Hỏi Đáp Công Giáo
Tuyên Xưng Đức Tin · Tuyên xưng đức tin Kitô Giáo · Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa · Chúa Giêsu Kitô đã “chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đinh trên cây thánh giá, chết và táng xác”
TIẾT 1

Chúa Giêsu và Ítraen

Số 571–594
571

Mầu nhiệm Vượt Qua, tức là mầu nhiệm thập giá và sự sống lại của Chúa Kitô, là trung tâm Tin Mừng mà các Tông Đồ, và sau các ngài là Hội Thánh, phải loan báo cho trần gian. Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được hoàn tất “một lần cho mãi mãi” (Hr 9,26) nhờ cái chết cứu chuộc của Con Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô.

The Paschal mystery of Christ's cross and Resurrection stands at the centre of the Good News that the apostles, and the Church following them, are to proclaim to the world. God's saving plan was accomplished "once for all" by the redemptive death of his Son Jesus Christ.

572

Hội Thánh vẫn trung thành với cách giải thích toàn bộ Thánh Kinh mà chính Chúa Giêsu đã đưa ra trước cũng như sau cuộc Vượt Qua của Người: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26). Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu đã xảy ra cụ thể trong lịch sử do việc Người đã “bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ” (Mc 8,31); và họ đã “nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá” (Mt 20,19).

The Church remains faithful to the interpretation of "all the Scriptures" that Jesus gave both before and after his Passover: "Was it not necessary that the Christ should suffer these things and enter into his glory?" Jesus' sufferings took their historical, concrete form from the fact that he was "rejected by the elders and the chief priests and the scribes", who handed "him to the Gentiles to be mocked and scourged and crucified".

573

Vì vậy, đức tin có thể nỗ lực tìm hiểu kỹ càng các tình tiết về cái chết của Chúa Giêsu, được các sách Tin Mừng trung thành lưu truyền và được các nguồn lịch sử khác soi sáng, để hiểu rõ hơn ý nghĩa của công trình Cứu Chuộc.

Faith can therefore try to examine the circumstances of Jesus' death, faithfully handed on by the Gospels and illuminated by other historical sources, the better to understand the meaning of the Redemption.

574

Ngay từ đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu, những người Pharisêu và nhóm Hêrôđê, cùng với các tư tế và kinh sư đã toa rập với nhau để hại Người. Vì một số hành động của Người (như trừ quỷ, tha tội, chữa bệnh ngày sabát, đưa ra những giải thích riêng về sự thanh sạch theo pháp lý, thân thiện với những người thu thuế và những kẻ tội lỗi công khai ), Chúa Giêsu bị một số người có ý xấu nghi ngờ là Người bị quỷ ám. Người bị tố cáo về tội nói phạm thượng, về tội làm tiên tri giả, về những tội thật sự thuộc về tôn giáo mà Luật phạt tử hình bằng cách ném đá.

From the beginning of Jesus' public ministry, certain Pharisees and partisans of Herod together with priests and scribes agreed together to destroy him. Because of certain acts of his expelling demons, forgiving sins, healing on the sabbath day, his novel interpretation of the precepts of the Law regarding purity, and his familiarity with tax collectors and public sinners--some ill-intentioned persons suspected Jesus of demonic possession. He is accused of blasphemy and false prophecy, religious crimes which the Law punished with death by stoning.

575

Vì vậy, một số việc làm và lời nói của Chúa Giêsu đã là “dấu hiệu cho người đời chống báng” đối với giới lãnh đạo tôn giáo tại Giêrusalem, những người mà Tin Mừng thánh Gioan thường gọi là “người Do Thái”, hơn là đối với đại chúng dân Thiên Chúa. Các liên hệ giữa Chúa Giêsu với nhóm Pharisêu không phải chỉ là bất đồng. Một số người Pharisêu đã báo cho Người biết mối nguy hiểm đang đe dọa Người. Chúa Giêsu ca tụng một số người trong họ, ví dụ như vị kinh sư nói trong Mc 12,34, và nhiều lần Người đã dùng bữa tại nhà những người Pharisêu. Chúa Giêsu xác nhận những giáo lý chung trong nhóm tôn giáo ưu tú này của dân Chúa: việc kẻ chết sống lại, các hình thức đạo đức (bố thí, ăn chay và cầu nguyện), và thói quen gọi Thiên Chúa là Cha, tính chất trung tâm của giới răn mến Chúa yêu người.

Many of Jesus' deeds and words constituted a "sign of contradiction", but more so for the religious authorities in Jerusalem, whom the Gospel according to John often calls simply "the Jews", than for the ordinary People of God. To be sure, Christ's relations with the Pharisees were not exclusively polemical. Some Pharisees warn him of the danger he was courting; Jesus praises some of them, like the scribe of Mark 12:34, and dines several times at their homes. Jesus endorses some of the teachings imparted by this religious elite of God's people: the resurrection of the dead, certain forms of piety (almsgiving, fasting and prayer), The custom of addressing God as Father, and the centrality of the commandment to love God and neighbour.

576

Đối với nhiều người Ítraen, Chúa Giêsu xem ra hành động nghịch với những định chế căn bản của dân Chúa chọn. Người có vẻ như: — chống lại việc tuân phục Lề luật, trong toàn bộ các giới luật thành văn, và đối với nhóm Pharisêu, trong việc giải thích truyền khẩu; — chống lại vị trí trung tâm của Đền thờ Giêrusalem, xét như nơi thánh, nơi duy nhất Thiên Chúa lưu ngụ; — chống lại Đức tin vào Thiên Chúa duy nhất, Đấng không ai có thể được tham dự vào vinh quang của Ngài.

In the eyes of many in Israel, Jesus seems to be acting against essential institutions of the Chosen People: - submission to the whole of the Law in its written commandments and, for the Pharisees, in the interpretation of oral tradition; - the centrality of the Temple at Jerusalem as the holy place where God's presence dwells in a special way; - faith in the one God whose glory no man can share.

577

Khởi đầu Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đưa ra một giáo huấn long trọng trong đó Người trình bày Lề luật, đã được Thiên Chúa ban tại Xinai dịp Giao Ước đầu tiên, dưới ánh sáng của ân sủng của Giao Ước Mới: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành, và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời” (Mt 5,17-19).

At the beginning of the Sermon on the Mount Jesus issued a solemn warning in which he presented God's law, given on Sinai during the first covenant, in light of the grace of the New Covenant:

578

Chúa Giêsu, Đấng Mêsia của Ítraen, do đó là người lớn nhất trong Nước Trời, đã phải chu toàn Lề luật, khi tuân giữ toàn bộ Lề luật, theo chính lời Người nói, cho đến cả những điều răn nhỏ nhất. Nói cho đúng, chính Người là Đấng duy nhất đã có thể làm điều này một cách trọn hảo. Những người Do Thái, theo chính họ thú nhận, đã không bao giờ có thể chu toàn trọn bộ Lề luật mà không vi phạm một điều răn nhỏ nhất nào. Vì vậy, trong lễ Xá Tội hằng năm, con cái Ítraen cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho những lỗi phạm Lề luật của họ. Thật vậy, Lề luật tạo thành một tổng thể và, như thánh Giacôbê nhắc nhở, “ai tuân giữ tất cả Lề luật, mà chỉ sa ngã về một điểm thôi, thì cũng thành người có tội về hết mọi điểm” (Gc 2,10).

Jesus, Israel's Messiah and therefore the greatest in the kingdom of heaven, was to fulfil the Law by keeping it in its all embracing detail - according to his own words, down to "the least of these commandments". He is in fact the only one who could keep it perfectly. On their own admission the Jews were never able to observe the Law in its entirety without violating the least of its precepts. This is why every year on the Day of Atonement the children of Israel ask God's forgiveness for their transgressions of the Law. the Law indeed makes up one inseparable whole, and St. James recalls, "Whoever keeps the whole law but fails in one point has become guilty of all of it."

579

Những người Pharisêu rất trọng nguyên tắc tuân giữ toàn bộ Lề luật, không những chỉ theo văn tự, mà cả theo tinh thần nữa. Khi nêu nguyên tắc đó cho Ítraen, họ đã dẫn đưa nhiều người Do Thái thời Chúa Giêsu tới việc hết sức nhiệt thành giữ đạo. Điều này, nếu không bị phá hủy do việc xét đoán mọi sự cách “giả hình”, thì nhất định đã chuẩn bị cho dân hướng tới sự can thiệp chưa từng thấy của Thiên Chúa, là việc thi hành trọn vẹn Lề luật sẽ được hoàn thành bởi Đấng Công Chính duy nhất thay cho mọi tội nhân.

This principle of integral observance of the Law not only in letter but in spirit was dear to the Pharisees. By giving Israel this principle they had led many Jews of Jesus' time to an extreme religious zeal. This zeal, were it not to lapse into "hypocritical" casuistry, could only prepare the People for the unprecedented intervention of God through the perfect fulfilment of the Law by the only Righteous One in place of all sinners.

580

Việc chu toàn Lề luật cách trọn hảo chỉ có thể được thực hiện bởi Đấng ban hành Lề luật của Thiên Chúa, là Ngôi Con, được sinh ra dưới Lề luật. Nơi Chúa Giêsu, Lề luật không còn được ghi trên bia đá nữa, nhưng “vào lòng dạ” và “vào tâm khảm” (Gr 31,33) của Người Tôi Trung, là người, vì đã “trung thành làm sáng tỏ công lý” (Is 42,3), nên được đặt làm “Giao Ước với dân” (Is 42,6). Chúa Giêsu chu toàn Lề luật cho đến độ đảm nhận trên mình “lời nguyền rủa của Lề luật” mà những ai “không bền chí thi hành tất cả những gì được chép trong sách Luật” đã chuốc lấy, bởi vì Đức Kitô đã chịu chết “mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời Giao Ước Cũ” (Hr 9,15).

The perfect fulfilment of the Law could be the work of none but the divine legislator, born subject to the Law in the person of the Son. In Jesus, the Law no longer appears engraved on tables of stone but "upon the heart" of the Servant who becomes "a covenant to the people", because he will "faithfully bring forth justice". Jesus fulfils the Law to the point of taking upon himself "the curse of the Law" incurred by those who do not "abide by the things written in the book of the Law, and do them", for his death took place to redeem them "from the transgressions under the first covenant".

581

Trước mắt người Do Thái và các nhà lãnh đạo tinh thần của họ, Chúa Giêsu xuất hiện như một “kinh sư.” Người thường tranh luận về cách giải thích Lề luật của các kinh sư. Nhưng đồng thời, Chúa Giêsu tất yếu phải đối đầu với những tiến sĩ Luật bởi vì khi trình bày cách giải thích của mình, Người không tự giới hạn trong những cách giải thích của họ; “vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7,28-29). Nơi Người, cùng một Lời của Thiên Chúa đã từng vang lên trên núi Xinai để ban hành Lề luật được ghi khắc cho ông Môsê, nay lại vang dội trên núi Bát Phúc. Đấng là Ngôi Lời không bãi bỏ, nhưng kiện toàn Lề luật, bằng cách đưa ra lời giải thích tối hậu với một uy quyền thần linh: “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng... Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết” (Mt 5,33-34). Chính Người, với cùng một thẩm quyền thần linh ấy, phủ nhận một số “truyền thống của người phàm” (Mc 7,8) của nhóm Pharisêu, vì những truyền thống đó hủy bỏ Lời Thiên Chúa.

The Jewish people and their spiritual leaders viewed Jesus as a rabbi. He often argued within the framework of rabbinical interpretation of the Law. Yet Jesus could not help but offend the teachers of the Law, for he was not content to propose his interpretation alongside theirs but taught the people "as one who had authority, and not as their scribes". In Jesus, the same Word of God that had resounded on Mount Sinai to give the written Law to Moses, made itself heard anew on the Mount of the Beatitudes. Jesus did not abolish the Law but fulfilled it by giving its ultimate interpretation in a divine way: "You have heard that it was said to the men of old. . . But I say to you. . ." With this same divine authority, he disavowed certain human traditions of the Pharisees that were "making void the word of God".

582

Đi xa hơn nữa, Chúa Giêsu còn kiện toàn Lề luật về sự thanh sạch của các thức ăn, một điều hết sức quan trọng trong cuộc sống hằng ngày của người Do Thái, khi Người cho thấy ý nghĩa “quản giáo” của luật ấy bằng lời giải thích thần linh: “Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm cho con người ra ô uế... Như vậy, là Người tuyên bố mọi thức ăn đều thanh sạch... Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu” (Mc 7,18-21). Khi lấy thẩm quyền thần linh mà đưa ra lời giải thích tối hậu về Lề luật, Chúa Giêsu ở trong tình thế đối nghịch với một số kinh sư không chấp nhận lời giải thích của Người, mặc dù lời giải thích này được củng cố bằng những dấu lạ thần linh kèm theo. Điều này đặc biệt đúng, trong vấn đề ngày sabát. Chúa Giêsu thường dựa trên chính lập luận của các kinh sư, để nhắc nhở rằng luật nghỉ ngơi ngày sabát không bị vi phạm khi phục vụ Thiên Chúa hay phục vụ người lân cận, như trường hợp các lần Người chữa lành.

Going even further, Jesus perfects the dietary law, so important in Jewish daily life, by revealing its pedagogical meaning through a divine interpretation: "Whatever goes into a man from outside cannot defile him. . . (Thus he declared all foods clean.). . . What comes out of a man is what defiles a man. For from within, out of the heart of man, come evil thoughts. . ." In presenting with divine authority the definitive interpretation of the Law, Jesus found himself confronted by certain teachers of the Law who did not accept his interpretation of the Law, guaranteed though it was by the divine signs that accompanied it. This was the case especially with the sabbath laws, for he recalls, often with rabbinical arguments, that the sabbath rest is not violated by serving God and neighbour, which his own healings did.

583

Chúa Giêsu, cũng như các Tiên tri trước Người, tỏ lòng tôn kính rất sâu xa đối với Đền thờ Giêrusalem. Ở đó, Người đã được thánh Giuse và Đức Maria tiến dâng, bốn mươi ngày sau khi Người ra đời. Lúc mười hai tuổi, Người quyết định ở lại trong Đền thờ để nhắc cha mẹ Người nhớ rằng Người phải lo việc của Cha Người. Trong quãng đời ẩn dật của Người, Người đều lên Đền thờ mỗi năm ít nhất để mừng lễ Vượt Qua; thừa tác vụ công khai của Người được đánh dấu như theo nhịp điệu những lần Người hành hương lên Giêsusalem vào những dịp lễ lớn của người Do Thái.

Like the prophets before him Jesus expressed the deepest respect for the Temple in Jerusalem. It was in the Temple that Joseph and Mary presented him forty days after his birth. At the age of twelve he decided to remain in the Temple to remind his parents that he must be about his Father's business. He went there each year during his hidden life at least for Passover. His public ministry itself was patterned by his pilgrimages to Jerusalem for the great Jewish feasts.

584

Chúa Giêsu lên Đền thờ với tính cách là đến một nơi để gặp gỡ Thiên Chúa. Đối với Người, Đền thờ là nhà của Cha Người, nhà cầu nguyện, và Người phẫn nộ bởi vì tiền đường Đền thờ đã trở thành nơi buôn bán. Sở dĩ Người xua đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi Đền thờ, đó là vì lòng yêu mến nhiệt thành đối với Cha Người: “Đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán. Các môn đệ của Người nhớ lại lời đã chép trong Thánh Kinh: ‘Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà con phải thiệt thân’ (Tv 69,10)” (Ga 2,16-17). Sau khi Người phục sinh, các Tông Đồ vẫn giữ một lòng tôn kính đạo hạnh đối với Đền thờ.

Jesus went up to the Temple as the privileged place of encounter with God. For him, the Temple was the dwelling of his Father, a house of prayer, and he was angered that its outer court had become a place of commerce. He drove merchants out of it because of jealous love for his Father: "You shall not make my Father's house a house of trade. His disciples remembered that it was written, 'Zeal for your house will consume me.'" After his Resurrection his apostles retained their reverence for the Temple.

585

Tuy nhiên, ngay trước cuộc khổ nạn của Người, Chúa Giêsu đã tiên báo sự sụp đổ của công trình kiến trúc nguy nga ấy, tại đó sẽ không còn tảng đá nào nằm trên tảng đá nào. Người loan báo sự việc ấy như là một dấu chỉ của thời đại sau cùng, thời đại được khai mở bằng cuộc Vượt Qua của Người. Nhưng lời tiên báo đó đã bị những kẻ làm chứng gian bóp méo khi được thuật lại trong cuộc thẩm vấn Người trước mặt vị thượng tế. Người ta còn dùng lời ấy để nhục mạ Người khi Người bị đóng đinh trên thập giá.

On the threshold of his Passion Jesus announced the coming destruction of this splendid building, of which there would not remain "one stone upon another". By doing so, he announced a sign of the last days, which were to begin with his own Passover. But this prophecy would be distorted in its telling by false witnesses during his interrogation at the high priest's house, and would be thrown back at him as an insult when he was nailed to the cross.

586

Chúa Giêsu không hề có thái độ thù nghịch Đền thờ, chính tại đó Người đã giảng dạy một phần giáo huấn quan trọng của Người, Người đã muốn nộp thuế Đền thờ cho mình và cho ông Phêrô mà Người vừa mới đặt làm nền tảng cho Hội Thánh tương lai của Người. Hơn nữa, Người tự đồng hóa mình với Đền thờ khi tự giới thiệu mình là nơi ở vĩnh viễn của Thiên Chúa giữa loài người. Chính vì vậy mà việc thân thể Người bị sát hại loan báo việc Đền thờ bị phá hủy, điều đó cho thấy lịch sử cứu độ đã bước vào một thời đại mới: “Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem” (Ga 4,21).

Far from having been hostile to the Temple, where he gave the essential part of his teaching, Jesus was willing to pay the Temple-tax, associating with him Peter, whom he had just made the foundation of his future Church. He even identified himself with the Temple by presenting himself as God's definitive dwelling-place among men. Therefore his being put to bodily death presaged the destruction of the Temple, which would manifest the dawning of a new age in the history of salvation: "The hour is coming when neither on this mountain nor in Jerusalem will you worship the Father."

587

Nếu Lề luật và Đền thờ Giêrusalem đã có thể là cớ để giới cầm quyền tôn giáo Ítraen “chống báng” Chúa Giêsu, thì nhiệm vụ của Người trong công trình Cứu Chuộc các tội nhân, một công trình tuyệt hảo của Thiên Chúa, mới thật sự là viên đá gây vấp phạm đối với họ.

If the Law and the Jerusalem Temple could be occasions of opposition to Jesus by Israel's religious authorities, his role in the redemption of sins, the divine work par excellence, was the true stumbling-block for them.

588

Chúa Giêsu đã là cớ vấp phạm (scandalum) cho những người Pharisêu, khi Người dùng bữa với những người thu thuế và tội lỗi một cách rất thân mật, giống như với chính họ. Chống lại những người “tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác” (Lc 18,9), Chúa Giêsu xác quyết: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5,32). Người còn đi xa hơn nữa, khi tuyên bố trước mặt nhóm Pharisêu rằng, mọi người đều có tội, cho nên ai tự cho mình là không cần được cứu độ, là người đui mù về chính bản thân mình.

Jesus scandalized the Pharisees by eating with tax collectors and sinners as familiarly as with themselves. Against those among them "who trusted in themselves that they were righteous and despised others", Jesus affirmed: "I have not come to call the righteous, but sinners to repentance." He went further by proclaiming before the Pharisees that, since sin is universal, those who pretend not to need salvation are blind to themselves.

589

Chúa Giêsu đã là cớ vấp phạm đặc biệt bởi vì Người đã đồng hóa cách xử sự nhân từ của Người đối với các tội nhân, với cách xử sự của chính Thiên Chúa đối với họ. Người còn đi đến chỗ muốn cho người ta hiểu rằng, qua việc Người đồng bàn với các tội nhân, Người đón nhận những người đó vào bàn tiệc của Đấng Mêsia. Nhưng đặc biệt khi Người tha tội, Chúa Giêsu đã đặt các nhà cầm quyền tôn giáo của Ítraen trước một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Họ đã chẳng sửng sốt nói rất đúng sao: “Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?” (Mc 2,7)? Chúa Giêsu, khi Người tha tội, thì hoặc là Người nói phạm thượng, bởi vì là người mà dám coi mình ngang hàng với Thiên Chúa, hoặc là Người nói đúng, thì như vậy, Con Người của Người làm hiện diện và mặc khải thánh Danh của Thiên Chúa.

Jesus gave scandal above all when he identified his merciful conduct toward sinners with God's own attitude toward them. He went so far as to hint that by sharing the table of sinners he was admitting them to the messianic banquet. But it was most especially by forgiving sins that Jesus placed the religious authorities of Israel on the horns of a dilemma. Were they not entitled to demand in consternation, "Who can forgive sins but God alone?" By forgiving sins Jesus either is blaspheming as a man who made himself God's equal, or is speaking the truth and his person really does make present and reveal God's name.

590

Chỉ có căn tính thần linh của Con Người Giêsu mới có thể biện minh cho một đòi hỏi tuyệt đối thế này: “Ai không đi với tôi, là chống lại tôi” (Mt 12,30); cũng vậy, khi Người nói về mình: “Đây thì còn hơn ông Giôna nữa..., còn hơn vua Salômôn nữa” (Mt 12,41-42), hoặc lớn hơn cả Đền thờ; Người cũng nói về mình, khi nhắc lại lời vua Đavít đã gọi Đấng Mêsia là Chúa của ông; khi Người xác quyết: “Trước khi có ông Ápraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,58); thậm chí Người còn nói: “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10,30).

Only the divine identity of Jesus' person can justify so absolute a claim as "He who is not with me is against me"; and his saying that there was in him "something greater than Jonah,. . . greater than Solomon", something "greater than the Temple"; his reminder that David had called the Messiah his Lord, and his affirmations, "Before Abraham was, I AM", and even "I and the Father are one."

591

Chúa Giêsu yêu cầu các nhà cầm quyền tôn giáo ở Giêrusalem hãy tin vào Người vì những công việc của Cha Người mà Người đã thực hiện. Nhưng hành vi đức tin như vậy đòi phải chết đối với bản thân, để được “sinh ra một lần nữa bởi ơn trên” với sự lôi kéo của ân sủng của Thiên Chúa. Một đòi hỏi hối cải triệt để như vậy khi đứng trước sự thực hiện các lời hứa cách lạ lùng giúp chúng ta hiểu được sự sai lầm bi thảm của Thượng Hội Đồng khi phán quyết Chúa Giêsu đáng phải chết vì là kẻ nói phạm thượng. Như vậy, các thành viên của Thượng Hội Đồng đã hành động vừa do “không biết việc họ làm”, vừa vì sự chai đá cứng lòng không chịu tin.

Jesus asked the religious authorities of Jerusalem to believe in him because of the Father's works which he accomplished. But such an act of faith must go through a mysterious death to self, for a new "birth from above" under the influence of divine grace. Such a demand for conversion in the face of so surprising a fulfilment of the promises allows one to understand the Sanhedrin's tragic misunderstanding of Jesus: they judged that he deserved the death sentence as a blasphemer. The members of the Sanhedrin were thus acting at the same time out of "ignorance" and the "hardness" of their "unbelief".

592

Chúa Giêsu không bãi bỏ nhưng làm cho nên trọn cách hết sức hoàn hảo Lề luật Xinai: Người đã mặc khải ý nghĩa tối hậu của Lề luật và chuộc lại các vi phạm Lề luật.

Jesus did not abolish the Law of Sinai, but rather fulfilled it (cf Mt 5:17-19) with such perfection (cf Jn 8:46) that he revealed its ultimate meaning (cf Mt 5:33) and redeemed the transgressions against it (cf Heb 9:15).

593

Chúa Giêsu tôn trọng Đền thờ: Người lên Đền thờ vào những dịp lễ hành hương của người Do Thái và Người yêu mến với một tình yêu tha thiết nơi Thiên Chúa ở giữa loài người. Đền thờ báo trước mầu nhiệm của Người. Người loan báo sự sụp đổ của Đền thờ, như một biểu hiện việc chính Người sẽ bị giết và việc lịch sử cứu độ bước vào một thời đại mới trong đó Thân Thể Người sẽ là Đền thờ vĩnh viễn.

Jesus venerated the Temple by going up to it for the Jewish feasts of pilgrimage, and with a jealous love he loved this dwelling of God among men. the Temple prefigures his own mystery. When he announces its destruction, it is as a manifestation of his own execution and of the entry into a new age in the history of salvation, when his Body would be the definitive Temple.

594

Chúa Giêsu làm những hành vi, như việc tha tội, biểu lộ rằng Người là chính Thiên Chúa Cứu Độ. Một số người Do Thái, không nhận biết Chúa Giêsu là Thiên Chúa làm người, chỉ thấy Người là một phàm nhân mà lại tự cho mình là Thiên Chúa, nên đã kết án Người là kẻ nói phạm thượng.

Jesus performed acts, such as pardoning sins, that manifested him to be the Saviour God himself (cf Jn 5:16-18). Certain Jews, who did not recognize God made man (cf Jn 1:14), saw in him only a man who made himself God (Jn 10:33), and judged him as a blasphemer.