“Ánh sáng muôn dân chính là Đức Kitô, nên Thánh Công đồng đang nhóm họp trong Chúa Thánh Thần hết lòng mong ước chiếu giãi trên mọi người ánh sáng của Đức Kitô, phản chiếu trên dung nhan Hội Thánh, bằng việc rao truyền Tin Mừng cho mọi thụ tạo.” Những lời trên đây mở đầu “Hiến chế tín lý về Hội Thánh” của Công đồng Vaticanô II. Như vậy, Công đồng cho thấy đề mục đức tin về Hội Thánh hoàn toàn tùy thuộc vào những đề mục quy chiếu về Chúa Giêsu Kitô. Hội Thánh không có ánh sáng nào khác ngoài ánh sáng của Đức Kitô; Hội Thánh có thể so sánh, theo hình ảnh các Giáo phụ thích dùng, với mặt trăng, mọi ánh sáng của nó đều là phản chiếu ánh sáng mặt trời.
"Christ is the light of humanity; and it is, accordingly, the heart-felt desire of this sacred Council, being gathered together in the Holy Spirit, that, by proclaiming his Gospel to every creature, it may bring to all men that light of Christ which shines out visibly from the Church." These words open the Second Vatican Council's Dogmatic Constitution on the Church. By choosing this starting point, the Council demonstrates that the article of faith about the Church depends entirely on the articles concerning Christ Jesus. the Church has no other light than Christ's; according to a favorite image of the Church Fathers, the Church is like the moon, all its light reflected from the sun.
Đề mục về Hội Thánh cũng hoàn toàn tùy thuộc đề mục trước, về Chúa Thánh Thần. “Bởi vì khi đã cho thấy Chúa Thánh Thần là nguồn mạch và là Đấng ban phát mọi sự thánh thiện, bây giờ chúng tôi tuyên xưng rằng chính Ngài đã ban cho Hội Thánh sự thánh thiện.” Hội Thánh, theo cách diễn tả của các Giáo phụ, là nơi “Thần Khí trổ hoa.”
The article concerning the Church also depends entirely on the article about the Holy Spirit, which immediately precedes it. "Indeed, having shown that the Spirit is the source and giver of all holiness, we now confess that it is he who has endowed the Church with holiness." The Church is, in a phrase used by the Fathers, the place "where the Spirit flourishes."
Tin rằng Hội Thánh có đặc tính là “Thánh thiện” và “Công Giáo”, và Hội Thánh có đặc tính “Duy nhất” và “Tông truyền” (như Tín biểu Nicêa - Constantinôpôli thêm vào), là điều không thể tách biệt khỏi đức tin vào Thiên Chúa là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Trong Tín biểu của các Tông Đồ, chúng ta tuyên xưng chúng ta tin Hội Thánh (“Tôi tin có Hội Thánh”), chứ không phải “tôi tin kính Hội Thánh”, để chúng ta không lẫn lộn Thiên Chúa với các công trình của Ngài và để chúng ta quy một cách rõ ràng về lòng nhân hậu của Thiên Chúa tất cả mọi hồng ân mà Ngài đã đặt vào Hội Thánh của Ngài.
To believe that the Church is "holy" and "catholic," and that she is "one" and "apostolic" (as the Nicene Creed adds), is inseparable from belief in God, the Father, the Son, and the Holy Spirit. In the Apostles' Creed we profess "one Holy Church" (Credo . . . Ecclesiam), and not to believe in the Church, so as not to confuse God with his works and to attribute clearly to God's goodness all the gifts he has bestowed on his Church.
“Hội Thánh” trong tiếng Latinh là Ecclesia (tiếng Hy Lạp là Ekklèsia, Ek-kalein, “gọi ra, triệu tập”) có nghĩa là “một cuộc triệu tập.” Danh từ này được dùng để chỉ một cuộc tập họp dân chúng, thông thường mang tính chất tôn giáo. Từ này thường được bản Cựu Ước bằng tiếng Hy Lạp sử dụng để chỉ việc tập họp dân Chúa chọn trước mặt Thiên Chúa, nhất là cuộc tập họp ở núi Xinai khi Ítraen lãnh nhận Lề luật và được Thiên Chúa thiết lập làm dân thánh của Ngài. Khi gọi mình là “Ecclesia” (Hội Thánh), cộng đoàn tiên khởi của những người tin vào Đức Kitô tự nhận mình là thừa kế của cuộc tập họp dân Chúa trong Cựu Ước. Trong cộng đoàn mới này, Thiên Chúa “triệu tập” dân của Ngài từ khắp cùng cõi đất. Từ “Kyriakè”, từ gốc của “Church” trong tiếng Anh, và “Kirche” trong tiếng Đức, có nghĩa là “điều thuộc về Chúa.”
The word "Church" (Latin ecclesia, from the Greek ek-ka-lein, to "call out of") means a convocation or an assembly. It designates the assemblies of the people, usually for a religious purpose. Ekklesia is used frequently in the Greek Old Testament for the assembly of the Chosen People before God, above all for their assembly on Mount Sinai where Israel received the Law and was established by God as his holy people. By calling itself "Church," the first community of Christian believers recognized itself as heir to that assembly. In the Church, God is "calling together" his people from all the ends of the earth. the equivalent Greek term Kyriake, from which the English word Church and the German Kirche are derived, means "what belongs to the Lord."
Trong ngôn ngữ Kitô Giáo, từ Ecclesia (Hội Thánh) dùng để chỉ một cuộc tập họp phụng vụ, nhưng cũng để chỉ một cộng đoàn các tín hữu ở một địa phương và toàn thể cộng đoàn các tín hữu trên khắp thế giới. Ba nghĩa này thật ra không thể tách biệt nhau. “Hội Thánh” là dân được Thiên Chúa quy tụ từ khắp thế gian. Hội Thánh hiện diện trong những cộng đoàn địa phương và trở nên hiện thực trong một cộng đoàn phụng vụ, đặc biệt là cộng đoàn cử hành Thánh Thể. Hội Thánh sống nhờ Lời và Mình Thánh Đức Kitô và như vậy, Hội Thánh trở thành Thân Thể Đức Kitô.
In Christian usage, the word "church" designates the liturgical assembly, but also the local community or the whole universal community of believers. These three meanings are inseparable. "The Church" is the People that God gathers in the whole world. She exists in local communities and is made real as a liturgical, above all a Eucharistic, assembly. She draws her life from the word and the Body of Christ and so herself becomes Christ's Body.
Trong Thánh Kinh, chúng ta gặp nhiều hình ảnh và biểu tượng có tương quan mật thiết với nhau, được Mặc Khải dùng để nói về mầu nhiệm khôn lường của Hội Thánh. Các hình ảnh trong Cựu ước đều là những biến thể của một ý tưởng căn bản, ý tưởng về “dân Thiên Chúa.” Trong Tân Ước, tất cả những hình ảnh này có một tâm điểm mới là Đức Kitô, Đấng trở thành “Đầu” của dân này, một dân từ nay là Thân Thể của Người. Chung quanh tâm điểm đó, những hình ảnh được tổng hợp “rút ra hoặc từ đời sống chăn nuôi hay trồng trọt, hoặc từ việc xây dựng, hoặc từ đời sống gia đình và hôn nhân.”
In Scripture, we find a host of interrelated images and figures through which Revelation speaks of the inexhaustible mystery of the Church. the images taken from the Old Testament are variations on a profound theme: the People of God. In the New Testament, all these images find a new center because Christ has become the head of this people, which henceforth is his Body. Around this center are grouped images taken "from the life of the shepherd or from cultivation of the land, from the art of building or from family life and marriage."
“Quả thật, Hội Thánh là chuồng chiên mà cửa vào duy nhất và cần thiết của chuồng chiên đó là Đức Kitô. Hội Thánh cũng là đàn chiên mà chính Thiên Chúa đã tiên báo Ngài sẽ là mục tử của đàn chiên đó, và những con chiên của đàn ấy, tuy do các mục tử phàm nhân chăn dắt, nhưng luôn được dẫn dắt và nuôi dưỡng bởi chính Đức Kitô, vị Mục tử nhân lành và Thủ lãnh các mục tử, Đấng đã hiến mạng sống mình cho các con chiên .”
"The Church is, accordingly, a sheepfold, the sole and necessary gateway to which is Christ. It is also the flock of which God himself foretold that he would be the shepherd, and whose sheep, even though governed by human shepherds, are unfailingly nourished and led by Christ himself, the Good Shepherd and Prince of Shepherds, who gave his life for his sheep.
“Hội Thánh là thửa ruộng, hay cánh đồng của Thiên Chúa. Trong cánh đồng đó, mọc lên cây ôliu cổ thụ mà gốc rễ thánh là các Tổ phụ, và nơi cây này, sự giao hòa giữa những người Do Thái và các dân ngoại đã được và sẽ được thực hiện. Hội Thánh được Nhà Làm Vườn thiên quốc trồng như một cây nho được tuyển chọn. Đức Kitô là cây nho thật, ban sức sống và sự sinh sôi nảy nở các ngành, tức là chúng ta, những kẻ được ở trong Người nhờ Hội Thánh, và không có Người, chúng ta không thể làm gì được .”
"The Church is a cultivated field, the tillage of God. On that land the ancient olive tree grows whose holy roots were the prophets and in which the reconciliation of Jews and Gentiles has been brought about and will be brought about again. That land, like a choice vineyard, has been planted by the heavenly cultivator. Yet the true vine is Christ who gives life and fruitfulness to the branches, that is, to us, who through the Church remain in Christ, without whom we can do nothing.
“Hội Thánh cũng thường được gọi là tòa nhà của Thiên Chúa. Chính Chúa đã tự ví Người như viên đá mà các thợ xây nhà loại bỏ, nhưng đã trở nên viên đá góc tường (Mt 21,42 và ss; Cv 4,11; 1 Pr 2,7; Tv 118,22). Trên nền móng này, Hội Thánh được xây dựng bởi các Tông Đồ và nhờ nền móng này Hội Thánh có được sự vững vàng và kết cấu. Tòa nhà này được gọi bằng nhiều tên khác nhau: nhà Thiên Chúa nơi gia đình của Ngài cư ngụ, chỗ ở của Thiên Chúa trong Thần Khí, lều của Thiên Chúa giữa loài người, và nhất là Đền thánh, được tượng trưng bằng các đền thánh bằng đá được các Thánh Giáo phụ ca tụng, và trong phụng vụ được so sánh, một cách không phải vô lý, với Thành thánh, là Giêrusalem mới. Quả thật, ở trần gian này, chúng ta như những viên đá sống động được sử dụng để xây nên Thành thánh đó. Ông Gioan đã chiêm ngưỡng Thành thánh đó từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống trong cuộc canh tân trần gian, ‘sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang’ (Kh 21,1-2).”
"Often, too, the Church is called the building of God. the Lord compared himself to the stone which the builders rejected, but which was made into the comer-stone. On this foundation the Church is built by the apostles and from it the Church receives solidity and unity. This edifice has many names to describe it: the house of God in which his family dwells; the household of God in the Spirit; the dwelling-place of God among men; and, especially, the holy temple. This temple, symbolized in places of worship built out of stone, is praised by the Fathers and, not without reason, is compared in the liturgy to the Holy City, the New Jerusalem. As living stones we here on earth are built into it. It is this holy city that is seen by John as it comes down out of heaven from God when the world is made anew, prepared like a bride adorned for her husband.
“Hội Thánh cũng được gọi là ‘thành Giêrusalem trên trời’, và ‘Mẹ chúng ta’ (Gl 4,26); được mô tả như Hiền Thê tinh tuyền của Con Chiên không tì ố, được Đức Kitô ‘yêu thương và hiến mình để thánh hóa’ (Ep 5,25-26), được Người kết hợp bằng một giao ước bất khả tiêu hủy, và được Người ‘nuôi nấng và chăm sóc’ không ngừng (Ep 5,29).”
"The Church, further, which is called 'that Jerusalem which is above' and 'our mother', is described as the spotless spouse of the spotless lamb. It is she whom Christ 'loved and for whom he delivered himself up that he might sanctify her.' It is she whom he unites to himself by an unbreakable alliance, and whom he constantly 'nourishes and cherishes.'"
Để tìm hiểu mầu nhiệm Hội Thánh, trước hết cần phải suy tư về nguồn gốc của Hội Thánh trong kế hoạch của Ba Ngôi Chí Thánh rồi việc Hội Thánh được hình thành dần dần trong lịch sử.
We begin our investigation of the Church's mystery by meditating on her origin in the Holy Trinity's plan and her progressive realization in history.
“Chúa Cha hằng hữu, bởi kế hoạch hoàn toàn tự do và bí nhiệm do sự khôn ngoan và nhân hậu của Ngài, đã tạo dựng trần gian, đã quyết định nâng người ta lên cho tham dự đời sống thần linh”, Ngài kêu gọi mọi người tới đời sống đó trong Con của Ngài. “Ngài đã quyết định tập họp những người tin vào Đức Kitô thành Hội Thánh thánh thiện.” “Gia đình” này “của Thiên Chúa” được thiết lập và từng bước được hình thành qua các giai đoạn của lịch sử nhân loại theo sự an bài của Chúa Cha: Thật vậy, “Hội Thánh đã được hình dung trước, từ lúc khởi đầu trần gian, được chuẩn bị một cách kỳ diệu trong lịch sử dân Ítraen và trong Giao Ước cũ, được thiết lập trong thời đại cuối cùng, được tỏ hiện bằng việc Thần Khí được tuôn đổ, và sẽ được hoàn tất cách vinh hiển vào lúc tận thế.”
"The eternal Father, in accordance with the utterly gratuitous and mysterious design of his wisdom and goodness, created the whole universe and chose to raise up men to share in his own divine life," to which he calls all men in his Son. "The Father . . . determined to call together in a holy Church those who should believe in Christ." This "family of God" is gradually formed and takes shape during the stages of human history, in keeping with the Father's plan. In fact, "already present in figure at the beginning of the world, this Church was prepared in marvellous fashion in the history of the people of Israel and the old Advance. Established in this last age of the world and made manifest in the outpouring of the Spirit, it will be brought to glorious completion at the end of time."
Các Kitô hữu thời sơ khai cho rằng: “Trần gian đã được tạo dựng vì Hội Thánh.” Thiên Chúa đã tạo dựng trần gian để trần gian được hiệp thông vào đời sống thần linh của Ngài, sự hiệp thông này được thực hiện qua việc “triệu tập” người ta trong Đức Kitô, và “sự triệu tập” này là Hội Thánh. Hội Thánh là mục đích của mọi sự, và cả những thăng trầm đau thương, như việc các thiên thần sa ngã và loài người phạm tội, đã chẳng được Thiên Chúa cho phép xảy ra nếu như đó không là cơ hội và phương thế để biểu dương toàn thể sức mạnh của cánh tay Ngài, toàn thể mức độ của tình yêu Ngài muốn dành cho trần gian: “Quả vậy, cũng như ý muốn của Thiên Chúa là một công trình, và công trình đó có tên là trần gian, thì cũng vậy, ý định của Ngài là cứu độ loài người, và công trình cứu độ ấy có tên là Hội Thánh.”
Christians of the first centuries said, "The world was created for the sake of the Church." God created the world for the sake of communion with his divine life, a communion brought about by the "convocation" of men in Christ, and this "convocation" is the Church. the Church is the goal of all things, and God permitted such painful upheavals as the angels' fall and man's sin only as occasions and means for displaying all the power of his arm and the whole measure of the love he wanted to give the world:
Việc tập họp dân Thiên Chúa bắt đầu ngay từ lúc tội lỗi phá hủy sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Việc tập họp Hội Thánh là như sự phản ứng của Thiên Chúa trước cảnh hỗn độn do tội lỗi gây ra. Công cuộc tái hợp âm thầm này được thực hiện giữa lòng tất cả các dân tộc: “Hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Ngài tiếp nhận” (Cv 10,35).
The gathering together of the People of God began at the moment when sin destroyed the communion of men with God, and that of men among themselves. the gathering together of the Church is, as it were, God's reaction to the chaos provoked by sin. This reunification is achieved secretly in the heart of all peoples: "In every nation anyone who fears him and does what is right is acceptable" to God.
Việc chuẩn bị xa cho cuộc tập họp dân Thiên Chúa bắt đầu bằng ơn gọi của ông Ápraham, Thiên Chúa hứa cho ông trở thành cha tương lai của một dân tộc vĩ đại. Việc chuẩn bị gần bắt đầu bằng việc tuyển chọn Ítraen làm dân Thiên Chúa. Nhờ việc được tuyển chọn, Ítraen phải là dấu chỉ cuộc tập họp trong tương lai gồm tất cả các dân tộc. Nhưng các Tiên tri tố cáo Ítraen đã phản bội Giao ước và đã hành xử như một gái điếm. Các ngài loan báo một Giao Ước mới và vĩnh cửu. “Giao ước mới này, chính Đức Kitô đã thiết lập.”
The remote preparation for this gathering together of the People of God begins when he calls Abraham and promises that he will become the father of a great people. Its immediate preparation begins with Israel's election as the People of God. By this election, Israel is to be the sign of the future gathering of All nations. But the prophets accuse Israel of breaking the covenant and behaving like a prostitute. They announce a new and eternal covenant. "Christ instituted this New Covenant."
Chúa Con là Đấng thực hiện kế hoạch cứu độ của Chúa Cha vào lúc thời gian đến hồi viên mãn: đó là lý do Người được sai đến. “Chúa Giêsu đã khởi đầu Hội Thánh của Người bằng việc rao giảng Tin Mừng, nghĩa là rao giảng Nước Thiên Chúa ngự đến, Nước đã được hứa trong Thánh Kinh từ nhiều thế kỷ. Để chu toàn ý Chúa Cha, Đức Kitô đã khai mạc Nước Trời nơi trần thế. Hội Thánh là Nước của Đức Kitô đã hiện diện trong mầu nhiệm.
It was the Son's task to accomplish the Father's plan of salvation in the fullness of time. Its accomplishment was the reason for his being sent. "The Lord Jesus inaugurated his Church by preaching the Good News, that is, the coming of the Reign of God, promised over the ages in the scriptures." To fulfill the Father's will, Christ ushered in the Kingdom of heaven on earth. the Church "is the Reign of Christ already present in mystery."
“Quả thật, Nước Thiên Chúa sáng tỏ trước mặt mọi người trong lời nói, hành động và sự hiện diện của Đức Kitô.” Ai đón nhận lời của Chúa Giêsu là đón nhận “chính Nước Thiên Chúa.” Mầm mống và điểm khởi đầu của Nước Thiên Chúa là “một đoàn chiên nhỏ bé” (Lc 12,32), gồm những người được Chúa Giêsu đến triệu tập quanh Người và chính Người là mục tử của họ. Những người đó họp thành gia đình đích thực của Chúa Giêsu. Những ai Người đã quy tụ quanh Người, Người đã dạy cho họ một “cách hành động” mới, và cả một kinh nguyện riêng.
"This Kingdom shines out before men in the word, in the works and in the presence of Christ." To welcome Jesus' word is to welcome "the Kingdom itself." The seed and beginning of the Kingdom are the "little flock" of those whom Jesus came to gather around him, the flock whose shepherd he is. They form Jesus' true family. To those whom he thus gathered around him, he taught a new "way of acting" and a prayer of their own.
Chúa Giêsu đã thiết lập cho cộng đoàn của Người một cơ cấu tồn tại cho tới khi Nước Thiên Chúa được hoàn thành trọn vẹn. Trước hết, Người tuyển chọn nhóm Mười Hai với ông Phêrô làm thủ lãnh. Những vị này, đại diện cho mười hai chi tộc Ítraen, là những tảng đá nền móng của Giêrusalem mới. Nhóm Mười Hai và các môn đệ khác được tham dự vào sứ vụ của Đức Kitô, vào quyền năng của Người, và cả số phận của Người. Bằng tất cả các hành động này, Đức Kitô chuẩn bị và xây dựng Hội Thánh của Người.
The Lord Jesus endowed his community with a structure that will remain until the Kingdom is fully achieved. Before all else there is the choice of the Twelve with Peter as their head. Representing the twelve tribes of Israel, they are the foundation stones of the new Jerusalem. The Twelve and the other disciples share in Christ's mission and his power, but also in his lot. By all his actions, Christ prepares and builds his Church.
Nhưng Hội Thánh được sinh ra một cách chủ yếu từ việc hiến thân trọn vẹn của Đức Kitô để cứu độ chúng ta, việc hiến thân ấy được thể hiện trước trong việc thiết lập bí tích Thánh Thể và được thực hiện trên thập giá. “Sự khởi đầu và tăng trưởng của Hội Thánh được đánh dấu bằng việc máu và nước trào ra từ cạnh sườn rộng mở của Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập giá.” “Chính từ cạnh sườn của Đức Kitô yên nghỉ trên thập giá đã phát sinh bí tích kỳ diệu là toàn thể Hội Thánh.” Như bà Evà được tạo ra từ cạnh sườn của ông Ađam, thì cũng vậy, Hội Thánh được sinh từ trái tim bị đâm thâu của Đức Kitô chết trên thập giá.
The Church is born primarily of Christ's total self-giving for our salvation, anticipated in the institution of the Eucharist and fulfilled on the cross. "The origin and growth of the Church are symbolized by the blood and water which flowed from the open side of the crucified Jesus." "For it was from the side of Christ as he slept the sleep of death upon the cross that there came forth the 'wondrous sacrament of the whole Church.'" As Eve was formed from the sleeping Adam's side, so the Church was born from the pierced heart of Christ hanging dead on the cross.
“Vậy sau khi công trình mà Chúa Cha trao cho Chúa Con thực hiện nơi trần thế đã được hoàn tất, thì Chúa Thánh Thần được sai đến vào ngày lễ Ngũ Tuần, để Ngài thánh hóa Hội Thánh một cách liên lỉ.” Lúc đó “Hội Thánh được tỏ hiện một cách công khai trước mặt dân chúng, và Tin Mừng bắt đầu được truyền bá cho muôn dân qua việc rao giảng.” Bởi vì là “cuộc triệu tập” mọi người đến với ơn cứu độ, nên tự bản chất của mình, Hội Thánh có tính chất thừa sai, được Đức Kitô sai đến với mọi dân tộc để làm cho họ thành môn đệ.
"When the work which the Father gave the Son to do on earth was accomplished, the Holy Spirit was sent on the day of Pentecost in order that he might continually sanctify the Church." Then "the Church was openly displayed to the crowds and the spread of the Gospel among the nations, through preaching, was begun." As the "convocation" of all men for salvation, the Church in her very nature is missionary, sent by Christ to all the nations to make disciples of them.
Chúa Thánh Thần “dạy dỗ và hướng dẫn Hội Thánh bằng nhiều hồng ân theo phẩm trật và theo đặc sủng”, để Hội Thánh thực hiện sứ vụ của mình. “Từ đó, được trang bị bằng các hồng ân của Đấng Sáng Lập và trong khi trung thành tuân giữ các giới luật của Người về bác ái, khiêm nhường và từ bỏ, Hội Thánh lãnh nhận sứ vụ loan báo và thiết lập Nước của Đức Kitô và của Thiên Chúa nơi mọi dân tộc, và tạo thành mầm mống và điểm khởi đầu của Nước này trên trái đất.”
So that she can fulfill her mission, the Holy Spirit "bestows upon [the Church] varied hierarchic and charismatic gifts, and in this way directs her." "Henceforward the Church, endowed with the gifts of her founder and faithfully observing his precepts of charity, humility and self-denial, receives the mission of proclaiming and establishing among all peoples the Kingdom of Christ and of God, and she is on earth the seed and the beginning of that kingdom."
“Hội Thánh... sẽ chỉ được hoàn tất trong vinh quang thiên quốc”, trong cuộc Ngự đến vinh hiển của Đức Kitô. Cho đến ngày đó, “Hội Thánh vẫn tiến bước trên đường lữ thứ giữa những cuộc bách hại của thế gian và những ơn an ủi của Thiên Chúa.” Nơi trần thế, Hội Thánh biết mình đang ở chốn lưu đày, đang trên đường lữ thứ xa cách Chúa, Hội Thánh khao khát cuộc ngự đến trọn vẹn của Nước Thiên Chúa, khao khát “giờ sẽ được kết hợp cùng Vua của mình trong vinh quang.” Sự hoàn tất của Hội Thánh, và qua đó, sự hoàn tất của trần gian trong vinh quang sẽ chỉ xảy ra sau nhiều thử thách lớn lao. Chỉ khi đó “mọi người công chính từ ông Ađam, ‘từ ông Aben người công chính cho đến người được tuyển chọn cuối cùng’ sẽ được quy tụ trong Hội Thánh phổ quát bên cạnh Chúa Cha.”
"The Church . . . will receive its perfection only in the glory of heaven," at the time of Christ's glorious return. Until that day, "the Church progresses on her pilgrimage amidst this world's persecutions and God's consolations." Here below she knows that she is in exile far from the Lord, and longs for the full coming of the Kingdom, when she will "be united in glory with her king." The Church, and through her the world, will not be perfected in glory without great trials. Only then will "all the just from the time of Adam, 'from Abel, the just one, to the last of the elect,' . . . be gathered together in the universal Church in the Father's presence."
Hội Thánh sống trong lịch sử, nhưng đồng thời siêu việt trên lịch sử. “Chỉ tâm trí được soi sáng bởi đức tin” mới có thể nhận ra trong thực tại hữu hình của Hội Thánh một thực tại thiêng liêng mang sự sống thần linh.
The Church is in history, but at the same time she transcends it. It is only "with the eyes of faith" that one can see her in her visible reality and at the same time in her spiritual reality as bearer of divine life.
“Đức Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất, đã thiết lập và không ngừng nâng đỡ Hội Thánh của Người, một cộng đoàn đức tin, đức cậy và đức mến, như một cơ cấu hữu hình nơi trần thế, qua Hội Thánh đó Người ban phát chân lý và ân sủng cho mọi người.” Hội Thánh đồng thời: - “vừa là một xã hội... có tổ chức theo phẩm trật, vừa là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô”; - “vừa là một tập thể hữu hình vừa là một cộng đoàn thiêng liêng”; - “vừa là một Hội Thánh được phong phú bởi những của cải trần thế vừa là một Hội Thánh được phong phú bởi những của cải thiên quốc.” Các chiều kích trên đồng thời “cấu thành một thực tại phức hợp duy nhất, kết hợp hai yếu tố nhân loại và thần linh”: “Hội Thánh có đặc điểm là vừa mang tính nhân loại vừa mang tính thần linh, vừa hữu hình vừa hàm chứa những thực tại vô hình, vừa nhiệt thành trong hành động vừa siêu thoát trong chiêm niệm, vừa hiện diện trong trần gian vừa xa lạ với trần gian; tuy nhiên, trong Hội Thánh, yếu tố nhân loại quy hướng về yếu tố thần linh và tùy thuộc vào đó; yếu tố hữu hình quy hướng về yếu tố vô hình; yếu tố hoạt động quy hướng về yếu tố chiêm niệm, và hiện tại quy hướng về thành đô tương lai mà chúng ta đang tìm kiếm.” “Ôi thật khiêm cung! Ôi thật cao trọng! Lều tạm bằng gỗ tùng và thánh điện của Thiên Chúa, lều tạm trần thế và cung điện thiên quốc; ngôi nhà bằng đất sét và lâu đài hoàng gia; thân thể của sự chết và đền thờ của ánh sáng; và sau cùng, đối tượng bị khinh miệt bởi những kẻ kiêu căng, và hiền thê của Đức Kitô! Tôi đen nhưng tôi đẹp, hỡi các thiếu nữ Giêrusalem: mặc dầu lao động và đau khổ của cuộc lưu đày lâu dài làm nàng xanh xao, nhưng nàng lại được trang điểm bằng vẻ đẹp thiên quốc.”
"The one mediator, Christ, established and ever sustains here on earth his holy Church, the community of faith, hope, and charity, as a visible organization through which he communicates truth and grace to all men." The Church is at the same time: - a "society structured with hierarchical organs and the mystical body of Christ; - the visible society and the spiritual community; - the earthly Church and the Church endowed with heavenly riches." These dimensions together constitute "one complex reality which comes together from a human and a divine element":
Trong Hội Thánh, Đức Kitô hoàn thành và mặc khải mầu nhiệm riêng của Người như mục đích của kế hoạch của Thiên Chúa: “quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô” (Ep 1,10). Thánh Phaolô gọi cuộc kết hợp phu phụ của Đức Kitô với Hội Thánh là “một mầu nhiệm cao cả” (Ep 5,32). Bởi vì được kết hợp với Đức Kitô như với Phu Quân của mình, nên chính Hội Thánh cũng trở thành một mầu nhiệm. Khi chiêm ngắm mầu nhiệm nơi Hội Thánh, thánh Phaolô đã thốt lên: “Đức Kitô đang ở giữa anh em, Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang” (Cl 1,27).
It is in the Church that Christ fulfills and reveals his own mystery as the purpose of God's plan: "to unite all things in him." St. Paul calls the nuptial union of Christ and the Church "a great mystery." Because she is united to Christ as to her bridegroom, she becomes a mystery in her turn. Contemplating this mystery in her, Paul exclaims: "Christ in you, the hope of glory."
Trong Hội Thánh, sự hiệp thông này giữa người ta với Thiên Chúa nhờ đức mến “không bao giờ mất được” (1 Cr 13,8) là mục đích chi phối tất cả những gì là phương tiện bí tích gắn liền với thế giới đang qua đi này. “Toàn bộ cơ cấu của Hội Thánh đều hướng về sự thánh thiện của các chi thể của Đức Kitô. Sự thánh thiện ấy lại được xác định theo ‘mầu nhiệm cao cả’, là mầu nhiệm Hiền Thê dùng tặng phẩm tình yêu của riêng mình đáp trả lại tặng phẩm của Đấng Phu Quân.” Đức Maria trổi vượt tất cả chúng ta về sự thánh thiện, vốn là mầu nhiệm của Hội Thánh, như một Hiền Thê không tỳ ố, không vết nhăn. Vì vậy, “chiều kích Maria của Hội Thánh trổi vượt trên chiều kích Phêrô.”
In the Church this communion of men with God, in the "love [that] never ends," is the purpose which governs everything in her that is a sacramental means, tied to this passing world. "[The Church's] structure is totally ordered to the holiness of Christ's members. and holiness is measured according to the 'great mystery' in which the Bride responds with the gift of love to the gift of the Bridegroom." Mary goes before us all in the holiness that is the Church's mystery as "the bride without spot or wrinkle." This is why the "Marian" dimension of the Church precedes the "Petrine."
Từ mysterion trong tiếng Hy Lạp được dịch sang tiếng Latinh bằng hai từ là mysterium (mầu nhiệm) và sacramentum (bí tích). Trong cách giải thích về sau này, từ sacramentum (bí tích) diễn tả dấu chỉ hữu hình của thực tại ẩn giấu của ơn cứu độ, thực tại ẩn giấu đó được diễn tả bằng từ mysterium (mầu nhiệm). Theo nghĩa này, chính Đức Kitô là mầu nhiệm của ơn cứu độ: “Mầu nhiệm của Thiên Chúa không là gì khác ngoài Đức Kitô.” Công trình cứu độ do nhân tính thánh thiện và có sức thánh hóa của Đức Kitô thực hiện là bí tích của ơn cứu độ. Bí tích này được biểu lộ và hoạt động trong các bí tích của Hội Thánh (mà các Giáo Hội Đông phương cũng gọi là các “mầu nhiệm thánh”). Bảy bí tích là những dấu chỉ và những dụng cụ Chúa Thánh Thần dùng để tuôn đổ ân sủng của Đức Kitô là Đầu, trên Hội Thánh là Thân Thể của Người. Như vậy, Hội Thánh chứa đựng và truyền thông ân sủng vô hình mà mình là dấu chỉ. Trong ý nghĩa loại suy này, chính Hội Thánh được gọi là một “bí tích.”
The Greek word mysterion was translated into Latin by two terms: mystenum and sacramentum. In later usage the term sacramentum emphasizes the visible sign of the hidden reality of salvation which was indicated by the term mystenum. In this sense, Christ himself is the mystery of salvation: "For there is no other mystery of God, except Christ." The saving work of his holy and sanctifying humanity is the sacrament of salvation, which is revealed and active in the Church's sacraments (which the Eastern Churches also call "the holy mysteries"). the seven sacraments are the signs and instruments by which the Holy Spirit spreads the grace of Christ the head throughout the Church which is his Body. the Church, then, both contains and communicates the invisible grace she signifies. It is in this analogical sense, that the Church is called a "sacrament."
“Trong Đức Kitô, Hội Thánh là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và dụng cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hợp nhất của toàn thể nhân loại”: là bí tích của sự kết hợp mật thiết con người với Thiên Chúa: đó là mục đích đầu tiên của Hội Thánh. Bởi vì sự hiệp thông giữa con người bắt rễ trong sự kết hợp với Thiên Chúa, nên Hội Thánh cũng là bí tích của sự hợp nhất của nhân loại. Trong Hội Thánh, sự hợp nhất đó đã bắt đầu, bởi vì Hội Thánh quy tụ những người “thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ” (Kh 7,9); đồng thời, Hội Thánh là “dấu chỉ và dụng cụ” để thực hiện trọn vẹn sự hợp nhất này mà cho đến nay vẫn còn phải đạt tới.
"The Church, in Christ, is like a sacrament - a sign and instrument, that is, of communion with God and of unity among all men." The Church's first purpose is to be the sacrament of the inner union of men with God. Because men's communion with one another is rooted in that union with God, the Church is also the sacrament of the unity of the human race. In her, this unity is already begun, since she gathers men "from every nation, from all tribes and peoples and tongues"; at the same time, the Church is the "sign and instrument" of the full realization of the unity yet to come.
Với tính cách là bí tích, Hội Thánh là dụng cụ của Đức Kitô. “Hội Thánh cũng được Đức Kitô sử dụng như dụng cụ để cứu chuộc mọi người”, “Hội Thánh là bí tích phổ quát của ơn cứu độ” qua đó Đức Kitô “biểu lộ và đồng thời thực hiện mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.” Hội Thánh là “kế hoạch hữu hình của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại”, trong kế hoạch này, Thiên Chúa muốn cho “nhân loại phổ quát họp thành Dân duy nhất của Thiên Chúa, quy tụ thành Thân thể duy nhất của Đức Kitô, xây dựng nên một Đền thờ duy nhất của Chúa Thánh Thần.”
As sacrament, the Church is Christ's instrument. "She is taken up by him also as the instrument for the salvation of all," "the universal sacrament of salvation," by which Christ is "at once manifesting and actualizing the mystery of God's love for men." The Church "is the visible plan of God's love for humanity," because God desires "that the whole human race may become one People of God, form one Body of Christ, and be built up into one temple of the Holy Spirit."
Từ Hội Thánh (Ecclesia) có nghĩa gốc là “cuộc triệu tập.” Từ này chỉ sự tập họp những người được Lời Chúa triệu tập, để hợp thành dân Thiên Chúa, và những người này, được nuôi dưỡng bằng Mình Thánh Đức Kitô, chính họ trở thành Thân Thể Đức Kitô.
The word "Church" means "convocation." It designates the assembly of those whom God's Word "convokes," i.e., gathers together to form the People of God, and who themselves, nourished with the Body of Christ, become the Body of Christ.
Hội Thánh vừa là con đường, đồng thời vừa là mục đích của kế hoạch của Thiên Chúa: Được hình dung trước trong công trình tạo dựng, được chuẩn bị trong Cựu Ước, được thành lập do các lời và hành động của Chúa Giêsu Kitô, được thực hiện nhờ thập giá cứu chuộc và sự phục sinh của Người, Hội Thánh được làm tỏ hiện như mầu nhiệm cứu độ qua việc tuôn đổ Chúa Thánh Thần. Hội Thánh sẽ được hoàn tất trong vinh quang thiên quốc như cuộc tập họp mọi người được cứu chuộc từ cõi đất.
The Church is both the means and the goal of God's plan: prefigured in creation, prepared for in the Old Covenant, founded by the words and actions of Jesus Christ, fulfilled by his redeeming cross and his Resurrection, the Church has been manifested as the mystery of salvation by the outpouring of the Holy Spirit. She will be perfected in the glory of heaven as the assembly of all the redeemed of the earth (cf Rev 14:4).
Hội Thánh vừa hữu hình vừa thiêng liêng, vừa là một xã hội có phẩm trật vừa là thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô. Hội Thánh là duy nhất, được tạo thành bởi hai yếu tố nhân loại và thần linh. Đó là mầu nhiệm Hội Thánh, mầu nhiệm này chỉ có thể được đón nhận bằng đức tin.
The Church is both visible and spiritual, a hierarchical society and the Mystical Body of Christ. She is one, yet formed of two components, human and divine. That is her mystery, which only faith can accept.
Trên trần gian này, Hội Thánh là bí tích cứu độ, là dấu chỉ và dụng cụ của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người.
The Church in this world is the sacrament of salvation, the sign and the instrument of the communion of God and men.