Hỏi Đáp Công Giáo
Tuyên Xưng Đức Tin · Tuyên xưng đức tin Kitô Giáo · Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần
MỤC 8

“Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần”

Số 683–747
683

“Không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3). “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: ‘Ápba, Cha ơi!’” (Gl 4,6). Sự nhận biết đó của đức tin chỉ có thể có được trong Chúa Thánh Thần. Để được hiệp thông với Đức Kitô, trước hết cần phải được Chúa Thánh Thần đánh động. Ngài đến với chúng ta trước và khơi dậy đức tin trong chúng ta. Nhờ phép Rửa Tội của chúng ta, là bí tích đầu tiên của đức tin, mà sự sống, vốn bắt nguồn nơi Chúa Cha và được ban cho chúng ta trong Chúa Con, được truyền thông một cách thân mật và cá vị bởi Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh: Bí tích Rửa Tội “ban cho chúng ta ơn tái sinh trong Chúa Cha, nhờ Con của Ngài, trong Chúa Thánh Thần. Bởi vì những ai mang Thần Khí Thiên Chúa, thì được dẫn đến với Ngôi Lời, nghĩa là đến với Chúa Con; nhưng Chúa Con trình diện họ với Chúa Cha và Chúa Cha ban cho họ sự bất diệt. Vì vậy, không có Thần Khí thì không thể thấy Con Thiên Chúa, và không có Chúa Con thì không ai có thể đến gần Chúa Cha, bởi vì Chúa Con là sự nhận biết Chúa Cha, và sự nhận biết Con Thiên Chúa là nhờ Chúa Thánh Thần.”

"No one can say 'Jesus is Lord' except by the Holy Spirit." "God has sent the Spirit of his Son into our hearts, crying, 'Abba! Father!"' This knowledge of faith is possible only in the Holy Spirit: to be in touch with Christ, we must first have been touched by the Holy Spirit. He comes to meet us and kindles faith in us. By virtue of our Baptism, the first sacrament of the faith, the Holy Spirit in the Church communicates to us, intimately and personally, the life that originates in the Father and is offered to us in the Son.

684

Chúa Thánh Thần, bằng ân sủng của mình, là Đấng đầu tiên trong việc khơi dậy đức tin của chúng ta và trong sự sống mới, sự sống đó là nhận biết Chúa Cha và Đấng Chúa Cha đã sai đến là Chúa Giêsu Kitô. Tuy nhiên, Chúa Thánh Thần lại là Đấng cuối cùng trong cuộc mặc khải các Ngôi Vị trong Ba Ngôi Chí Thánh. Thánh Grêgôriô thành Nazien, “Nhà thần học”, giải thích tiến trình này qua đường lối sư phạm là “sự hạ cố” của Thiên Chúa: “Cựu Ước đã giảng dạy một cách tỏ tường về Chúa Cha, nhưng một cách hơi lờ mờ về Chúa Con. Rồi Tân Ước cho chúng ta thấy cách rõ ràng về Chúa Con, và trình bày một cách lờ mờ nào đó về thần tính của Chúa Thánh Thần. Còn bây giờ, chính Thần Khí ngự giữa chúng ta và công bố cho chúng ta một cách tỏ tường hơn về Ngài. Quả vậy, sẽ là không khôn ngoan, nếu thần tính của Chúa Cha chưa được tuyên xưng, mà đã giảng dạy cách tỏ tường về Chúa Con; và nếu thần tính của Chúa Con chưa được đón nhận, thì việc giảng dạy về Chúa Thánh Thần, nói một cách quá đáng, là như chất thêm một gánh khá nặng cho chúng ta:... Nhờ những tiếp cận âm thầm thích hợp hơn và... những tiến dần lên, rồi những phát triển và tăng tiến ‘từ sự sáng sủa này đến sự sáng sủa khác’, ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi chiếu tỏa những tia sáng rạng ngời.”

Through his grace, the Holy Spirit is the first to awaken faith in us and to communicate to us the new life, which is to "know the Father and the one whom he has sent, Jesus Christ." But the Spirit is the last of the persons of the Holy Trinity to be revealed. St. Gregory of Nazianzus, the Theologian, explains this progression in terms of the pedagogy of divine "condescension":

685

Vì vậy, tin vào Chúa Thánh Thần là tuyên xưng rằng Ngài là Một trong Ba Ngôi Chí Thánh, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con, “được phụng thờ và tôn vinh cùng với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.” Do đó, vấn đề về mầu nhiệm thần linh của Chúa Thánh Thần đã được trình bày trong “thần học về Ba Ngôi.” Vì vậy ở đây, chúng ta chỉ bàn về Chúa Thánh Thần trong “Nhiệm cục” thần linh.

To believe in the Holy Spirit is to profess that the Holy Spirit is one of the persons of the Holy Trinity, consubstantial with the Father and the Son: "with the Father and the Son he is worshipped and glorified." For this reason, the divine mystery of the Holy Spirit was already treated in the context of Trinitarian "theology." Here, however, we have to do with the Holy Spirit only in the divine "economy."

686

Chúa Thánh Thần cùng hoạt động với Chúa Cha và Chúa Con từ lúc khởi đầu cho đến khi hoàn tất kế hoạch cứu độ chúng ta. Nhưng chỉ trong “thời sau hết”, bắt đầu từ cuộc Nhập Thể cứu chuộc của Chúa Con, Chúa Thánh Thần mới được mặc khải và truyền thông, được nhận biết và đón nhận với tư cách là một Ngôi Vị. Lúc đó kế hoạch của Thiên Chúa, được hoàn thành trong Đức Kitô, Đấng là “Trưởng tử” và là Đầu của công trình tạo dựng mới, đã có thể được thành hình cụ thể trong nhân loại nhờ việc tuôn đổ Thần Khí: Hội Thánh, các Thánh thông công, phép tha tội, xác phàm sẽ sống lại, và sự sống đời đời.

The Holy Spirit is at work with the Father and the Son from the beginning to the completion of the plan for our salvation. But in these "end times," ushered in by the Son's redeeming Incarnation, the Spirit is revealed and given, recognized and welcomed as a person. Now can this divine plan, accomplished in Christ, the firstborn and head of the new creation, be embodied in mankind by the outpouring of the Spirit: as the Church, the communion of saints, the forgiveness of sins, the resurrection of the body, and the life everlasting.

687

“Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa” (1 Cr 2,11). Tuy nhiên, Thần Khí, Đấng mặc khải Thiên Chúa, làm cho chúng ta nhận biết Đức Kitô, Ngôi Lời hằng sống của Thiên Chúa, lại không nói về chính mình Ngài. “Ngài đã dùng các Tiên tri mà phán dạy” để giúp chúng ta nghe được Lời của Chúa Cha. Nhưng chúng ta không nghe tiếng Chúa Thánh Thần. Chúng ta chỉ nhận biết Ngài trong tiến trình Ngài mặc khải Ngôi Lời cho chúng ta và chuẩn bị cho chúng ta đón nhận Ngôi Lời trong đức tin. Thần chân lý, Đấng “vén màn” Đức Kitô cho chúng ta, không nói về chính mình Ngài. Sự ẩn mình mang tính chất thần linh cách riêng biệt như vậy giải thích tại sao Ngài là “Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Ngài” còn những ai tin vào Đức Kitô, thì nhận biết Ngài, bởi vì Ngài luôn ở với họ (Ga 14,17).

"No one comprehends the thoughts of God except the Spirit of God." Now God's Spirit, who reveals God, makes known to us Christ, his Word, his living Utterance, but the Spirit does not speak of himself. the Spirit who "has spoken through the prophets" makes us hear the Father's Word, but we do not hear the Spirit himself. We know him only in the movement by which he reveals the Word to us and disposes us to welcome him in faith. the Spirit of truth who "unveils" Christ to us "will not speak on his own." Such properly divine self-effacement explains why "the world cannot receive (him), because it neither sees him nor knows him," while those who believe in Christ know the Spirit because he dwells with them.

688

Hội Thánh, sự hiệp thông sống động trong đức tin của các Tông Đồ do chính Hội Thánh lưu truyền, là môi trường để chúng ta nhận biết Chúa Thánh Thần: — trong Thánh Kinh do Ngài linh hứng; — trong Thánh Truyền, mà các Giáo phụ là những chứng nhân luôn hiện đại; — trong Huấn quyền của Hội Thánh, được Ngài trợ lực; — trong phụng vụ bí tích, qua các lời nói và các biểu tượng của bí tích, trong đó Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta được hiệp thông với Đức Kitô; — trong kinh nguyện, chính Ngài chuyển cầu cho chúng ta; — trong các đặc sủng và các thừa tác vụ, nhờ đó Hội Thánh được xây dựng; — trong các dấu chỉ của đời sống tông đồ và thừa sai; — trong chứng từ của các Thánh, qua đó Ngài biểu lộ sự thánh thiện của Ngài và tiếp tục công trình cứu độ.

The Church, a communion living in the faith of the apostles which she transmits, is the place where we know the Holy Spirit: - in the Scriptures he inspired; - in the Tradition, to which the Church Fathers are always timely witnesses; - in the Church's Magisterium, which he assists; - in the sacramental liturgy, through its words and symbols, in which the Holy Spirit puts us into communion with Christ; - in prayer, wherein he intercedes for us; - in the charisms and ministries by which the Church is built up; - in the signs of apostolic and missionary life; - in the witness of saints through whom he manifests his holiness and continues the work of salvation.

689

Đấng mà Chúa Cha đã sai đến trong tâm hồn chúng ta, Thần Khí của Con Ngài, Đấng ấy thật sự là Thiên Chúa. Là Đấng đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con, Ngài không thể bị tách biệt khỏi Chúa Cha và Chúa Con, trong đời sống thâm sâu của Ba Ngôi cũng như trong hồng ân tình yêu của Ba Ngôi dành cho trần gian. Nhưng đức tin của Hội Thánh, khi tôn thờ Ba Ngôi Chí Thánh ban sự sống, đồng bản thể và không thể phân chia, cũng tuyên xưng sự phân biệt giữa các Ngôi Vị. Khi Chúa Cha sai Lời của Ngài đến, Ngài luôn sai Thần Khí của Ngài nữa: một sứ vụ phối hợp trong đó Chúa Con và Chúa Thánh Thần được phân biệt, nhưng không thể tách biệt. Đức Kitô là Đấng xuất hiện vì Người là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình, nhưng chính Chúa Thánh Thần là Đấng mặc khải Đức Kitô.

The One whom the Father has sent into our hearts, the Spirit of his Son, is truly God. Consubstantial with the Father and the Son, the Spirit is inseparable from them, in both the inner life of the Trinity and his gift of love for the world. In adoring the Holy Trinity, life-giving, consubstantial, and indivisible, the Church's faith also professes the distinction of persons. When the Father sends his Word, he always sends his Breath. In their joint mission, the Son and the Holy Spirit are distinct but inseparable. To be sure, it is Christ who is seen, the visible image of the invisible God, but it is the Spirit who reveals him.

690

Chúa Giêsu là Đức Kitô, “Đấng được xức dầu”, bởi vì Thần Khí là sự Xức dầu của Người, và mọi sự xảy ra khởi từ cuộc Nhập Thể, đều bắt nguồn từ sự sung mãn này. Sau cùng, khi Đức Kitô được tôn vinh, đến lượt Người, Người có thể sai Thần Khí từ nơi Chúa Cha đến với những ai tin vào Người: Người truyền thông cho họ vinh quang của mình, nghĩa là truyền thông Chúa Thánh Thần, Đấng tôn vinh Người. Từ lúc đó, sứ vụ phối hợp này được mở rộng đến những người được Chúa Cha nhận làm nghĩa tử trong thân thể của Con Ngài: sứ vụ của Thần Khí nghĩa tử sẽ là kết hợp họ với Đức Kitô và làm cho họ sống trong Người. “Việc Xức dầu nói lên ý nghĩa là không có khoảng cách nào giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần; cũng như lý trí và giác quan không nhận thấy một trung gian nào giữa da thịt và dầu xức, thì sự kết hợp giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần cũng không thể phân chia như vậy, đến độ ai muốn tiếp xúc với Đức Kitô bằng đức tin, cần phải tiếp xúc với dầu trước đã: quả vậy, không có chi thể nào, mà không có Chúa Thánh Thần. Vì vậy, việc tuyên xưng quyền làm Chúa của Chúa Con được thực hiện trong Chúa Thánh Thần do những kẻ đón nhận Chúa Con, những người này được Chúa Thánh Thần từ muôn phương đến gặp khi họ đến với Chúa Con bằng đức tin.”

Jesus is Christ, "anointed," because the Spirit is his anointing, and everything that occurs from the Incarnation on derives from this fullness. When Christ is finally glorified, he can in turn send the Spirit from his place with the Father to those who believe in him: he communicates to them his glory, that is, the Holy Spirit who glorifies him. From that time on, this joint mission will be manifested in the children adopted by the Father in the Body of his Son: the mission of the Spirit of adoption is to unite them to Christ and make them live in him:

691

“Chúa Thánh Thần” là danh xưng riêng của Đấng chúng ta phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Hội Thánh đã lãnh nhận danh xưng này từ Chúa Giêsu và tuyên xưng danh này trong bí tích Rửa Tội của những người con mới của mình. Từ “Thần Khí” xuất phát từ chữ Ruah trong tiếng Do Thái và có nghĩa đầu tiên là hơi thở, không khí, gió. Chúa Giêsu dùng đúng hình ảnh khả giác “gió” để gợi ý cho ông Nicôđêmô hiểu sự mới mẻ siêu việt của Đấng, theo Ngôi Vị, là Hơi Thở của Thiên Chúa, là Thần Khí. Đàng khác, “Thánh” và “Thần” là những thuộc tính thần linh chung cho Ba Ngôi Vị thần linh. Nhưng Thánh Kinh, phụng vụ và ngôn ngữ thần học, khi kết hợp hai từ đó lại với nhau, muốn nói cách riêng đến Ngôi Vị khôn tả của Chúa Thánh Thần, không thể nào lẫn lộn với những cách sử dụng khác của các từ “thánh” và “thần.”

"Holy Spirit" is the proper name of the one whom we adore and glorify with the Father and the Son. the Church has received this name from the Lord and professes it in the Baptism of her new children.

692

Khi Chúa Giêsu loan báo và hứa rằng Chúa Thánh Thần sẽ ngự đến, Người gọi Chúa Thánh Thần là “Đấng Bào Chữa” (Paracletus), hoặc sát chữ là “Đấng được gọi đến bên mình”, advocatus (Ga 14,16.26; 15,26; 16,7). Paracletus cũng thường được dịch là “Đấng An ủi”, và Chúa Giêsu là Đấng An ủi thứ nhất. Chính Chúa gọi Chúa Thánh Thần là “Thần chân lý.”

When he proclaims and promises the coming of the Holy Spirit, Jesus calls him the "Paraclete," literally, "he who is called to one's side," advocatus. "Paraclete" is commonly translated by "consoler," and Jesus is the first consoler. The Lord also called the Holy Spirit "the Spirit of truth."

693

Ngoài danh xưng riêng của Ngài, rất thường được dùng trong sách Công Vụ Tông Đồ và các Thánh Thư, ta còn thấy những danh hiệu nơi thánh Phaolô như sau: Thần Khí của lời hứa (Ep 1,13; Gl 3,14), Thần Khí nghĩa tử (Rm 8,15; Gl 4,6), Thần Khí của Đức Kitô (Rm 8,9) Thần Khí của Chúa (2 Cr 3,17), Thần Khí của Thiên Chúa (Rm 8,9.14; 15,19; 1 Cr 6,11; 7,40); và nơi thánh Phêrô: Thần Khí của vinh quang (1 Pr 4,14).

Besides the proper name of "Holy Spirit," which is most frequently used in the Acts of the Apostles and in the Epistles, we also find in St. Paul the titles: the Spirit of the promise, The Spirit of adoption, The Spirit of Christ, The Spirit of the Lord, and the Spirit of God - and, in St. Peter, the Spirit of glory.

694

Nước. Trong bí tích Rửa Tội, nước là một biểu tượng nói lên tác động của Chúa Thánh Thần, vì vậy, sau lời khẩn cầu Chúa Thánh Thần, nước trở thành dấu chỉ bí tích hữu hiệu của việc tái sinh: giống như trong lần sinh ra thứ nhất chúng ta được cưu mang trong nước, thì cũng vậy, nước Rửa Tội thật sự nói lên rằng việc chúng ta được sinh vào đời sống thần linh được ban trong Chúa Thánh Thần. Nhưng, “chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí”, “và tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12,13): Vì vậy, đích thân Thần Khí cũng là Nước hằng sống, chảy ra từ Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá như từ nguồn mạch của mình, và vọt ra thành sự sống vĩnh cửu trong chúng ta.

Water. the symbolism of water signifies the Holy Spirit's action in Baptism, since after the invocation of the Holy Spirit it becomes the efficacious sacramental sign of new birth: just as the gestation of our first birth took place in water, so the water of Baptism truly signifies that our birth into the divine life is given to us in the Holy Spirit. As "by one Spirit we were all baptized," so we are also "made to drink of one Spirit." Thus the Spirit is also personally the living water welling up from Christ crucified as its source and welling up in us to eternal life.

695

Sự xức dầu. Sự xức dầu cũng là một biểu tượng nói về Chúa Thánh Thần, đến độ từ này trở thành đồng nghĩa với Chúa Thánh Thần. Trong nghi thức khai tâm Kitô Giáo, việc xức dầu là dấu chỉ bí tích của phép Thêm Sức, mà các Giáo Hội Đông phương gọi cách chính xác là “Sự Xức dầu thánh” (“Christmatio”). Nhưng để hiểu thật rõ, phải trở lại với cuộc xức dầu đầu tiên bởi Chúa Thánh Thần: cuộc xức dầu cho Chúa Giêsu. “Kitô” (tiếng Do Thái là Mêsia) có nghĩa là “người được xức dầu” bằng Thần Khí Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, có một số nhân vật là “những người được xức dầu” của Chúa, nổi bật là vua Đavít. Nhưng Chúa Giêsu là Đấng Được Xức Dầu của Thiên Chúa một cách độc nhất vô nhị: nhân tính mà Chúa Con đảm nhận, “được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần” một cách trọn vẹn. Chúa Giêsu được Chúa Thánh Thần thiết đặt làm “Đức Kitô.” Đức Trinh Nữ Maria thụ thai Đức Kitô bởi Chúa Thánh Thần, Đấng đã dùng Thiên thần loan báo rằng Người là Đức Kitô khi Người giáng sinh, và là Đấng thúc đẩy ông Simêon đến đền thờ để ông được thấy Đức Kitô của Chúa; Đức Kitô được đầy Thánh Thần, và sức mạnh của Chúa Thánh Thần xuất phát từ Đức Kitô trong những hành vi chữa lành và cứu độ của Người. Cuối cùng chính Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết. Lúc đó Chúa Giêsu, được thiết đặt làm Đức Kitô một cách trọn vẹn trong nhân tính đã chiến thắng sự chết của Người, tuôn đổ Chúa Thánh Thần cách tràn đầy cho đến khi “các Thánh”, trong sự kết hợp với nhân tính của Con Thiên Chúa, làm nên “con người trưởng thành tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,13), làm nên “Đức Kitô toàn thể” (“totum Christum”) theo cách nói của thánh Augustinô.

Anointing. the symbolism of anointing with oil also signifies the Holy Spirit, to the point of becoming a synonym for the Holy Spirit. In Christian initiation, anointing is the sacramental sign of Confirmation, called "chrismation" in the Churches of the East. Its full force can be grasped only in relation to the primary anointing accomplished by the Holy Spirit, that of Jesus. Christ (in Hebrew "messiah") means the one "anointed" by God's Spirit. There were several anointed ones of the Lord in the Old Covenant, pre-eminently King David. But Jesus is God's Anointed in a unique way: the humanity the Son assumed was entirely anointed by the Holy Spirit. the Holy Spirit established him as "Christ." The Virgin Mary conceived Christ by the Holy Spirit who, through the angel, proclaimed him the Christ at his birth, and prompted Simeon to come to the temple to see the Christ of the Lord. The Spirit filled Christ and the power of the Spirit went out from him in his acts of healing and of saving. Finally, it was the Spirit who raised Jesus from the dead. Now, fully established as "Christ" in his humanity victorious over death, Jesus pours out the Holy Spirit abundantly until "the saints" constitute - in their union with the humanity of the Son of God - that perfect man "to the measure of the stature of the fullness of Christ": "the whole Christ," in St. Augustine's expression.

696

Lửa. Trong khi nước là biểu tượng của việc sinh sản và sinh sôi nảy nở của sự sống được ban trong Chúa Thánh Thần, thì lửa là biểu tượng của sức mạnh có sức biến đổi của các hoạt động của Chúa Thánh Thần. Tiên tri Êlia, người “xuất hiện... chẳng khác nào ngọn lửa, lời của ông tựa đuốc cháy bừng bừng” (Hc 48,1), bằng lời cầu nguyện, ông kéo lửa từ trời xuống thiêu cháy hy lễ trên núi Cácmen, lửa này như hình ảnh của ngọn lửa là Chúa Thánh Thần, làm biến đổi những gì lửa đó chạm tới. Ông Gioan Tẩy Giả, người đi trước Chúa “đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Êlia” (Lc 1,17), đã loan báo Đức Kitô là Đấng “sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3,16), trong Đấng là Thần Khí mà Chúa Giêsu sẽ nói về Ngài: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên” (Lc 12,49). Dưới hình ảnh những cái lưỡi “như bằng lửa”, Chúa Thánh Thần ngự trên các môn đệ vào sáng ngày lễ Ngũ Tuần và xuống đầy lòng các ông. Truyền thống linh đạo sẽ giữ lại biểu tượng ngọn lửa như biểu tượng diễn cảm nhất của hành động của Chúa Thánh Thần: “Anh em đừng dập tắt Thần Khí” (1 Tx 5,19).

Fire. While water signifies birth and the fruitfulness of life given in the Holy Spirit, fire symbolizes the transforming energy of the Holy Spirit's actions. the prayer of the prophet Elijah, who "arose like fire" and whose "word burned like a torch," brought down fire from heaven on the sacrifice on Mount Carmel. This event was a "figure" of the fire of the Holy Spirit, who transforms what he touches. John the Baptist, who goes "before [the Lord] in the spirit and power of Elijah," proclaims Christ as the one who "will baptize you with the Holy Spirit and with fire." Jesus will say of the Spirit: "I came to cast fire upon the earth; and would that it were already kindled!" In the form of tongues "as of fire," the Holy Spirit rests on the disciples on the morning of Pentecost and fills them with himself The spiritual tradition has retained this symbolism of fire as one of the most expressive images of the Holy Spirit's actions. "Do not quench the Spirit."

697

Áng mây và ánh sáng. Hai biểu tượng này là không thể tách biệt trong các cuộc tỏ hiện của Chúa Thánh Thần. Trong các cuộc thần hiện thời Cựu Ước, áng mây khi mờ tối, khi chói sáng, vừa mặc khải Thiên Chúa hằng sống và cứu độ, vừa che khuất sự siêu việt của vinh quang Ngài; với ông Môsê trên núi Xinai, trong Lều Hội Ngộ và suốt cuộc hành trình trong hoang địa; với vua Salômôn dịp cung hiến Đền Thờ. Rồi những hình ảnh này được Đức Kitô hoàn thành trong Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần ngự đến trên Đức Trinh Nữ Maria và “phủ bóng” trên Bà, để Bà thụ thai và hạ sinh Chúa Giêsu. Trên núi Hiển Dung, chính Chúa Thánh Thần đến trong đám mây bao phủ Chúa Giêsu, ông Môsê và ông Êlia, cùng với các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan, và “từ đám mây có tiếng phán rằng: ‘Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người’” (Lc 9,35). Cuối cùng, cũng chính đám mây này “quyện lấy Chúa Giêsu khuất mắt” các môn đệ trong ngày Thăng Thiên và sẽ mặc khải Con Người trong vinh quang của Người vào ngày Người ngự đến.

Cloud and light. These two images occur together in the manifestations of the Holy Spirit. In the theophanies of the Old Testament, the cloud, now obscure, now luminous, reveals the living and saving God, while veiling the transcendence of his glory - with Moses on Mount Sinai, at the tent of meeting, and during the wandering in the desert, and with Solomon at the dedication of the Temple. In the Holy Spirit, Christ fulfills these figures. the Spirit comes upon the Virgin Mary and "overshadows" her, so that she might conceive and give birth to Jesus. On the mountain of Transfiguration, the Spirit in the "cloud came and overshadowed" Jesus, Moses and Elijah, Peter, James and John, and "a voice came out of the cloud, saying, 'This is my Son, my Chosen; listen to him!'" Finally, the cloud took Jesus out of the sight of the disciples on the day of his ascension and will reveal him as Son of man in glory on the day of his final coming.

698

Dấu ấn là một biểu tượng rất gần với biểu tượng xức dầu. Thật vậy, Đức Kitô là Đấng “Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6,27), và trong Người, Chúa Cha cũng ghi dấu xác nhận chúng ta. Hình ảnh “dấu ấn”, bởi vì nói lên hiệu quả không thể xóa nhòa của việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần trong các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức, Truyền Chức Thánh, nên đã được dùng trong một số truyền thống thần học để diễn tả “ấn tín” không thể xóa được, được ghi dấu bởi ba bí tích không thể được tái ban đó.

The seal is a symbol close to that of anointing. "The Father has set his seal" on Christ and also seals us in him. Because this seal indicates the indelible effect of the anointing with the Holy Spirit in the sacraments of Baptism, Confirmation, and Holy Orders, the image of the seal (sphragis) has been used in some theological traditions to express the indelible "character" imprinted by these three unrepeatable sacraments.

699

Bàn tay. Chúa Giêsu đặt tay để chữa lành cho các bệnh nhân và chúc lành cho các trẻ em. Các Tông Đồ cũng làm như vậy nhân danh Người. Hơn nữa, chính qua việc đặt tay của các Tông Đồ mà Chúa Thánh Thần được ban. Thư gửi tín hữu Do Thái kể việc đặt tay vào số “các mục căn bản” của giáo huấn của mình. Hội Thánh đã giữ lại dấu chỉ này của việc tuôn đổ tràn đầy Thánh Thần trong các kinh Khẩn cầu Chúa Thánh Thần [Epiclesis] trong các bí tích.

The hand. Jesus heals the sick and blesses little children by laying hands on them. In his name the apostles will do the same. Even more pointedly, it is by the Apostles' imposition of hands that the Holy Spirit is given. The Letter to the Hebrews lists the imposition of hands among the "fundamental elements" of its teaching. The Church has kept this sign of the all-powerful outpouring of the Holy Spirit in its sacramental epicleses.

700

Ngón tay. Chúa Giêsu “dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ.” Nếu Lề luật của Thiên Chúa được ghi trên các bia đá “do chính tay Thiên Chúa viết” (Xh 31,18), thì “lá thư của Đức Kitô”, được trao cho các tông đồ chăm sóc, “đã được viết... bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người” (2 Cr 3,3). Thánh thi “Veni Creator Spiritus” (“Lạy Thần Khí Sáng Tạo, xin ngự đến”) khẩn cầu Chúa Thánh Thần bằng những lời này: “Chúa là ngón tay trong bàn tay mặt của Chúa Cha.”

The finger. "It is by the finger of God that [Jesus] cast out demons." If God's law was written on tablets of stone "by the finger of God," then the "letter from Christ" entrusted to the care of the apostles, is written "with the Spirit of the living God, not on tablets of stone, but on tablets of human hearts." The hymn Veni Creator Spiritus invokes the Holy Spirit as the "finger of the Father's right hand."

701

Chim bồ câu. Vào cuối trận lụt đại hồng thủy (đây là một biểu tượng chỉ bí tích Rửa Tội), chim bồ câu được ông Nôê thả ra đã trở về, ngậm một nhánh ô liu xanh tươi, báo cho biết mặt đất lại đã có thể cư ngụ được. Khi Chúa Giêsu tiến lên từ dòng nước phép rửa của Người, Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu đáp xuống và ngự trên Người. Chúa Thánh Thần đáp xuống trái tim đã được thanh tẩy của những người lãnh bí tích Rửa Tội và nghỉ ngơi ở đó. Trong một số nhà thờ, Thánh Thể được lưu giữ trong một bình bằng kim loại có hình chim bồ câu (gọi là columbarium) treo bên trên bàn thờ. Trong truyền thống nghệ thuật ảnh tượng Kitô Giáo, chim bồ câu là biểu tượng để chỉ Chúa Thánh Thần.

The dove. At the end of the flood, whose symbolism refers to Baptism, a dove released by Noah returns with a fresh olive-tree branch in its beak as a sign that the earth was again habitable. When Christ comes up from the water of his baptism, the Holy Spirit, in the form of a dove, comes down upon him and remains with him. The Spirit comes down and remains in the purified hearts of the baptized. In certain churches, the Eucharist is reserved in a metal receptacle in the form of a dove (columbarium) suspended above the altar. Christian iconography traditionally uses a dove to suggest the Spirit.

702

Từ lúc khởi đầu cho đến khi “thời gian đến hồi viên mãn”, sứ vụ phối hợp của Ngôi Lời và của Thần Khí Chúa Cha tuy còn ẩn giấu, nhưng đã hoạt động. Thần Khí của Thiên Chúa chuẩn bị cho thời đại của Đấng Mêsia, và cả hai Đấng, lúc này chưa được mặc khải trọn vẹn, nhưng đã được hứa ban để nhân loại chờ mong và đón nhận khi các Ngài tỏ hiện. Vì vậy, khi đọc Cựu Ước, Hội Thánh tìm hiểu kỹ càng những gì Thần Khí, “Đấng đã dùng các Tiên tri mà phán dạy”, có ý muốn nói với chúng ta về Đức Kitô. Ở đây, đức tin của Hội Thánh dùng từ “các Tiên tri” chỉ chung tất cả những vị được Chúa Thánh Thần linh hứng trong việc loan báo sống động và trong việc soạn thảo các Sách Thánh, thuộc Cựu Ước cũng như Tân Ước. Truyền thống Do Thái phân biệt Lề luật (năm sách đầu tiên hoặc Ngũ Thư), các Tiên tri (các sách chúng ta gọi là lịch sử và tiên tri) và các Văn phẩm (chủ yếu là các sách khôn ngoan và các Thánh vịnh).

From the beginning until "the fullness of time," The joint mission of the Father's Word and Spirit remains hidden, but it is at work. God's Spirit prepares for the time of the Messiah. Neither is fully revealed but both are already promised, to be watched for and welcomed at their manifestation. So, for this reason, when the Church reads the Old Testament, she searches there for what the Spirit, "who has spoken through the prophets," wants to tell us about Christ.

703

Lời Thiên Chúa và Hơi Thở của Ngài là nguồn gốc của sự hiện hữu và sự sống của mọi thụ tạo: “Chúa Thánh Thần ngự trị, thánh hóa và làm cho các thụ tạo có sinh khí, bởi vì Ngài là Thiên Chúa đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con... Vì Ngài là Thiên Chúa nên Ngài đem lại sức mạnh cho mọi thụ tạo và gìn giữ chúng trong Chúa Cha và Chúa Con.”

The Word of God and his Breath are at the origin of the being and life of every creature:

704

“Còn đối với con người, Thiên Chúa dùng các bàn tay của Ngài [nghĩa là Chúa Con và Chúa Thánh Thần] để nhào nắn nó... và vẽ hình dáng riêng của Ngài trên xác phàm đã được nhào nắn, đến độ dầu nó là hữu hình, nó cũng mang dáng dấp thần linh.”

"God fashioned man with his own hands [that is, the Son and the Holy Spirit] and impressed his own form on the flesh he had fashioned, in such a way that even what was visible might bear the divine form."

705

Con người, bị biến dạng bởi tội lỗi và cái chết, vẫn còn là “theo hình ảnh Thiên Chúa”, theo hình ảnh Chúa Con, nhưng “bị tước mất vinh quang Thiên Chúa”, không còn “giống như Thiên Chúa.” Lời hứa với tổ phụ Ápraham khai mạc nhiệm cục cứu độ; vào cuối nhiệm cục này, chính Chúa Con sẽ đảm nhận “hình ảnh” và sẽ phục hồi cho nó lại “giống” với Chúa Cha, khi trả lại cho con người vinh quang, tức là Thần Khí “ban sự sống.”

Disfigured by sin and death, man remains "in the image of God," in the image of the Son, but is deprived "of the glory of God," of his "likeness." the promise made to Abraham inaugurates the economy of salvation, at the culmination of which the Son himself will assume that "image" and restore it in the Father's "likeness" by giving it again its Glory, the Spirit who is "the giver of life."

706

Trái với mọi hy vọng phàm nhân, Thiên Chúa hứa cho tổ phụ Ápraham một dòng dõi như hoa trái của đức tin và của quyền năng Chúa Thánh Thần. Nơi dòng dõi của ông, mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc. Dòng dõi đó sẽ là Đức Kitô, trong Người sự tuôn đổ Thánh Thần sẽ thực hiện việc quy tụ nên một các con cái Thiên Chúa đang tản mát. Tự ràng buộc mình bằng một lời thề, Thiên Chúa cam kết sẽ ban Con chí ái của Ngài, cũng như sẽ ban Thần Khí của Lời hứa, Đấng chuẩn bị công cuộc cứu chuộc dân mà Thiên Chúa đã thủ đắc cho mình.

Against all human hope, God promises descendants to Abraham, as the fruit of faith and of the power of the Holy Spirit. In Abraham's progeny all the nations of the earth will be blessed. This progeny will be Christ himself, in whom the outpouring of the Holy Spirit will "gather into one the children of God who are scattered abroad." God commits himself by his own solemn oath to giving his beloved Son and "the promised Holy Spirit . . . [who is] the guarantee of our inheritance until we acquire possession of it."

707

Những cuộc Thần hiện (những cuộc tỏ hiện của Thiên Chúa), từ thời các Tổ phụ cho đến ông Môsê, và từ ông Jôsuê cho đến các thị kiến mở đầu sứ vụ của các Tiên tri lớn, soi sáng con đường của Lời hứa. Truyền thống Kitô Giáo luôn nhận biết Ngôi Lời Thiên Chúa tỏ mình cho người ta thấy được và nghe được trong các cuộc Thần hiện đó, Ngài đồng thời vừa “được mặc khải” vừa “bị che khuất” trong áng mây của Chúa Thánh Thần.

Theophanies (manifestations of God) light up the way of the promise, from the patriarchs to Moses and from Joshua to the visions that inaugurated the missions of the great prophets. Christian tradition has always recognized that God's Word allowed himself to be seen and heard in these theophanies, in which the cloud of the Holy Spirit both revealed him and concealed him in its shadow.

708

Đường lối sư phạm này của Thiên Chúa tỏ lộ rõ ràng trong việc ban Lề luật. Lề luật đã được ban như một “người quản giáo” để dẫn dân tới Đức Kitô. Nhưng sự bất lực của Lề luật, không thể cứu độ con người đã mất “sự giống như” Thiên Chúa, và sự ý thức mạnh hơn về tội, do Lề luật mang lại đã khơi dậy lòng khao khát Chúa Thánh Thần. Những lời than vãn của các Thánh vịnh làm chứng điều đó.

This divine pedagogy appears especially in the gift of the Law. God gave the letter of the Law as a "pedagogue" to lead his people towards Christ. But the Law's powerlessness to save man deprived of the divine "likeness," along with the growing awareness of sin that it imparts, enkindles a desire for the Holy Spirit. the lamentations of the Psalms bear witness to this.

709

Lề luật, dấu chỉ của Lời hứa và của Giao Ước, lẽ ra phải điều khiển trái tim cũng như các thể chế của dân phát sinh từ đức tin của tổ phụ Ápraham. “Nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta... Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,5-6). Nhưng, sau thời Đavít, Ítraen đã sa chước cám dỗ muốn thiết lập một nước giống như các dân tộc khác. Tuy nhiên, nước, đối tượng của Lời hứa được ban cho Đavít sẽ là công trình của Chúa Thánh Thần; nước đó sẽ thuộc về những người nghèo theo Thần Khí.

The Law, the sign of God's promise and covenant, ought to have governed the hearts and institutions of that people to whom Abraham's faith gave birth. "If you will obey my voice and keep my covenant, . . . you shall be to me a kingdom of priests and a holy nation." But after David, Israel gave in to the temptation of becoming a kingdom like other nations. the Kingdom, however, the object of the promise made to David, would be the work of the Holy Spirit; it would belong to the poor according to the Spirit.

710

Việc quên lãng Lề luật và bất trung với Giao Ước dẫn đến cái chết: cuộc lưu đày có vẻ là sự thất bại của các Lời hứa, mà thật ra là sự trung tín bí nhiệm của Thiên Chúa, Đấng cứu độ, và là khởi đầu của cuộc phục hồi như đã hứa, nhưng theo Thần Khí. Dân Thiên Chúa cần phải trải qua cuộc thanh tẩy này; cuộc lưu đày mang bóng dáng cây thập giá trong kế hoạch của Thiên Chúa, và số sót những người nghèo trở về từ cuộc lưu đày, là một trong những hình ảnh rõ ràng nhất của Hội Thánh.

The forgetting of the Law and the infidelity to the covenant end in death: it is the Exile, apparently the failure of the promises, which is in fact the mysterious fidelity of the Savior God and the beginning of a promised restoration, but according to the Spirit. the People of God had to suffer this purification. In God's plan, the Exile already stands in the shadow of the Cross, and the Remnant of the poor that returns from the Exile is one of the most transparent prefigurations of the Church.

711

“Này Ta sắp làm một việc mới” (Is 43,19). Hai đường hướng tiên tri được phác họa, một đường dẫn đến sự mong đợi Đấng Mêsia; đường kia hướng đến việc loan báo một Thần Khí mới, hai đường hướng này đồng quy nơi “số sót” nhỏ bé, nơi dân của những người nghèo, họ đang mong đợi “niềm an ủi của Ítraen” và “sự cứu chuộc Giêrusalem” (Lc 2,25.38) trong niềm hy vọng. Ở trên, chúng ta đã thấy Chúa Giêsu hoàn thành những lời tiên tri nói về Người như thế nào. Ở đây, chúng ta giới hạn vào những lời tiên tri trong đó tương quan giữa Đấng Mêsia và Thần Khí của Người xuất hiện rõ ràng hơn.

"Behold, I am doing a new thing." Two prophetic lines were to develop, one leading to the expectation of the Messiah, the other pointing to the announcement of a new Spirit. They converge in the small Remnant, the people of the poor, who await in hope the "consolation of Israel" and "the redemption of Jerusalem."

712

Những nét phác họa dung mạo Đấng Mêsia được mong đợi, bắt đầu được biểu lộ trong sách Emmanuen (khi “ngôn sứ Isaia... đã thấy vinh quang” của Đức Kitô: Ga 12,41), đặc biệt trong đoạn văn Is 11,1-2: “Từ gốc tổ Giesê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ, Từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non. Thần Khí Chúa sẽ ngự trên vị này: Thần khí khôn ngoan và minh mẫn, Thần khí mưu lược và dũng mãnh, Thần khí hiểu biết và kính sợ Chúa.”

The characteristics of the awaited Messiah begin to appear in the "Book of Emmanuel" ("Isaiah said this when he saw his glory," speaking of Christ), especially in the first two verses of Isaiah 11:

713

Những nét phác họa về Đấng Mêsia được mặc khải chủ yếu trong các bài ca về Người Tôi trung. Những bài ca này loan báo ý nghĩa cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, và cho thấy cách Người sẽ đổ tràn Thần Khí để cho muôn người được sống: không phải từ bên ngoài, nhưng bằng cách “mặc lấy thân nô lệ” của chúng ta (Pl 2,7). Khi mang lấy cái chết của chúng ta trên mình Người, Người có thể truyền thông cho chúng ta Thần Khí riêng của Người, Thần Khí sự sống của Người.

The Messiah's characteristics are revealed above all in the "Servant songs." These songs proclaim the meaning of Jesus' Passion and show how he will pour out the Holy Spirit to give life to the many: not as an outsider, but by embracing our "form as slave." Taking our death upon himself, he can communicate to us his own Spirit of life.

714

Chính vì vậy, Đức Kitô khởi đầu công cuộc loan báo Tin Mừng của Người bằng cách áp dụng cho mình đoạn sau đây của tiên tri Isaia (Lc 4,18-19): “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, Vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, Ngài đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.”

This is why Christ inaugurates the proclamation of the Good News by making his own the following passage from Isaiah:

715

Các bản văn tiên tri trực tiếp liên quan đến việc sai Chúa Thánh Thần đến, là những lời sấm trong đó Thiên Chúa lấy ngôn ngữ Lời hứa mà nói vào trái tim của dân Ngài, bằng cung giọng yêu thương và trung tín, sáng ngày lễ Ngũ Tuần, thánh Phêrô sẽ tuyên bố việc hoàn thành những điều đó. Theo những lời hứa đó, trong “thời sau hết”, Thần Khí Thiên Chúa sẽ đổi mới trái tim người ta bằng cách ghi khắc Lề luật mới trong họ; Ngài sẽ quy tụ và giao hòa những dân tộc đã bị phân tán và chia rẽ; Ngài sẽ biến đổi công trình tạo dựng thứ nhất và Thiên Chúa sẽ ở đó với người ta trong hòa bình.

The prophetic texts that directly concern the sending of the Holy Spirit are oracles by which God speaks to the heart of his people in the language of the promise, with the accents of "love and fidelity." St. Peter will proclaim their fulfillment on the morning of Pentecost. According to these promises, at the "end time" the Lord's Spirit will renew the hearts of men, engraving a new law in them. He will gather and reconcile the scattered and divided peoples; he will transform the first creation, and God will dwell there with men in peace.

716

Đoàn dân “của những người nghèo”, những người khiêm nhu và hiền lành, hoàn toàn phó thác cho kế hoạch bí nhiệm của Thiên Chúa của mình, những người mong chờ công lý không bởi người ta nhưng bởi Đấng Mêsia, đoàn dân ấy cuối cùng là công trình cao cả mà âm thầm của Chúa Thánh Thần, trải suốt thời gian của các Lời hứa, để chuẩn bị cho cuộc Ngự đến của Đức Kitô. Phẩm chất tâm hồn của những người đó, đã được thanh tẩy và soi sáng bởi Thần Khí, được diễn tả trong các Thánh vịnh. Nơi những người nghèo này, Thần Khí chuẩn bị cho Chúa “một dân hoàn hảo.”

The People of the "poor" - those who, humble and meek, rely solely on their God's mysterious plans, who await the justice, not of men but of the Messiah - are in the end the great achievement of the Holy Spirit's hidden mission during the time of the promises that prepare for Christ's coming. It is this quality of heart, purified and enlightened by the Spirit, which is expressed in the Psalms. In these poor, the Spirit is making ready "a people prepared for the Lord."

717

“Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan” (Ga 1,6). Ông Gioan được “đầy Thánh Thần, ngay khi còn trong lòng mẹ” (Lc 1,15), do chính Đức Kitô mà Đức Trinh Nữ Maria vừa thụ thai bởi Chúa Thánh Thần. Như vậy, việc Đức Maria “viếng thăm” bà Êlisabét đã trở thành việc Thiên Chúa viếng thăm dân Ngài.

"There was a man sent from God, whose name was John." John was "filled with the Holy Spirit even from his mother's womb" by Christ himself, whom the Virgin Mary had just conceived by the Holy Spirit. Mary's visitation to Elizabeth thus became a visit from God to his people.

718

Ông Gioan chính là “tiên tri Êlia phải đến”: ngọn lửa của Thần Khí ở trong ông và làm cho ông (với tư cách là người “tiền hô”) “chạy trước” Chúa, Đấng ngự đến. Nơi ông Gioan, vị Tiền hô, Chúa Thánh Thần hoàn tất việc “chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (Lc 1,17).

John is "Elijah (who) must come." The fire of the Spirit dwells in him and makes him the forerunner of the coming Lord. In John, the precursor, the Holy Spirit completes the work of "[making] ready a people prepared for the Lord."

719

Ông Gioan “còn hơn một Tiên tri nữa.” Nơi ông, Chúa Thánh Thần hoàn thành việc “dùng các Tiên tri mà phán dạy.” Ông Gioan kết thúc hàng ngũ các Tiên tri khởi đầu từ ông Êlia. Ông loan báo niềm an ủi Ítraen đã gần kề, là “tiếng” của Đấng An Ủi, Đấng ngự đến. Chính ông, như Thần chân lý cũng sẽ làm, “đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng” (Ga 1,7). Nơi ông Gioan, Thần Khí hoàn thành “điều các tiên tri tìm hiểu” và các Thiên thần “ước mong”: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy, nên xin chứng thật rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn... Đây là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1,33-36).

John the Baptist is "more than a prophet." In him, the Holy Spirit concludes his speaking through the prophets. John completes the cycle of prophets begun by Elijah. He proclaims the imminence of the consolation of Israel; he is the "voice" of the Consoler who is coming. As the Spirit of truth will also do, John "came to bear witness to the light." In John's sight, the Spirit thus brings to completion the careful search of the prophets and fulfills the longing of the angels. "He on whom you see the Spirit descend and remain, this is he who baptizes with the Holy Spirit. and I have seen and have borne witness that this is the Son of God.... Behold, the Lamb of God."

720

Cuối cùng, với ông Gioan Tẩy Giả, Chúa Thánh Thần khởi sự và biểu hiện trước những gì Ngài sẽ thực hiện với Đức Kitô và trong Đức Kitô: đó là phục hồi cho con người sự “giống như” Thiên Chúa. Phép rửa của ông Gioan là phép rửa thống hối, còn Phép Rửa trong nước và trong Thần Khí sẽ là sự tái sinh.

Finally, with John the Baptist, the Holy Spirit begins the restoration to man of "the divine likeness," prefiguring what he would achieve with and in Christ. John's baptism was for repentance; baptism in water and the Spirit will be a new birth.

721

Đức Maria, Mẹ rất thánh của Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh, là công trình tuyệt tác của sứ vụ phối hợp giữa Chúa Con và Thần Khí lúc thời gian viên mãn. Trong kế hoạch cứu độ, bởi vì Thần Khí Thiên Chúa đã chuẩn bị Mẹ, lần đầu tiên Chúa Cha đã tìm được Chỗ Ở, nơi Con của Ngài và Thần Khí của Ngài có thể cư ngụ giữa loài người. Theo ý nghĩa này, Truyền thống Hội Thánh thường đọc những bản văn đẹp nhất viết về đức Khôn Ngoan trong tương quan với Đức Maria: trong phụng vụ, Đức Maria được ca ngợi và được trình bày như là “Tòa Đấng Khôn Ngoan.” Nơi Đức Maria, “những kỳ công của Thiên Chúa” mà Thần Khí sắp hoàn thành trong Đức Kitô và trong Hội Thánh, bắt đầu được biểu lộ.

Mary, the all-holy ever-virgin Mother of God, is the masterwork of the mission of the Son and the Spirit in the fullness of time. For the first time in the plan of salvation and because his Spirit had prepared her, the Father found the dwelling place where his Son and his Spirit could dwell among men. In this sense the Church's Tradition has often read the most beautiful texts on wisdom in relation to Mary. Mary is acclaimed and represented in the liturgy as the "Seat of Wisdom." In her, the "wonders of God" that the Spirit was to fulfill in Christ and the Church began to be manifested:

722

Chúa Thánh Thần đã dùng ân sủng của Ngài mà chuẩn bị Đức Maria. Mẹ của Đấng “nơi Người, tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Cl 2,9) tất phải “đầy ơn phúc.” Đức Maria đã được thụ thai, trong ân sủng thuần tuý, không hề có tội, với tư cách là người khiêm tốn nhất trong các thụ tạo, xứng đáng nhất trong mọi người để đón nhận hồng ân khôn tả của Đấng Toàn Năng. Thiên thần Gáprien chào Mẹ cách chính xác là “Con gái Xion”: “Kính mừng” (= “Mừng vui lên”). Chính Mẹ, trong bài thánh ca của mình, đã làm cho lời tạ ơn của toàn dân Thiên Chúa và của Hội Thánh lên tới Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần, khi Mẹ cưu mang nơi mình Chúa Con vĩnh cửu.

The Holy Spirit prepared Mary by his grace. It was fitting that the mother of him in whom "the whole fullness of deity dwells bodily" should herself be "full of grace." She was, by sheer grace, conceived without sin as the most humble of creatures, the most capable of welcoming the inexpressible gift of the Almighty. It was quite correct for the angel Gabriel to greet her as the "Daughter of Zion": "Rejoice." It is the thanksgiving of the whole People of God, and thus of the Church, which Mary in her canticle lifts up to the Father in the Holy Spirit while carrying within her the eternal Son.

723

Nơi Đức Maria, Chúa Thánh Thần thực hiện kế hoạch nhân ái của Chúa Cha. Bởi Chúa Thánh Thần, Đức Trinh Nữ đã thụ thai và sinh hạ Con Thiên Chúa. Sự đồng trinh mà vẫn sinh con của Mẹ là độc nhất vô nhị nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần và của đức tin.

In Mary, the Holy Spirit fulfills the plan of the Father's loving goodness. With and through the Holy Spirit, the Virgin conceives and gives birth to the Son of God. By the Holy Spirit's power and her faith, her virginity became uniquely fruitful.

724

Nơi Đức Maria, Chúa Thánh Thần làm tỏ hiện Con của Chúa Cha đã trở thành Con của Đức Trinh Nữ. Mẹ là bụi gai bừng cháy của cuộc Thần hiện tối hậu: chính Mẹ, được đầy tràn Chúa Thánh Thần, tỏ cho thấy Ngôi Lời trong xác phàm khiêm hạ của Người, và làm cho những kẻ nghèo hèn và những của đầu mùa của các dân tộc nhận biết Người.

In Mary, the Holy Spirit manifests the Son of the Father, now become the Son of the Virgin. She is the burning bush of the definitive theophany. Filled with the Holy Spirit she makes the Word visible in the humility of his flesh. It is to the poor and the first representatives of the gentiles that she makes him known.

725

Cuối cùng, qua Đức Maria, Chúa Thánh Thần bắt đầu làm cho được hiệp thông với Đức Kitô, những người là đối tượng của tình yêu nhân ái của Thiên Chúa (“những người thiện tâm” của Thiên Chúa), và những người khiêm hạ luôn luôn là những người đầu tiên đón nhận Người: các mục đồng, các đạo sĩ, ông Simêon và bà Anna, cô dâu chú rể ở Cana và các môn đệ đầu tiên.

Finally, through Mary, the Holy Spirit begins to bring men, the objects of God's merciful love, into communion with Christ. and the humble are always the first to accept him: shepherds, magi, Simeon and Anna, the bride and groom at Cana, and the first disciples.

726

Vào cuối sứ vụ này của Chúa Thánh Thần, Đức Maria trở nên “Người Đàn Bà”, bà Evà mới, “Mẹ của chúng sinh”, Mẹ của “Đức Kitô toàn thể” (“totius Christi” Mater). Chính với tư cách này, Mẹ hiện diện với nhóm Mười Hai, “đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện” (Cv 1,14), vào lúc bình minh của “thời đại cuối cùng” mà Thần Khí sắp khai mạc vào sáng ngày lễ Ngũ Tuần với việc làm tỏ hiện Hội Thánh.

At the end of this mission of the Spirit, Mary became the Woman, the new Eve ("mother of the living"), the mother of the "whole Christ." As such, she was present with the Twelve, who "with one accord devoted themselves to prayer," at the dawn of the "end time" which the Spirit was to inaugurate on the morning of Pentecost with the manifestation of the Church.

727

Toàn bộ sứ vụ của Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong thời gian viên mãn tập trung vào sự kiện Chúa Con là Đấng Được Xức Dầu bằng Thần Khí của Chúa Cha khởi từ cuộc Nhập Thể của Người: Chúa Giêsu là Đức Kitô, Đấng Mêsia. Toàn bộ chương hai của Tín biểu phải được đọc dưới ánh sáng này. Toàn bộ công trình của Đức Kitô là sứ vụ phối hợp của Chúa Con và của Chúa Thánh Thần. Ở đây, chúng ta sẽ chỉ đề cập những gì liên quan đến lời Chúa Giêsu hứa ban Thánh Thần và việc Người thực hiện lời hứa đó sau khi Người được tôn vinh.

The entire mission of the Son and the Holy Spirit, in the fullness of time, is contained in this: that the Son is the one anointed by the Father's Spirit since his Incarnation - Jesus is the Christ, the Messiah. Everything in the second chapter of the Creed is to be read in this light. Christ's whole work is in fact a joint mission of the Son and the Holy Spirit. Here, we shall mention only what has to do with Jesus' promise of the Holy Spirit and the gift of him by the glorified Lord.

728

Chúa Giêsu không mặc khải trọn vẹn Chúa Thánh Thần, cho tới khi Người được tôn vinh qua cái Chết và sự Sống lại của Người. Tuy nhiên, Người cũng dần dần gợi ý về Chúa Thánh Thần khi Người giảng dạy dân chúng, khi Người mặc khải Thịt của Người sẽ là của ăn cho thế gian được sống. Người cũng gợi ý cho ông Nicôđêmô, cho người phụ nữ Samaria và những người tham dự Lễ Lều. Người nói cách tỏ tường cho các môn đệ của Người nhân khi dạy họ cầu nguyện và khi báo trước việc họ phải là nhân chứng cho Người.

Jesus does not reveal the Holy Spirit fully, until he himself has been glorified through his Death and Resurrection. Nevertheless, little by little he alludes to him even in his teaching of the multitudes, as when he reveals that his own flesh will be food for the life of the world. He also alludes to the Spirit in speaking to Nicodemus, to the Samaritan woman, and to those who take part in the feast of Tabernacles. To his disciples he speaks openly of the Spirit in connection with prayer and with the witness they will have to bear.

729

Chỉ khi đến Giờ Chúa Giêsu phải được tôn vinh, Người mới hứa rằng Chúa Thánh Thần sẽ ngự đến, vì cái Chết và sự Sống lại của Người sẽ là sự hoàn thành Lời đã hứa với các Tổ phụ: Thần chân lý, Đấng Bào Chữa khác, sẽ được Chúa Cha ban nhờ lời cầu xin của Chúa Giêsu; chính Ngài sẽ được Chúa Cha sai đến nhân danh Chúa Giêsu; Chúa Giêsu sẽ sai Chúa Thánh Thần từ Chúa Cha mà đến, bởi vì Ngài xuất phát từ Chúa Cha. Chúa Thánh Thần sẽ đến, và chúng ta sẽ nhận biết Ngài, Ngài sẽ ở cùng chúng ta mãi mãi, Ngài sẽ cư ngụ với chúng ta; Ngài sẽ dạy dỗ chúng ta mọi sự và nhắc cho chúng ta nhớ tất cả những gì Chúa Giêsu đã nói, và Ngài sẽ làm chứng cho Đức Kitô; Ngài sẽ dẫn chúng ta đến chân lý trọn vẹn và sẽ tôn vinh Đức Kitô. Còn đối với thế gian, Ngài sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính, và về việc xét xử.

Only when the hour has arrived for his glorification does Jesus promise the coming of the Holy Spirit, since his Death and Resurrection will fulfill the promise made to the fathers. The Spirit of truth, the other Paraclete, will be given by the Father in answer to Jesus' prayer; he will be sent by the Father in Jesus' name; and Jesus will send him from the Father's side, since he comes from the Father. the Holy Spirit will come and we shall know him; he will be with us for ever; he will remain with us. the Spirit will teach us everything, remind us of all that Christ said to us and bear witness to him. the Holy Spirit will lead us into all truth and will glorify Christ. He will prove the world wrong about sin, righteousness, and judgment.

730

Cuối cùng, Giờ của Chúa Giêsu đã đến: Chúa Giêsu phó thác thần khí của Người trong tay Chúa Cha vào đúng lúc Người toàn thắng sự chết bằng cái Chết của mình, đến độ khi “sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha” (Rm 6,4), Người liền “thổi hơi” ban Chúa Thánh Thần trên các môn đệ của Người. Từ Giờ đó, sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần trở thành sứ vụ của Hội Thánh: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21).

At last Jesus' hour arrives: he commends his spirit into the Father's hands at the very moment when by his death he conquers death, so that, "raised from the dead by the glory of the Father," he might immediately give the Holy Spirit by "breathing" on his disciples. From this hour onward, the mission of Christ and the Spirit becomes the mission of the Church: "As the Father has sent me, even so I send you."

731

Ngày lễ Ngũ Tuần (vào cuối bảy tuần mừng lễ Vượt Qua), cuộc Vượt Qua của Đức Kitô được hoàn thành bằng việc tuôn đổ Chúa Thánh Thần, Đấng được biểu lộ, được ban, và được truyền thông với tư cách là một Ngôi Vị thần linh: Chúa Kitô từ nguồn sung mãn của Người tuôn đổ cách đầy tràn Thần Khí của Người.

On the day of Pentecost when the seven weeks of Easter had come to an end, Christ's Passover is fulfilled in the outpouring of the Holy Spirit, manifested, given, and communicated as a divine person: of his fullness, Christ, the Lord, pours out the Spirit in abundance.

732

Trong ngày đó, mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh được mặc khải trọn vẹn. Sau ngày đó, Nước mà Đức Kitô đã loan báo, được mở ra cho những ai tin vào Người: trong sự khiêm hạ của xác phàm và trong đức tin, họ đã được tham dự vào sự hiệp thông của Ba Ngôi Chí Thánh. Chúa Thánh Thần, nhờ việc Ngài ngự đến, mà Ngài không ngừng ngự đến, dẫn đưa trần gian vào “thời đại cuối cùng”, thời đại của Hội Thánh, vào Nước đã được sở hữu làm gia sản, nhưng chưa hoàn tất: “Chúng ta đã thấy Ánh sáng thật, chúng ta đã lãnh nhận Thánh Thần Thiên Chúa, chúng ta đã tìm được đức tin chân chính: chúng ta tôn thờ Ba Ngôi bất khả phân ly, vì chính Ba Ngôi đã cứu độ chúng ta.”

On that day, the Holy Trinity is fully revealed. Since that day, the Kingdom announced by Christ has been open to those who believe in him: in the humility of the flesh and in faith, they already share in the communion of the Holy Trinity. By his coming, which never ceases, the Holy Spirit causes the world to enter into the "last days," the time of the Church, the Kingdom already inherited though not yet consummated.

733

“Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8.16) và tình yêu là hồng ân đầu tiên, chứa đựng tất cả mọi sự khác. Tình yêu này “Thiên Chúa đã đổ vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta” (Rm 5,5).

"God is Love" and love is his first gift, containing all others. "God's love has been poured into our hearts through the Holy Spirit who has been given to us."

734

Bởi vì do tội mà chúng ta chết hoặc ít nhất là bị thương, nên hiệu quả đầu tiên của hồng ân tình yêu là ơn tha thứ các tội của chúng ta. Chính “ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần” (2 Cr 13,13) trong Hội Thánh phục hồi những người đã được Rửa Tội trở lại tình trạng “giống như” Thiên Chúa mà họ đã đánh mất vì tội lỗi.

Because we are dead or at least wounded through sin, the first effect of the gift of love is the forgiveness of our sins. the communion of the Holy Spirit in the Church restores to the baptized the divine likeness lost through sin.

735

Lúc đó Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta “bảo chứng” hoặc “những ân huệ khởi đầu” của phần gia sản của chúng ta: đó là chính sự sống của Ba Ngôi Chí Thánh, là yêu thương “như chính Ngài đã yêu thương chúng ta.” Tình yêu này (Đức mến của 1 Cr 13) là nguyên lý của đời sống mới trong Đức Kitô, nay có thể thực hiện được bởi vì chúng ta đã lãnh nhận “sức mạnh của Thánh Thần khi Ngài ngự xuống” (Cv 1,8).

He, then, gives us the "pledge" or "first fruits" of our inheritance: the very life of the Holy Trinity, which is to love as "God (has) loved us." This love (the "charity" of 1 Cor 13) is the source of the new life in Christ, made possible because we have received "power" from the Holy Spirit.

736

Nhờ sức mạnh đó của Chúa Thánh Thần, các con cái Thiên Chúa có thể mang lại hoa trái. Đấng đã tháp chúng ta vào Cây Nho thật, sẽ làm cho chúng ta mang lại hoa trái của Thần Khí, là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22-23). Thần Khí là sự sống của chúng ta; chúng ta càng từ bỏ chính mình, Thần Khí càng làm cho chúng ta hoạt động. “Nhờ Chúa Thánh Thần, chúng ta được phục hồi để vào thiên đàng, được dẫn lên Nước Trời, được ban ơn làm nghĩa tử: chúng ta được vững lòng để gọi Thiên Chúa là Cha của mình, và thông phần vào ân sủng của Đức Kitô, được gọi là con cái ánh sáng và dự phần vào vinh quang vĩnh cửu.”

By this power of the Spirit, God's children can bear much fruit. He who has grafted us onto the true vine will make us bear "the fruit of the Spirit: . . . love, joy, peace, patience, kindness, goodness, faithfulness, gentleness, self-control." "We live by the Spirit"; the more we renounce ourselves, the more we "walk by the Spirit."

737

Sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần được thực hiện trong Hội Thánh, là Thân Thể Đức Kitô và Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Sứ vụ phối hợp này từ nay đưa các tín hữu của Đức Kitô vào sự hiệp thông của Người với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần: Thần Khí chuẩn bị người ta, Ngài đến với họ trước bằng ân sủng của Ngài để lôi kéo họ đến với Đức Kitô. Chính Ngài làm tỏ hiện Chúa phục sinh cho họ, nhắc cho họ nhớ Lời của Người và mở trí cho họ hiểu được sự Chết và sự Sống Lại của Người. Ngài làm cho mầu nhiệm của Đức Kitô hiện diện cho họ, nhất là trong bí tích Thánh Thể, để hòa giải họ, và cho họ được hiệp thông với Thiên Chúa, để làm cho họ “mang lại nhiều hoa trái.”

The mission of Christ and the Holy Spirit is brought to completion in the Church, which is the Body of Christ and the Temple of the Holy Spirit. This joint mission henceforth brings Christ's faithful to share in his communion with the Father in the Holy Spirit. the Spirit prepares men and goes out to them with his grace, in order to draw them to Christ. the Spirit manifests the risen Lord to them, recalls his word to them and opens their minds to the understanding of his Death and Resurrection. He makes present the mystery of Christ, supremely in the Eucharist, in order to reconcile them, to bring them into communion with God, that they may "bear much fruit."

738

Như vậy, sứ vụ của Hội Thánh không phải là được thêm vào sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần, nhưng là bí tích của sứ vụ đó: Hội Thánh, tự bản chất và trong tất cả các chi thể của mình, được sai đi để loan báo và làm chứng, hiện tại hóa và truyền bá mầu nhiệm hiệp thông của Ba Ngôi Chí Thánh (đây sẽ là nội dung của mục kế tiếp): “Tất cả chúng ta đã lãnh nhận cùng một Thần Khí duy nhất là Thánh Thần, nên một cách nào đó chúng ta được kết hợp với nhau và với Thiên Chúa. Mặc dầu chúng ta nhiều người, và mặc dầu Đức Kitô đã làm cho Thần Khí của Chúa Cha và của Người cư ngụ trong mỗi người chúng ta, Thần Khí vẫn là một và không thể phân chia, Ngài quy tụ những thần trí riêng rẽ... trong sự hợp nhất nhờ chính Ngài và làm cho tất cả như nên một trong Ngài. Cũng như sức mạnh của Mình Thánh Chúa Kitô làm cho những ai ăn Mình Thánh Người được thuộc về một thân thể duy nhất như thế nào, thì cũng một cách đó, theo tôi nghĩ, Thần Khí duy nhất và không thể phân chia của Thiên Chúa đang ngự trong mọi người, cũng đưa mọi người đến sự hợp nhất tinh thần như vậy.”

Thus the Church's mission is not an addition to that of Christ and the Holy Spirit, but is its sacrament: in her whole being and in all her members, the Church is sent to announce, bear witness, make present, and spread the mystery of the communion of the Holy Trinity (the topic of the next article):

739

Bởi vì Chúa Thánh Thần là sự Xức Dầu của Đức Kitô, nên Đức Kitô, là Đầu của thân thể, tuôn đổ Thánh Thần cho các chi thể của Người để nuôi dưỡng và chữa lành họ, cắt đặt họ vào trong các phận vụ đối với nhau, làm cho họ được sống, sai họ đi làm chứng, liên kết họ vào việc Người dâng mình lên Chúa Cha và vào việc Người chuyển cầu cho khắp cả trần gian. Qua các bí tích của Hội Thánh, Đức Kitô truyền thông cho các chi thể của Người Thần Khí của Người, là Đấng Thánh và là Đấng Thánh Hóa (đây sẽ là nội dung của Phần Thứ Hai của Sách Giáo Lý này).

Because the Holy Spirit is the anointing of Christ, it is Christ who, as the head of the Body, pours out the Spirit among his members to nourish, heal, and organize them in their mutual functions, to give them life, send them to bear witness, and associate them to his self-offering to the Father and to his intercession for the whole world. Through the Church's sacraments, Christ communicates his Holy and sanctifying Spirit to the members of his Body. (This will be the topic of Part Two of the Catechism.)

740

“Những kỳ công của Thiên Chúa” đang nói ở đây, được ban cho các tín hữu trong các bí tích của Hội Thánh, sẽ mang lại hoa trái trong đời sống mới trong Đức Kitô theo Thần Khí (đây sẽ là nội dung của Phần Thứ Ba của Sách Giáo Lý này).

These "mighty works of God," offered to believers in the sacraments of the Church, bear their fruit in the new life in Christ, according to the Spirit. (This will be the topic of Part Three.)

741

“Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả” (Rm 8,26). Chúa Thánh Thần, Đấng thực hiện các công trình của Thiên Chúa, là Thầy dạy cầu nguyện (đây sẽ là nội dung của Phần Thứ Tư của Sách Giáo Lý này).

"The Spirit helps us in our weakness; for we do not know how to pray as we ought, but the Spirit himself intercedes with sighs too deep for words." The Holy Spirit, the artisan of God's works, is the master of prayer. (This will be the topic of Part Four.)

742

“Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Ápba, Cha ơi” (Gl 4,6).

"Because you are sons, God has sent the Spirit of his Son into our hearts, crying, 'Abba! Father!"' (Gal 4:6).

743

Từ lúc khởi đầu cho đến lúc hoàn tất thời gian, khi Thiên Chúa sai Con của Ngài, Ngài luôn luôn sai Thần Khí của Ngài: Sứ vụ của hai Ngôi được phối hợp và không thể tách biệt nhau..

From the beginning to the end of time, whenever God sends his Son, he always sends his Spirit: their mission is conjoined and inseparable.

744

Khi thời gian đến hồi viên mãn, Chúa Thánh Thần hoàn thành nơi Đức Maria mọi công cuộc chuẩn bị để Đức Kitô ngự đến giữa dân của Thiên Chúa. Qua hành động của Chúa Thánh Thần nơi Đức Maria, Chúa Cha ban cho trần gian Đấng Emmanuen, Đấng là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23).

In the fullness of time the Holy Spirit completes in Mary all the preparations for Christ's coming among the People of God. By the action of the Holy Spirit in her, the Father gives the world Emmanuel "God-with-us" (Mt 1:23).

745

Con Thiên Chúa qua việc Xức Dầu bằng Chúa Thánh Thần được thánh hiến làm Đức Kitô (Đấng Mêsia) trong cuộc Nhập Thể của Người.

The Son of God was consecrated as Christ (Messiah) by the anointing of the Holy Spirit at his Incarnation (cf Ps 2:6-7).

746

Chúa Giêsu, nhờ sự Chết và sự Sống lại của Người, được thiết đặt làm Chúa và làm Đức Kitô trong vinh quang. Chính Người, từ nguồn sung mãn của mình, tuôn đổ Chúa Thánh Thần trên các Tông Đồ và trên Hội Thánh.

By his Death and his Resurrection, Jesus is constituted in glory as Lord and Christ (cf Acts 2:36). From his fullness, he poured out the Holy Spirit on the apostles and the Church.

747

Chúa Thánh Thần, Đấng mà Đức Kitô là Đầu đã tuôn đổ cho các chi thể của Người, xây dựng, ban sinh khí và thánh hóa Hội Thánh. Hội Thánh là bí tích của sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Chí Thánh và loài người.

The Holy Spirit, whom Christ the head pours out on his members, builds, animates, and sanctifies the Church. She is the sacrament of the Holy Trinity's communion with men.