Hỏi Đáp Công Giáo
Tuyên Xưng Đức Tin · Tuyên xưng đức tin Kitô Giáo · Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần · “Tôi tin Hội Thánh Công Giáo”
TIẾT 2

Hội Thánh - Dân Thiên Chúa, Thân Thể Đức Kitô, Đền Thờ Chúa Thánh Thần

Số 781–810
781

“Quả thật, trong mọi thời và trong mọi dân, bất cứ ai kính sợ Thiên Chúa và thực hành sự công chính đều được Ngài đón nhận. Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu độ người ta riêng rẽ từng người một, không liên kết với nhau, nhưng Ngài muốn thiết lập họ thành một Dân, là dân nhận biết Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài một cách thánh thiện. Vì vậy, Ngài đã chọn dân Ítraen làm dân của Ngài, thiết lập với họ một Giao ước, giáo huấn họ dần dần, bằng cách biểu lộ chính mình Ngài và ý muốn của Ngài trong lịch sử của họ và thánh hiến họ cho Ngài. Tuy nhiên, tất cả những điều đó chỉ là chuẩn bị và hình bóng của Giao Ước mới và hoàn hảo, sẽ được ký kết trong Đức Kitô... Đó là Giao Ước mới Đức Kitô đã thiết lập trong máu Người, Người kêu gọi những người Do Thái và dân ngoại làm thành một Dân, liên kết nhau hướng về sự hợp nhất không theo xác thịt nhưng trong Thần Khí.

"At all times and in every race, anyone who fears God and does what is right has been acceptable to him. He has, however, willed to make men holy and save them, not as individuals without any bond or link between them, but rather to make them into a people who might acknowledge him and serve him in holiness. He therefore chose the Israelite race to be his own people and established a covenant with it. He gradually instructed this people.... All these things, however, happened as a preparation for and figure of that new and perfect covenant which was to be ratified in Christ . . . the New Covenant in his blood; he called together a race made up of Jews and Gentiles which would be one, not according to the flesh, but in the Spirit."

782

Dân Thiên Chúa có những đặc tính, phân biệt họ một cách rõ ràng với tất cả những tập thể trong lịch sử về tôn giáo, chủng tộc, chính trị hoặc văn hóa: — Đây là dân của Thiên Chúa: Thiên Chúa không thuộc riêng một dân nào. Nhưng Ngài thủ đắc cho mình một dân từ những người trước kia không phải là một dân: “là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh” (1 Pr 2,9). — Người ta trở nên phần tử của dân này, không nhờ sự sinh ra theo thể lý, nhưng nhờ sự sinh ra “bởi ơn trên”, “bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,3-5), nghĩa là, nhờ đức tin vào Đức Kitô và nhờ bí tích Rửa Tội. — “Dân này có Đấng làm Đầu là Chúa Giêsu Kitô (Đấng Được Xức Dầu, Đấng Mêsia): bởi vì cùng một Sự Xức Dầu, là Chúa Thánh Thần, chảy từ Đầu vào Thân thể, nên đây là “Dân thuộc về Đấng Được Xức Dầu.” — “Dân này có phẩm giá và sự tự do của các con cái Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần ngự trong trái tim của họ như trong một đền thờ.” — “Dân này có Luật là giới răn mới của yêu thương như chính Đức Kitô đã yêu thương chúng ta.” Đó là Luật “mới” của Chúa Thánh Thần. — Sứ vụ của dân này là làm muối đất và ánh sáng thế gian. “Dân này là hạt giống chắc chắn nhất mang lại sự hợp nhất, niềm hy vọng và ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại.” — Cuối cùng, mục đích của dân này là “Nước Thiên Chúa, đã được chính Thiên Chúa khởi sự nơi trần thế và ngày càng lan rộng, cho đến khi được chính Ngài hoàn tất trong ngày tận thế.”

The People of God is marked by characteristics that clearly distinguish it from all other religious, ethnic, political, or cultural groups found in history: - It is the People of God: God is not the property of any one people. But he acquired a people for himself from those who previously were not a people: "a chosen race, a royal priesthood, a holy nation." - One becomes a member of this people not by a physical birth, but by being "born anew," a birth "of water and the Spirit," that is, by faith in Christ, and Baptism. - This People has for its Head Jesus the Christ (the anointed, the Messiah). Because the same anointing, the Holy Spirit, flows from the head into the body, this is "the messianic people." - "The status of this people is that of the dignity and freedom of the sons of God, in whose hearts the Holy Spirit dwells as in a temple." - "Its law is the new commandment to love as Christ loved us." This is the "new" law of the Holy Spirit. - Its mission is to be salt of the earth and light of the world. This people is "a most sure seed of unity, hope, and salvation for the whole human race." -Its destiny, finally, "is the Kingdom of God which has been begun by God himself on earth and which must be further extended until it has been brought to perfection by him at the end of time."

783

Chúa Cha đã dùng Thánh Thần xức dầu và thiết đặt Chúa Giêsu Kitô làm “Tư tế, Tiên tri và Vương đế.” Toàn thể dân Thiên Chúa tham dự vào ba chức năng này của Đức Kitô và lãnh trách nhiệm về sứ vụ và về sự phục vụ, xuất phát từ ba chức năng đó.

Jesus Christ is the one whom the Father anointed with the Holy Spirit and established as priest, prophet, and king. the whole People of God participates in these three offices of Christ and bears the responsibilities for mission and service that flow from them.

784

Khi một người gia nhập dân Thiên Chúa nhờ đức tin và nhờ bí tích Rửa Tội, thì người đó được tham dự vào ơn gọi duy nhất của dân đó: vào ơn gọi làm tư tế của dân Thiên Chúa. “Chúa Kitô được cất nhắc làm Thượng tế giữa loài người, đã làm cho dân mới ‘thành một nước, thành những tư tế cho Thiên Chúa, Cha của Người’. Thật vậy, những ai đã lãnh Phép Rửa, nhờ ơn tái sinh và việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, đều được thánh hiến để trở thành ngôi nhà thiêng liêng và hàng tư tế thánh.”

On entering the People of God through faith and Baptism, one receives a share in this people's unique, priestly vocation: "Christ the Lord, high priest taken from among men, has made this new people 'a kingdom of priests to God, his Father.' the baptized, by regeneration and the anointing of the Holy Spirit, are consecrated to be a spiritual house and a holy priesthood."

785

“Dân thánh của Thiên Chúa cũng được tham dự vào chức năng tiên tri của Đức Kitô.” Chủ yếu nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin, một cảm thức riêng của toàn thể dân Thiên Chúa, giáo dân và giáo phẩm, khi họ “luôn luôn gắn bó với đức tin đã được truyền lại cho các Thánh một lần cho mãi mãi”, khi họ đào sâu để hiểu biết đức tin hơn, và trở thành chứng nhân cho Đức Kitô giữa trần gian này.

"The holy People of God shares also in Christ's prophetic office," above all in the supernatural sense of faith that belongs to the whole People, lay and clergy, when it "unfailingly adheres to this faith . . . once for all delivered to the saints," and when it deepens its understanding and becomes Christ's witness in the midst of this world.

786

Cuối cùng, dân Thiên Chúa được tham dự vào chức năng vương đế của Đức Kitô. Đức Kitô thực thi quyền vương đế của Người khi Người lôi kéo mọi người đến với mình qua cái Chết và sự Sống lại của Người. Đức Kitô, là Vua và là Chúa của vũ trụ, đã trở nên tôi tớ mọi người, vì “Người đến không phải để được người ta phục vu, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20,28). Đối với Kitô hữu, “cai trị là phục vụ” Đức Kitô; Hội Thánh đặc biệt “nhận ra trong những người nghèo khó và đau khổ hình ảnh của Đấng Sáng Lập nghèo khó và đau khổ của mình.” Dân Thiên Chúa thực hiện “phẩm giá vương đế” của mình khi sống theo ơn gọi phục vụ cùng với Đức Kitô. “Quả thật, tất cả những người được tái sinh trong Đức Kitô, dấu thánh giá làm cho họ trở thành Vua, việc xức dầu bằng Chúa Thánh Thần thánh hiến họ làm tư tế, để, ngoại trừ sự phục vụ đặc biệt của thừa tác vụ của chúng tôi, tất cả các Kitô hữu có tinh thần và có lý trí đều nhận ra mình thuộc dòng dõi vương đế và có chức vụ tư tế. Thật vậy, có gì mang tính vương đế đối với một tâm hồn cho bằng hướng dẫn thân xác mình quy phục Thiên Chúa? Và có gì mang tính tư tế cho bằng dâng lên Chúa một lương tâm trong sạch và dâng những lễ vật tinh tuyền của lòng đạo hạnh trên bàn thờ của trái tim?”

Finally, the People of God shares in the royal office of Christ. He exercises his kingship by drawing all men to himself through his death and Resurrection. Christ, King and Lord of the universe, made himself the servant of all, for he came "not to be served but to serve, and to give his life as a ransom for many." For the Christian, "to reign is to serve him," particularly when serving "the poor and the suffering, in whom the Church recognizes the image of her poor and suffering founder." The People of God fulfills its royal dignity by a life in keeping with its vocation to serve with Christ.

787

Ngay từ đầu, Chúa Giêsu đã kết hợp các môn đệ Người vào cuộc đời Người; Người đã mặc khải cho họ mầu nhiệm Nước Trời; và cho họ được tham dự vào sứ vụ, niềm vui và những đau khổ của Người. Chúa Giêsu còn nói đến một sự hiệp thông mật thiết hơn nữa giữa Người với những ai đi theo Người: “Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em... Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15,4-5). Và Người loan báo một sự hiệp thông bí nhiệm và thật sự giữa thân thể của Người và thân thể của chúng ta: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56).

From the beginning, Jesus associated his disciples with his own life, revealed the mystery of the Kingdom to them, and gave them a share in his mission, joy, and sufferings. Jesus spoke of a still more intimate communion between him and those who would follow him: "Abide in me, and I in you.... I am the vine, you are the branches." and he proclaimed a mysterious and real communion between his own body and ours: "He who eats my flesh and drinks my blood abides in me, and I in him."

788

Khi không còn hiện diện hữu hình với các môn đệ của Người, Chúa Giêsu đã không để họ phải mồ côi. Người hứa Người sẽ ở với họ cho đến tận thế. Người sai Thần Khí của Người đến với họ. Như vậy, sự hiệp thông với Chúa Giêsu một cách nào đó đã trở nên mật thiết hơn: “Quả thật, bằng việc truyền thông Thần Khí của Người, Chúa Giêsu đã thiết lập các anh em Người, được triệu tập từ muôn dân, thành thân thể của Người một cách mầu nhiệm.”

When his visible presence was taken from them, Jesus did not leave his disciples orphans. He promised to remain with them until the end of time; he sent them his Spirit. As a result communion with Jesus has become, in a way, more intense: "By communicating his Spirit, Christ mystically constitutes as his body those brothers of his who are called together from every nation."

789

Việc so sánh Hội Thánh với một thân thể làm sáng tỏ sự ràng buộc thân mật giữa Hội Thánh và Đức Kitô. Hội Thánh không chỉ được quy tụ quanh Đức Kitô; Hội Thánh được nên một trong Người, trong Thân Thể của Người. Có ba khía cạnh của Hội Thánh - Thân Thể Đức Kitô, cần được lưu ý đặc biệt: sự hợp nhất của mọi chi thể với nhau nhờ họ kết hợp với Đức Kitô; Đức Kitô là Đầu của Thân Thể; và Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô.

The comparison of the Church with the body casts light on the intimate bond between Christ and his Church. Not only is she gathered around him; she is united in him, in his body. Three aspects of the Church as the Body of Christ are to be more specifically noted: the unity of all her members with each other as a result of their union with Christ; Christ as head of the Body; and the Church as bride of Christ.

790

Khi đáp lại Lời Thiên Chúa và trở nên chi thể của Thân Thể Đức Kitô, các tín hữu được kết hợp mật thiết với Đức Kitô: “Trong thân thể đó, sự sống của Đức Kitô được truyền thông cho các tín hữu là những kẻ, nhờ các bí tích, đã được kết hợp một cách bí nhiệm và thật sự với Đức Kitô chịu nạn và được tôn vinh.” Điều này đặc biệt là thật đối với bí tích Rửa Tội, nhờ bí tích này chúng ta được kết hợp với cái Chết và sự Sống lại của Đức Kitô, và đối với bí tích Thánh Thể, nhờ bí tích này “khi chúng ta được tham dự thật sự vào Thân Thể của Chúa, chúng ta được nâng lên đến sự hiệp thông với Người và với nhau.”

Believers who respond to God's word and become members of Christ's Body, become intimately united with him: "In that body the life of Christ is communicated to those who believe, and who, through the sacraments, are united in a hidden and real way to Christ in his Passion and glorification." This is especially true of Baptism, which unites us to Christ's death and Resurrection, and the Eucharist, by which "really sharing in the body of the Lord, . . . we are taken up into communion with him and with one another."

791

Sự hợp nhất trong Thân Thể không làm mất tính đa dạng của các chi thể: “Trong việc xây dựng Thân Thể của Đức Kitô, có sự đa dạng của các chi thể và các phận vụ. Chỉ có một Thần Khí, Đấng phân phát các hồng ân khác nhau của Ngài, theo sự phong phú của Ngài và theo nhu cầu của các thừa tác vụ để mang lại lợi ích cho Hội Thánh.” Sự hợp nhất của Nhiệm Thể làm phát sinh và cổ võ đức mến giữa các tín hữu. “Từ đó, nếu một chi thể đau khổ, thì tất cả các chi thể đều đau khổ; còn nếu một chi thể được vinh dự, thì tất cả các chi thể đều chung vui.” Sau cùng, sự hợp nhất của Thân Thể Đức Kitô chiến thắng mọi chia rẽ nhân loại: “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô; không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3,27-28).

The body's unity does not do away with the diversity of its members: "In the building up of Christ's Body there is engaged a diversity of members and functions. There is only one Spirit who, according to his own richness and the needs of the ministries, gives his different gifts for the welfare of the Church." The unity of the Mystical Body produces and stimulates charity among the faithful: "From this it follows that if one member suffers anything, all the members suffer with him, and if one member is honored, all the members together rejoice." Finally, the unity of the Mystical Body triumphs over all human divisions: "For as many of you as were baptized into Christ have put on Christ. There is neither Jew nor Greek, there is neither slave nor free, there is neither male nor female; for you are all one in Christ Jesus."

792

Đức Kitô là “Đầu của Thân Thể, nghĩa là Đầu của Hội Thánh” (Cl 1,18). Người là Nguyên Lý của cả công trình tạo dựng và công trình cứu chuộc. Khi được siêu thăng vào trong vinh quang của Chúa Cha, “Người đứng hàng đầu trong mọi sự” (Cl 1,18), nhất là trong Hội Thánh, và qua Hội Thánh, Người mở rộng Nước của Người trên mọi sự.

Christ "is the head of the body, the Church." He is the principle of creation and redemption. Raised to the Father's glory, "in everything he (is) preeminent," especially in the Church, through whom he extends his reign over all things.

793

Chính Người kết hợp chúng ta với cuộc Vượt Qua của Người: Mọi chi thể phải trở nên giống như Người “cho đến khi Đức Kitô được hình thành” nơi họ (Gl 4,19). “Chính vì thế, chúng ta... được đảm nhận lấy các mầu nhiệm của cuộc đời Người, hiệp thông với những đau khổ của Người như thân thể hiệp thông với Đầu, cùng chịu đau khổ với Người, để cùng được tôn vinh với Người.”

Christ unites us with his Passover: all his members must strive to resemble him, "until Christ be formed" in them. "For this reason we . . . are taken up into the mysteries of his life, . . . associated with his sufferings as the body with its head, suffering with him, that with him we may be glorified."

794

Chính Người làm cho chúng ta được tăng trưởng: Để làm cho chúng ta tăng trưởng trong Người, là Đầu của chúng ta, Đức Kitô phân phối các hồng ân và các thừa tác vụ trong Thân Thể Người là Hội Thánh, nhờ đó chúng ta giúp đỡ lẫn nhau trên con đường cứu độ.

Christ provides for our growth: to make us grow toward him, our head, he provides in his Body, the Church, the gifts and assistance by which we help one another along the way of salvation.

795

Vì vậy, Đức Kitô và Hội Thánh là “Đức Kitô toàn thể” (Christus totus). Hội Thánh là một với Đức Kitô. Các Thánh ý thức một cách rất sống động về sự hợp nhất này: “Vậy chúng ta hãy vui mừng và cảm tạ, vì không những chúng ta trở thành Kitô hữu, mà còn trở thành chính Đức Kitô. Thưa anh em, anh em có hiểu ân sủng của Thiên Chúa, Đấng là Đầu, trên chúng ta không? Anh em hãy cảm phục và vui mừng: chúng ta được trở thành Đức Kitô. Quả vậy, nếu Người là Đầu và chúng ta là chi thể, thì con người toàn thể (totus homo) chính là Người và chúng ta... Vậy sự viên mãn của Đức Kitô, là Đầu và các chi thể. Nhưng Đầu và các chi thể là gì? Đó là Đức Kitô và Hội Thánh.” “Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã tỏ cho thấy, Người cùng với Hội Thánh mà Người đã đảm nhận, là như một người duy nhất.” “Đầu và các chi thể là như một người huyền nhiệm duy nhất.” Một câu nói của thánh nữ Gioanna xứ Arc (Jean d’Arc) trước tòa án tóm tắt đức tin của các Thánh tiến sĩ và cũng diễn tả lương tri của tín hữu: “Về Chúa chúng ta và Hội Thánh thì tôi nghĩ cả hai chỉ là một, không phải rắc rối làm gì.”

Christ and his Church thus together make up the "whole Christ" (Christus totus). the Church is one with Christ. the saints are acutely aware of this unity:

796

Sự hợp nhất giữa Đức Kitô và Hội Thánh, giữa Đầu và các chi thể của Thân Thể, cũng bao hàm sự phân biệt giữa hai bên trong một tương quan cá vị. Khía cạnh này thường được diễn tả bằng hình ảnh phu quân và hiền thê. Đề tài Đức Kitô phu quân của Hội Thánh đã được các Tiên tri chuẩn bị và ông Gioan Tẩy Giả loan báo. Chính Chúa cũng tự xưng như là “chàng rể” (Mc 2,19). Thánh Tông Đồ trình bày Hội Thánh và mỗi tín hữu, chi thể của Thân Thể Người, như là Hiền Thê “được kết hôn” với Chúa Kitô để nên một Thần Khí với Người. Hội Thánh là Hiền Thê tinh tuyền của Con Chiên tinh tuyền, mà Đức Kitô đã yêu thương, Người đã hiến mạng sống mình vì Hội Thánh “để thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh” (Ep 5,26), Người liên kết Hội Thánh với mình bằng một giao ước vĩnh cửu, và không ngừng chăm sóc Hội Thánh như thân thể riêng của Người: “Đây là Đức Kitô toàn thể, gồm Đầu và thân thể, và là một do bởi nhiều người... Vậy hoặc là đầu nói, hoặc là các chi thể nói, thì đều là Đức Kitô nói: Người nói trong cương vị là Đầu (ex persona capitis), và Người nói trong cương vị là Thân Thể (ex persona corporis). Nhưng nói gì? ‘Cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh’ (Ep 5,31-32). Và chính Chúa cũng nói trong Tin Mừng: “Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mt 19,6). Vậy như anh em đã biết, thật sự thì có hai người, nhưng cả hai đã nên một khi thành vợ thành chồng... Với tư cách là Đầu, Người tự xưng là ‘Phu quân’; với tư cách là Thân Thể, Người tự xưng là ‘Hiền thê’” .

The unity of Christ and the Church, head and members of one Body, also implies the distinction of the two within a personal relationship. This aspect is often expressed by the image of bridegroom and bride. the theme of Christ as Bridegroom of the Church was prepared for by the prophets and announced by John the Baptist. The Lord referred to himself as the "bridegroom." The Apostle speaks of the whole Church and of each of the faithful, members of his Body, as a bride "betrothed" to Christ the Lord so as to become but one spirit with him. The Church is the spotless bride of the spotless Lamb. "Christ loved the Church and gave himself up for her, that he might sanctify her." He has joined her with himself in an everlasting covenant and never stops caring for her as for his own body:

797

“Tinh thần hay linh hồn chúng ta tương quan với các chi thể thế nào, thì Chúa Thánh Thần cũng như thế đối với các chi thể của Đức Kitô, đối với Thân Thể Đức Kitô là Hội Thánh.” “Cũng phải quy về Thần Khí của Đức Kitô, như về một nguyên lý không hữu hình, việc tất cả các phần của Thân Thể được kết hợp với nhau, cũng như với Đầu cao trọng của mình, vì Thần Khí hiện diện trọn vẹn nơi Đầu, trọn vẹn nơi Thân Thể, trọn vẹn nơi mỗi một chi thể.” Chúa Thánh Thần làm cho Hội Thánh trở nên “Đền thờ của Thiên Chúa hằng sống” (2 Cr 6,16): “Quả vậy, hồng ân của Thiên Chúa đã được ủy thác cho Hội Thánh... và sự hiệp thông của Đức Kitô đã được ký thác cho Hội Thánh, đó là Chúa Thánh Thần, Ngài là bảo chứng của sự bất diệt, là sức mạnh củng cố đức tin của chúng ta và là chiếc thang đưa chúng ta lên tới Thiên Chúa... Quả vậy, ở đâu có Hội Thánh, thì ở đó có Thần Khí của Thiên Chúa; và ở đâu có Thần Khí của Thiên Chúa, thì ở đó có Hội Thánh và mọi ân sủng.”

"What the soul is to the human body, the Holy Spirit is to the Body of Christ, which is the Church." "To this Spirit of Christ, as an invisible principle, is to be ascribed the fact that all the parts of the body are joined one with the other and with their exalted head; for the whole Spirit of Christ is in the head, the whole Spirit is in the body, and the whole Spirit is in each of the members." The Holy Spirit makes the Church "the temple of the living God":

798

Chúa Thánh Thần là “nguyên lý của mọi hành động tác sinh và thật sự có giá trị cứu độ trong mỗi phần của Thân Thể.” Ngài hoạt động bằng nhiều cách để xây dựng toàn thân trong đức mến: bằng Lời Thiên Chúa là “Lời có sức xây dựng” (Cv 20,32); bằng bí tích Rửa Tội nhờ đó Ngài làm nên Thân Thể Đức Kitô; bằng các bí tích giúp cho các chi thể của Đức Kitô được tăng trưởng và được chữa lành; bằng ân sủng của các Tông Đồ, là điều trổi vượt trong các hồng ân của Ngài; bằng các nhân đức, giúp các tín hữu hành động theo sự lành, và cuối cùng bằng nhiều ân sủng đặc biệt (được gọi là “các đặc sủng”) giúp các tín hữu “có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và phận vụ khác nhau, để mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Hội Thánh.”

The Holy Spirit is "the principle of every vital and truly saving action in each part of the Body." He works in many ways to build up the whole Body in charity: by God's Word "which is able to build you up"; by Baptism, through which he forms Christ's Body; by the sacraments, which give growth and healing to Christ's members; by "the grace of the apostles, which holds first place among his gifts"; by the virtues, which make us act according to what is good; finally, by the many special graces (called "charisms"), by which he makes the faithful "fit and ready to undertake various tasks and offices for the renewal and building up of the Church."

799

Các đặc sủng, hoặc ngoại thường hoặc đơn giản và khiêm tốn, là những ân sủng của Chúa Thánh Thần, đều hữu ích cho Hội Thánh cách trực tiếp hay gián tiếp, theo mức độ các đặc sủng đó quy về việc xây dựng Hội Thánh, về việc mưu ích cho con người và về những nhu cầu của trần gian.

Whether extraordinary or simple and humble, charisms are graces of the Holy Spirit which directly or indirectly benefit the Church, ordered as they are to her building up, to the good of men, and to the needs of the world.

800

Các đặc sủng phải được đón nhận với lòng biết ơn, không những bởi người lãnh nhận các đặc sủng đó, mà còn bởi tất cả các phần tử của Hội Thánh. Đó là sự phong phú thật kỳ diệu của ân sủng cho sức sống tông đồ và cho sự thánh thiện của toàn Thân Thể Đức Kitô; miễn là đó phải là những hồng ân thật sự xuất phát bởi Chúa Thánh Thần, và được thực thi hoàn toàn phù hợp với những thúc đẩy đích thực của Ngài, nghĩa là theo đức mến, là thước đo thật của các đặc sủng.

Charisms are to be accepted with gratitude by the person who receives them and by all members of the Church as well. They are a wonderfully rich grace for the apostolic vitality and for the holiness of the entire Body of Christ, provided they really are genuine gifts of the Holy Spirit and are used in full conformity with authentic promptings of this same Spirit, that is, in keeping with charity, the true measure of all charisms.

801

Theo nghĩa này, rõ ràng là sự phân định các đặc sủng luôn luôn là cần thiết. Không có đặc sủng nào được miễn khỏi tương quan với và quy phục các Mục tử của Hội Thánh. Các ngài “có thẩm quyền đặc biệt, không phải để dập tắt Thần Khí, nhưng phải thử thách tất cả và giữ lại điều gì là tốt”, để tất cả các đặc sủng, trong sự khác biệt và bổ sung lẫn nhau, cùng cộng tác “vì lợi ích chung” (1 Cr 12,7).

It is in this sense that discernment of charisms is always necessary. No charism is exempt from being referred and submitted to the Church's shepherds. "Their office (is) not indeed to extinguish the Spirit, but to test all things and hold fast to what is good," so that all the diverse and complementary charisms work together "for the common good."

802

Chúa Giêsu Kitô “đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành dân riêng của Người” (Tt 2,14).

Christ Jesus "gave himself for us to redeem us from all iniquity and to purify for himself a people of his own" (Titus 2:14).

803

“Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa” (1 Pr 2,9).

"You are a chosen race, a royal priesthood, a holy nation, God's own people" (1 Pet 2:9).

804

Chúng ta gia nhập dân Thiên Chúa nhờ đức tin và nhờ bí tích Rửa Tội. “Tất cả mọi người đều được kêu gọi gia nhập dân mới của Thiên Chúa”, để trong Đức Kitô “người ta làm thành một gia đình duy nhất và một dân duy nhất của Thiên Chúa.”

One enters into the People of God by faith and Baptism. "All men are called to belong to the new People of God" (LG 13), so that, in Christ, "men may form one family and one People of God" (AG 1).

805

Hội Thánh là Thân Thể của Đức Kitô. Nhờ Thần Khí và nhờ hành động của Ngài trong các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, Đức Kitô, Đấng đã chết và đã sống lại, làm cho cộng đoàn các tín hữu nên Thân Thể của Người.

The Church is the Body of Christ. Through the Spirit and his action in the sacraments, above all the Eucharist, Christ, who once was dead and is now risen, establishes the community of believers as his own Body.

806

Trong sự hợp nhất của Thân Thể này, có sự đa dạng của các chi thể và các chức năng. Tất cả các chi thể đều được liên kết với nhau, nhất là với những người đau khổ, những người nghèo và những người bị bách hại.

In the unity of this Body, there is a diversity of members and functions. All members are linked to one another, especially to those who are suffering, to the poor and persecuted.

807

Hội Thánh là một Thân Thể có Đức Kitô là Đầu: Hội Thánh sống do Người, trong Người, và cho Người; chính Người sống với Hội Thánh và trong Hội Thánh.

The Church is this Body of which Christ is the head: she lives from him, in him, and for him; he lives with her and in her.

808

Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô: Người đã yêu mến Hội Thánh và đã nộp mình vì Hội Thánh. Người đã thanh tẩy Hội Thánh bằng Máu Người. Người làm cho Hội Thánh trở thành Mẹ, sinh ra tất cả các con cái của Thiên Chúa.

The Church is the Bride of Christ: he loved her and handed himself over for her. He has purified her by his blood and made her the fruitful mother of all God's children.

809

Hội Thánh là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần. Thần Khí là như linh hồn của Nhiệm Thể, là nguyên lý của sự sống của Nhiệm Thể, nguyên lý của sự hợp nhất trong khác biệt, nguyên lý của sự phong phú các hồng ân và đặc sủng của Nhiệm Thể.

The Church is the Temple of the Holy Spirit. the Spirit is the soul, as it were, of the Mystical Body, the source of its life, of its unity in diversity, and of the riches of its gifts and charisms.

810

“Như vậy, Hội Thánh phổ quát xuất hiện như một dân được quy tụ trong sự hợp nhất của Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.”

"Hence the universal Church is seen to be 'a people brought into unity from the unity of the Father, the Son, and the Holy Spirit'" (LG 4 citing St. Cyprian, De Dom. orat. 23: PL 4, 553).