờ đợi thời cơ” (Lc 4,13).
The Gospels speak of a time of solitude for Jesus in the desert immediately after his baptism by John. Driven by the Spirit into the desert, Jesus remains there for forty days without eating; he lives among wild beasts, and angels minister to him. At the end of this time Satan tempts him three times, seeking to compromise his filial attitude toward God. Jesus rebuffs these attacks, which recapitulate the temptations of Adam in Paradise and of Israel in the desert, and the devil leaves him "until an opportune time".
Các tác giả Tin Mừng nêu rõ ý nghĩa cứu độ của biến cố bí nhiệm này. Chúa Giêsu là Ađam mới, Người vững lòng trung thành ở chỗ Ađam cũ đã đầu hàng cơn cám dỗ. Chúa Giêsu thực hiện cách hoàn hảo ơn gọi của dân Ítraen: trái hẳn với những kẻ xưa kia đã thách thức Thiên Chúa suốt bốn mươi năm trong hoang địa, Chúa Giêsu được mặc khải như Người Tôi Trung của Thiên Chúa, hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Trong việc này, Chúa Giêsu toàn thắng ma quỷ: Người đã trói kẻ mạnh và thu lại tài sản nó đã cướp. Chiến thắng của Chúa Giêsu trước kẻ cám dỗ trong hoang địa báo trước chiến thắng của cuộc khổ nạn, là sự vâng phục tuyệt đối trong tình yêu con thảo của Người đối với Chúa Cha.
The evangelists indicate the salvific meaning of this mysterious event: Jesus is the new Adam who remained faithful just where the first Adam had given in to temptation. Jesus fulfils Israel's vocation perfectly: in contrast to those who had once provoked God during forty years in the desert, Christ reveals himself as God's Servant, totally obedient to the divine will. In this, Jesus is the devil's conqueror: he "binds the strong man" to take back his plunder. Jesus' victory over the tempter in the desert anticipates victory at the Passion, the supreme act of obedience of his filial love for the Father.
Cám dỗ Chúa Giêsu phải chịu cho thấy cách thế Con Thiên Chúa là Đấng Mêsia, trái ngược hẳn điều Xatan xúi giục Người và người ta muốn gán cho Người. Chính vì thế, Đức Kitô chiến thắng Tên cám dỗ là chiến thắng cho chúng ta: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Hr 4,15). Mỗi năm, qua bốn mươi ngày Mùa Chay, Hội Thánh kết hợp với mầu nhiệm Chúa Giêsu trong hoang địa.
Jesus' temptation reveals the way in which the Son of God is Messiah, contrary to the way Satan proposes to him and the way men wish to attribute to him. This is why Christ vanquished the Tempter for us: "For we have not a high priest who is unable to sympathize with our weaknesses, but one who in every respect has been tested as we are, yet without sinning." By the solemn forty days of Lent the Church unites herself each year to the mystery of Jesus in the desert.
“Sau khi ông Gioan bị nộp, Chúa Giêsu đến miền Galilê, rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: ‘Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’” (Mc 1,14-15). “Để chu toàn thánh ý Chúa Cha, Đức Kitô đã khởi đầu Nước Trời nơi trần gian.” Và thánh ý Chúa Cha là “nâng loài người lên, cho họ được dự phần vào sự sống của Thiên Chúa.” Thiên Chúa thực hiện điều này bằng cách quy tụ người ta quanh Con của Ngài, là Chúa Giêsu Kitô. Cộng đồng được quy tụ này, chính là Hội Thánh, là “hạt giống và điểm khởi đầu của Nước Thiên Chúa” trên trần gian.
"Now after John was arrested, Jesus came into Galilee, preaching the gospel of God, and saying: 'The time is fulfilled, and the kingdom of God is at hand: repent, and believe in the gospel.'" "To carry out the will of the Father Christ inaugurated the kingdom of heaven on earth." Now the Father's will is "to raise up men to share in his own divine life". He does this by gathering men around his Son Jesus Christ. This gathering is the Church, "on earth the seed and beginning of that kingdoms".
Đức Kitô là trung tâm của cộng đồng nhân loại này trong “gia đình của Thiên Chúa.” Người triệu tập họ quanh Người bằng lời nói, bằng những dấu chỉ biểu lộ Nước Thiên Chúa, bằng việc sai phái các môn đệ của Người. Người sẽ làm cho Nước Người đến, chủ yếu nhờ mầu nhiệm cao cả là cuộc Vượt Qua của Người, tức là cái Chết trên thập giá và sự Sống lại của Người. “Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,32). Mọi người đều được mời gọi tham dự vào sự kết hợp này với Đức Kitô.
Christ stands at the heart of this gathering of men into the "family of God". By his word, through signs that manifest the reign of God, and by sending out his disciples, Jesus calls all people to come together around him. But above all in the great Paschal mystery - his death on the cross and his Resurrection - he would accomplish the coming of his kingdom. "and I, when I am lifted up from the earth, will draw all men to myself." Into this union with Christ all men are called.
Mọi người đều được mời gọi gia nhập Nước Thiên Chúa. Nước này của Đấng Mêsia trước tiên được loan báo cho con cái Ítraen, nhưng hướng đến việc đón nhận mọi người thuộc mọi dân tộc. Để vào Nước Thiên Chúa, cần phải đón nhận lời của Chúa Giêsu: “Lời Chúa được ví như hạt giống gieo trong ruộng: ai nghe Lời Chúa với đức tin và gia nhập đàn chiên nhỏ của Đức Kitô, thì đã đón nhận chính Nước Người; rồi do sức của nó, hạt giống nẩy mầm và lớn lên cho tới mùa gặt.”
Everyone is called to enter the kingdom. First announced to the children of Israel, this messianic kingdom is intended to accept men of all nations. To enter it, one must first accept Jesus' word:
Nước Thiên Chúa thuộc về những người nghèo hèn và bé mọn, nghĩa là, những người đón nhận Nước ấy với tâm hồn khiêm tốn. Đức Kitô được sai đến để “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,18). Người tuyên bố rằng họ có phúc, “vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3); Chúa Cha đã thương mặc khải cho những kẻ “bé mọn” này điều Người giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết. Chúa Giêsu, từ máng cỏ cho tới thập giá, đã chia sẻ kiếp sống của những kẻ nghèo hèn; Người đã từng chịu đói, chịu khát, chịu thiếu thốn. Hơn thế nữa, Người tự đồng hóa mình với mọi hạng người nghèo hèn và coi lòng yêu thương tích cực đối với họ là điều kiện để được vào Nước của Người.
The kingdom belongs to the poor and lowly, which means those who have accepted it with humble hearts. Jesus is sent to "preach good news to the poor"; he declares them blessed, for "theirs is the kingdom of heaven." To them - the "little ones" the Father is pleased to reveal what remains hidden from the wise and the learned. Jesus shares the life of the poor, from the cradle to the cross; he experiences hunger, thirst and privation. Jesus identifies himself with the poor of every kind and makes active love toward them the condition for entering his kingdom.
Chúa Giêsu mời những kẻ tội lỗi vào bàn tiệc Nước Thiên Chúa: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17). Người mời gọi họ hối cải, vì không hối cải thì không thể vào Nước Người, nhưng Người cũng dùng lời nói và hành động cho họ thấy lòng thương xót vô biên của Cha Người đối với họ, và “trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,7). Bằng chứng cao cả nhất của tình yêu này, là việc Người dâng hiến mạng sống mình “cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28).
Jesus invites sinners to the table of the kingdom: "I came not to call the righteous, but sinners." He invites them to that conversion without which one cannot enter the kingdom, but shows them in word and deed his Father's boundless mercy for them and the vast "joy in heaven over one sinner who repents". The supreme proof of his love will be the sacrifice of his own life "for the forgiveness of sins".
Chúa Giêsu kêu gọi người ta vào Nước Trời, bằng cách dùng các dụ ngôn, là nét đặc trưng trong cách giảng dạy của Người. Qua các dụ ngôn, Người mời vào dự tiệc Nước Trời, nhưng Người cũng đòi phải có một lựa chọn triệt để: để đạt được Nước Trời, cần phải cho đi mọi sự; lời nói suông không đủ, cần phải có việc làm. Các dụ ngôn như những tấm gương đối với con người: họ đón nhận Lời Chúa chỉ như mảnh đất khô khan hay mảnh đất mầu mỡ? Họ làm gì với những nén bạc đã nhận? Chúa Giêsu và sự hiện diện của Nước Trời trong trần gian, một cách kín đáo, nằm ở trung tâm của các dụ ngôn. Cần phải tiến vào Nước Trời, nghĩa là, phải trở nên môn đệ Đức Kitô, mới “hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời” (Mt 13,11). Còn đối với những kẻ “ở ngoài” (Mc 4,11), mọi sự đều bí ẩn.
Jesus' invitation to enter his kingdom comes in the form of parables, a characteristic feature of his teaching. Through his parables he invites people to the feast of the kingdom, but he also asks for a radical choice: to gain the kingdom, one must give everything. Words are not enough, deeds are required. The parables are like mirrors for man: will he be hard soil or good earth for the word? What use has he made of the talents he has received? Jesus and the presence of the kingdom in this world are secretly at the heart of the parables. One must enter the kingdom, that is, become a disciple of Christ, in order to "know the secrets of the kingdom of heaven". For those who stay "outside", everything remains enigmatic.
Kèm theo những lời Người nói, Chúa Giêsu đã làm “những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ” (Cv 2,22) để cho thấy Nước Trời đang hiện diện nơi Người. Chúng chứng tỏ Chúa Giêsu chính là Đấng Mêsia đã được tiên báo.
Jesus accompanies his words with many "mighty works and wonders and signs", which manifest that the kingdom is present in him and attest that he was the promised Messiah.
Các dấu lạ do Chúa Giêsu thực hiện minh chứng Chúa Cha đã sai Người đến. Chúng mời gọi ta hãy tin vào Người. Những ai đến với Người bằng đức tin, đức tin cho họ được điều họ thỉnh cầu. Lúc đó, các phép lạ củng cố lòng tin vào Người, Đấng thực hiện các công việc của Cha Người: chúng chứng tỏ Người là Con Thiên Chúa. Nhưng chúng cũng có thể là cớ vấp ngã. Quả vậy, chúng không nhằm thỏa mãn trí tò mò, và lòng ưa chuộng ma thuật. Bất chấp những phép lạ hết sức tỏ tường của Người, Chúa Giêsu vẫn bị một số người loại bỏ, thậm chí Người còn bị tố cáo là hành động nhờ ma quỷ.
The signs worked by Jesus attest that the Father has sent him. They invite belief in him. To those who turn to him in faith, he grants what they ask. So miracles strengthen faith in the One who does his Father's works; they bear witness that he is the Son of God. But his miracles can also be occasions for "offence"; they are not intended to satisfy people's curiosity or desire for magic Despite his evident miracles some people reject Jesus; he is even accused of acting by the power of demons.
Khi giải thoát một số người khỏi những sự dữ đời này như đói khát, bất công, bệnh tật và cái chết, Chúa Giêsu đã thực hiện các dấu chỉ Người là Đấng Mêsia. Tuy nhiên, Người không đến để loại trừ mọi điều xấu khỏi trần gian này, nhưng để giải thoát con người khỏi ách nô lệ nặng nề nhất, là ách nô lệ của tội lỗi, thứ ách nô lệ này ngăn cản họ trong ơn gọi của họ là làm con cái Thiên Chúa, và gây ra mọi hình thức nô lệ giữa con người.
By freeing some individuals from the earthly evils of hunger, injustice, illness and death, Jesus performed messianic signs. Nevertheless he did not come to abolish all evils here below, but to free men from the gravest slavery, sin, which thwarts them in their vocation as God's sons and causes all forms of human bondage.
Khi Nước Thiên Chúa trị đến là lúc nước Xatan bị sụp đổ: “Nếu tôi dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Mt 12,28). Những việc trừ quỷ do Chúa Giêsu thực hiện, giải phóng người ta khỏi quyền thống trị của ma quỷ. Những việc ấy báo trước sự chiến thắng cao cả của Chúa Giêsu trên “thủ lãnh thế gian này.” Nhờ thập giá của Đức Kitô mà Nước Thiên Chúa sẽ được thiết lập vĩnh viễn: “Thiên Chúa đã cai trị từ cây gỗ.”
The coming of God's kingdom means the defeat of Satan's: "If it is by the Spirit of God that I cast out demons, then the kingdom of God has come upon you." Jesus' exorcisms free some individuals from the domination of demons. They anticipate Jesus' great victory over "the ruler of this world". The kingdom of God will be definitively established through Christ's cross: "God reigned from the wood."
Chúa Giêsu, khi khởi đầu đời sống công khai của Người, đã chọn Nhóm Mười Hai người đàn ông để các ông ở với Người và tham dự vào sứ vụ của Người. Người cho các ông tham dự vào quyền hành của Người và “sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2). Các ông được liên kết vĩnh viễn với Nước của Đức Kitô, bởi vì Người sẽ dùng các ông mà điều khiển Hội Thánh: “Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự tòa xét xử mười hai chi tộc Ítraen” (Lc 22,29-30).
From the beginning of his public life Jesus chose certain men, twelve in number, to be with him and to participate in his mission. He gives the Twelve a share in his authority and 'sent them out to preach the kingdom of God and to heal." They remain associated for ever with Christ's kingdom, for through them he directs the Church:
Trong nhóm Mười Hai, ông Simon Phêrô giữ địa vị thứ nhất; Chúa Giêsu ủy thác cho ông một sứ vụ độc đáo. Nhờ Chúa Cha mặc khải, ông Phêrô tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Lúc đó Chúa chúng ta liền tuyên bố với ông: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18). Đức Kitô, “Viên đá sống động”, bảo đảm rằng Hội Thánh mà Người xây dựng trên Tảng Đá Phêrô sẽ chiến thắng quyền lực tử thần. Nhờ đức tin ông đã tuyên xưng, ông Phêrô sẽ mãi là Tảng Đá kiên vững của Hội Thánh. Ông có sứ vụ gìn giữ đức tin được toàn vẹn và làm cho các anh em mình nên vững mạnh trong đức tin.
Simon Peter holds the first place in the college of the Twelve; Jesus entrusted a unique mission to him. Through a revelation from the Father, Peter had confessed: "You are the Christ, the Son of the living God." Our Lord then declared to him: "You are Peter, and on this rock I will build my Church, and the gates of Hades will not prevail against it." Christ, the "living Stone", thus assures his Church, built on Peter, of victory over the powers of death. Because of the faith he confessed Peter will remain the unshakeable rock of the Church. His mission will be to keep this faith from every lapse and to strengthen his brothers in it.
Chúa Giêsu ủy thác cho ông Phêrô một thẩm quyền đặc biệt: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời; dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,19). “Quyền chìa khoá” là quyền cai quản Nhà của Thiên Chúa, tức là Hội Thánh. Chúa Giêsu, “Mục Tử nhân lành” (Ga 10,11) xác nhận nhiệm vụ đó sau khi Người phục sinh: “Hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21,15-17). Quyền “cầm buộc và tháo cởi” có nghĩa là quyền tha tội, quyền đưa ra những phán quyết về giáo lý và những quyết định về kỷ luật trong Hội Thánh. Chúa Giêsu ủy thác quyền này cho Hội Thánh qua thừa tác vụ của các Tông Đồ, và đặc biệt của ông Phêrô, người duy nhất Chúa minh nhiên trao phó chìa khóa Nước Trời.
Jesus entrusted a specific authority to Peter: "I will give you the keys of the kingdom of heaven, and whatever you bind on earth shall be bound in heaven, and whatever you loose on earth shall be loosed in heaven." The "power of the keys" designates authority to govern the house of God, which is the Church. Jesus, the Good Shepherd, confirmed this mandate after his Resurrection: "Feed my sheep." The power to "bind and loose" connotes the authority to absolve sins, to pronounce doctrinal judgements, and to make disciplinary decisions in the Church. Jesus entrusted this authority to the Church through the ministry of the apostles and in particular through the ministry of Peter, the only one to whom he specifically entrusted the keys of the kingdom.
Từ ngày ông Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, Chúa Giêsu “bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết, Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ..., rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Ông Phêrô khước từ lời loan báo đó, các môn đệ khác cũng không hiểu gì hơn. Chính trong bối cảnh này, đã xảy ra biến cố kỳ diệu là cuộc Hiển Dung của Chúa Giêsu trên núi cao, trước mặt ba nhân chứng do Người lựa chọn, là các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan. Dung mạo và y phục của Chúa Giêsu trở nên chói sáng, ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người, “nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem” (Lc 9,31). Một đám mây bao phủ các Ngài và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người” (Lc 9,35).
From the day Peter confessed that Jesus is the Christ, the Son of the living God, the Master "began to show his disciples that he must go to Jerusalem and suffer many things. . . and be killed, and on the third day be raised." Peter scorns this prediction, nor do the others understand it any better than he. In this context the mysterious episode of Jesus' Transfiguration takes place on a high mountain, before three witnesses chosen by himself: Peter, James and John. Jesus' face and clothes become dazzling with light, and Moses and Elijah appear, speaking "of his departure, which he was to accomplish at Jerusalem". A cloud covers him and a voice from heaven says: "This is my Son, my Chosen; listen to him!"
Chúa Giêsu tỏ lộ vinh quang thần linh của mình trong chốc lát, và như vậy, Người xác nhận lời tuyên xưng của ông Phêrô. Người cũng cho thấy rằng, để “vào trong vinh quang của Người” (Lc 24,26), Người phải đi qua thập giá tại Giêrusalem. Ông Môsê và ông Êlia đã thấy vinh quang của Thiên Chúa trên núi; Lề luật và các Tiên tri đã tiên báo những đau khổ của Đấng Mêsia. Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đúng là do ý muốn của Chúa Cha: Chúa Con hành động với tư cách là Người Tôi Trung của Thiên Chúa. Đám mây nói lên sự hiện diện của Chúa Thánh Thần: “Cả Ba Ngôi cùng xuất hiện, Chúa Cha trong tiếng nói, Chúa Con trong nhân tính của mình, Chúa Thánh Thần trong đám mây sáng chói”: “Lạy Chúa Kitô là Thiên Chúa, Chúa đã hiển dung trên núi và, tùy theo khả năng, các môn đệ Chúa chiêm ngưỡng vinh quang Chúa, để mai sau khi thấy Chúa chịu đóng đinh thập giá, họ hiểu rằng Chúa đã tự nguyện chịu khổ hình. Rồi họ sẽ loan báo cho thế giới biết Chúa chính là vinh quang Chúa Cha chiếu toả.”
For a moment Jesus discloses his divine glory, confirming Peter's confession. He also reveals that he will have to go by the way of the cross at Jerusalem in order to "enter into his glory". Moses and Elijah had seen God's glory on the Mountain; the Law and the Prophets had announced the Messiah's sufferings. Christ's Passion is the will of the Father: the Son acts as God's servant; The cloud indicates the presence of the Holy Spirit. "The whole Trinity appeared: the Father in the voice; the Son in the man; the Spirit in the shining cloud."
Tại ngưỡng cửa đời sống công khai: phép rửa; tại ngưỡng cửa cuộc Vượt Qua: biến cố Hiển Dung. Qua phép rửa của Chúa Giêsu, “mầu nhiệm cuộc tái sinh lần thứ nhất” được loan báo: đó là bí tích Rửa Tội của chúng ta; Hiển Dung là “bí tích của cuộc tái sinh lần thứ hai”: đó là sự phục sinh riêng của chúng ta. Ngay từ bây giờ, chúng ta được tham dự vào sự phục sinh của Chúa, nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động trong các bí tích của Thân Thể Chúa Kitô. Biến cố Hiển Dung cho chúng ta được nếm trước việc ngự đến trong vinh quang của Chúa Kitô, Đấng “sẽ biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,21). Nhưng biến cố ấy cũng nhắc nhở chúng ta rằng: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa” (Cv 14,22). “Khi ông Phêrô ước ao sống với Đức Kitô trên núi, ông chưa hiểu gì. Hỡi ông Phêrô, Chúa sẽ chỉ dành cho ông điều đó, sau khi chết. Còn hiện nay thì Chúa nói: Hãy xuống núi để chịu lao nhọc ở trần gian, để phục vụ ở trần gian, để chịu sỉ nhục, chịu đóng đinh ở trần gian. Đấng là Sự Sống, đã xuống để bị giết; Đấng là Bánh, đã xuống để chịu đói; Đấng là Đường, đã xuống để chịu mệt nhọc trên đường; Đấng là Nguồn Mạch, đã xuống để chịu khát; còn ông lại từ chối lao nhọc ư?.”
On the threshold of the public life: the baptism; on the threshold of the Passover: the Transfiguration. Jesus' baptism proclaimed "the mystery of the first regeneration", namely, our Baptism; the Transfiguration "is the sacrament of the second regeneration": our own Resurrection. From now on we share in the Lord's Resurrection through the Spirit who acts in the sacraments of the Body of Christ. the Transfiguration gives us a foretaste of Christ's glorious coming, when he "will change our lowly body to be like his glorious body." But it also recalls that "it is through many persecutions that we must enter the kingdom of God":
“Khi đã tới ngày Chúa Giêsu được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem” (Lc 9,51). Qua quyết định này, Chúa Giêsu tỏ cho thấy Người lên Giêrusalem trong tư thế sẵn sàng để chịu chết ở đó. Người đã loan báo đến ba lần cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Người. Khi tiến về Giêrusalem, Người nói: “Một ngôn sứ mà chết ngoài thành Giêrusalem thì không được!” (Lc 13,33).
"When the days drew near for him to be taken up [Jesus] set his face to go to Jerusalem." By this decision he indicated that he was going up to Jerusalem prepared to die there. Three times he had announced his Passion and Resurrection; now, heading toward Jerusalem, Jesus says: "It cannot be that a prophet should perish away from Jerusalem."
Chúa Giêsu gợi lại cái chết của các Tiên tri, đã bị giết ở Giêrusalem. Dù sao, Người vẫn khẩn khoản kêu gọi Giêrusalem quy tụ quanh Người: “Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu” (Mt 23,37b). Khi nhìn thấy Giêrusalem, Người khóc thương thành ấy và một lần nữa thốt lên ao ước của lòng Người: “Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được” (Lc 19,42).
Jesus recalls the martyrdom of the prophets who had been put to death in Jerusalem. Nevertheless he persists in calling Jerusalem to gather around him: "How often would I have gathered your children together as a hen gathers her brood under her wings, and you would not!" When Jerusalem comes into view he weeps over her and expresses once again his heart's desire: "Would that even today you knew the things that make for peace! But now they are hid from your eyes."
Giêrusalem sẽ đón nhận Đấng Mêsia của mình như thế nào? Chúa Giêsu, Đấng luôn trốn tránh mọi ý đồ của dân chúng muốn tôn Người làm vua, đã chọn thời điểm và chuẩn bị kỹ lưỡng để tiến vào Giêrusalem, thành của “Đavít, tổ tiên Người” (Lc 1,32) với tư cách là Đấng Mêsia. Người được dân chúng hoan hô như con vua Đavít, như Đấng mang lại ơn cứu độ (Hosanna có nghĩa là “xin cứu”, “xin ban ơn cứu độ!”). Nhưng “Đức Vua vinh hiển” (Tv 24,7-10) lại “ngồi trên lưng lừa con” (Dcr 9,9) tiến vào thành: Người không chinh phục Thiếu nữ Xion, hình ảnh của Hội Thánh Người, bằng mưu mẹo hay bằng bạo lực, nhưng bằng sự khiêm tốn, là bằng chứng của sự thật. Vì vậy, ngày hôm đó, thần dân của Nước Người là các trẻ em và “những người nghèo của Thiên Chúa”, họ tung hô Người giống như các Thiên thần đã loan báo Người cho các mục đồng. Lời tung hô của họ: “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa” (Tv 118,26) được Hội Thánh dùng lại trong kinh “Thánh! Thánh! Thánh!” để mở đầu phụng vụ Thánh Thể tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa.
How will Jerusalem welcome her Messiah? Although Jesus had always refused popular attempts to make him king, he chooses the time and prepares the details for his messianic entry into the city of "his father David". Acclaimed as son of David, as the one who brings salvation (Hosanna means "Save!" or "Give salvation!"), the "King of glory" enters his City "riding on an ass". Jesus conquers the Daughter of Zion, a figure of his Church, neither by ruse nor by violence, but by the humility that bears witness to the truth. and so the subjects of his kingdom on that day are children and God's poor, who acclaim him as had the angels when they announced him to the shepherds. Their acclamation, "Blessed be he who comes in the name of the Lord", is taken up by the Church in the Sanctus of the Eucharistic liturgy that introduces the memorial of the Lord's Passover.
Việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem tỏ cho thấy Nước Thiên Chúa đang đến. Sự kiện đó, Đức Vua Mêsia sắp hoàn thành bằng cuộc Vượt Qua, là sự Chết và sự Sống lại của Người. Phụng vụ Hội Thánh khởi đầu Tuần Thánh bằng việc cử hành biến cố Chúa Giêsu tiến vào Giêrusalem, trong Chúa Nhật Lễ Lá.
Jesus' entry into Jerusalem manifested the coming of the kingdom that the King-Messiah was going to accomplish by the Passover of his Death and Resurrection. It is with the celebration of that entry on Palm Sunday that the Church's liturgy solemnly opens Holy Week.
“Cả cuộc đời của Đức Kitô là một giáo huấn liên tục: những lúc Người thinh lặng, các dấu lạ Người làm, việc Người cầu nguyện, tấm lòng yêu thương của Người đối với con người, sự quan tâm đặc biệt của Người đối với những người bé mọn và nghèo hèn, việc Người hoàn toàn chấp nhận hiến mình trên thập giá để cứu chuộc loài người, và cuối cùng việc Người sống lại, tất cả là sự thực hiện lời Người và sự hoàn tất Mặc Khải của Người.”
"The whole of Christ's life was a continual teaching: his silences, his miracles, his gestures, his prayer, his love for people, his special affection for the little and the poor, his acceptance of the total sacrifice on the Cross for the redemption of the world, and his Resurrection are the actualization of his word and the fulfilment of Revelation" John Paul II, CT 9).
Các môn đệ Đức Kitô phải nên giống Người cho tới khi Người được thành hình trong họ. “Chúng ta được thâu nhận vào các mầu nhiệm của cuộc đời Người, nên đồng hình đồng dạng với Người, cùng chết và cùng sống lại với Người, cho tới khi cùng cai trị với Người.”
Christ's disciples are to conform themselves to him until he is formed in them (cf Gal 4:19). "For this reason we, who have been made like to him, who have died with him and risen with him, are taken up into the mysteries of his life, until we reign together with him" (LG 7 # 4).
Con người, hoặc mục đồng hoặc đạo sĩ, không thể gặp được Thiên Chúa ở trần gian này, nếu không qùy xuống trước máng cỏ Bêlem và thờ lạy Thiên Chúa ẩn mình trong sự yếu đuối của một hài nhi.
No one, whether shepherd or wise man, can approach God here below except by kneeling before the manger at Bethlehem and adoring him hidden in the weakness of a new-born child.
Chúa Giêsu, qua việc tuân phục Đức Maria và thánh Giuse, và qua việc lao động khiêm nhường trong những năm dài ở Nadarét, nêu gương thánh thiện cho chúng ta trong cuộc sống hằng ngày trong gia đình và trong việc lao động.
By his obedience to Mary and Joseph, as well as by his humble work during the long years in Nazareth, Jesus gives us the example of holiness in the daily life of family and work.
Chúa Giêsu, ngay từ lúc khởi đầu đời sống công khai của Người, lúc Người chịu phép rửa, là “Người Tôi Trung” hoàn toàn hiến thân cho công trình Cứu Độ, công trình này sẽ được hoàn tất trong “phép rửa” là cuộc khổ nạn của Người.
From the beginning of his public life, at his baptism, Jesus is the "Servant", wholly consecrated to the redemptive work that he will accomplish by the "baptism" of his Passion.
Các cơn cám dỗ trong hoang địa cho thấy Chúa Giêsu, Đấng Mêsia khiêm nhường, đã chiến thắng Xatan nhờ việc Người gắn bó trọn vẹn với kế hoạch cứu độ theo ý muốn của Chúa Cha.
The temptation in the desert shows Jesus, the humble Messiah, who triumphs over Satan by his total adherence to the plan of salvation willed by the Father.
Đức Kitô đã khai mạc Nước Trời nơi trần gian. “Thật sự, Nước này chiếu sáng trước mặt mọi người qua lời nói, hành động và sự hiện diện của Chúa Kitô.” Hội Thánh là hạt giống và điểm khởi đầu của Nước Trời. Chìa khóa Nước Trời được trao cho ông Phêrô.
The kingdom of heaven was inaugurated on earth by Christ. "This kingdom shone out before men in the word, in the works and in the presence of Christ" (LG 5). the Church is the seed and beginning of this kingdom. Its keys are entrusted to Peter.
Cuộc Hiển Dung của Chúa Kitô nhằm mục đích củng cố đức tin của các Tông Đồ để chuẩn bị cho cuộc khổ nạn: việc leo lên “núi cao” chuẩn bị cho việc leo lên đồi Calvariô. Đức Kitô, Đầu của Hội Thánh, biểu lộ điều Thân Thể Người ao ước và là điều được phản ánh trong các bí tích: đó là “niềm hy vọng đạt tới vinh quang” (Cl 1,27).
Christ's Transfiguration aims at strengthening the apostles' faith in anticipation of his Passion: the ascent on to the "high mountain" prepares for the ascent to Calvary. Christ, Head of the Church, manifests what his Body contains and radiates in the sacraments: "the hope of glory" (Col 1:27; cf.: St. Leo the Great, Sermo 51, 3: PL 54, 310C).
Chúa Giêsu tự nguyện lên Giêrusalem dù biết rằng tại đây Người sẽ phải chết cách khổ nhục vì sự thù nghịch của những kẻ tội lỗi.
Jesus went up to Jerusalem voluntarily, knowing well that there he would die a violent death because of the opposition of sinners (cf Heb 12:3).
Việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem cho thấy Nước Trời đang đến. Đức Vua Mêsia, mà trẻ em và những người có tâm hồn nghèo hèn nghênh đón, sẽ hoàn thành Nước Trời bằng cuộc Vượt Qua, là cái Chết và sự Sống lại của Người.
Jesus' entry into Jerusalem manifests the coming of the kingdom that the Messiah-King, welcomed into his city by children and the humble of heart, is going to accomplish by the Passover of his Death and Resurrection.