“Các Kitô hữu là những người, được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ phép Rửa Tội, được thiết lập thành dân Thiên Chúa, và do đó được tham dự, theo cách của mình, vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Đức Kitô, được kêu gọi, tùy theo điều kiện riêng của mỗi người, để thực thi sứ vụ mà Thiên Chúa đã ủy thác cho Hội Thánh phải hoàn thành trong trần gian.”
"The Christian faithful are those who, inasmuch as they have been incorporated in Christ through Baptism, have been constituted as the people of God; for this reason, since they have become sharers in Christ's priestly, prophetic, and royal office in their own manner, they are called to exercise the mission which God has entrusted to the Church to fulfill in the world, in accord with the condition proper to each one."
“Giữa tất cả các Kitô hữu, do việc họ được tái sinh trong Đức Kitô, có sự bình đẳng thật sự về phẩm giá và hành động, nhờ đó, tất cả mọi người, tùy theo địa vị và nhiệm vụ riêng của mỗi người, cộng tác vào việc xây dựng Thân Thể Đức Kitô.”
"In virtue of their rebirth in Christ there exists among all the Christian faithful a true equality with regard to dignity and the activity whereby all cooperate in the building up of the Body of Christ in accord with each one's own condition and function."
Chính những khác biệt Chúa đã muốn đặt giữa các chi thể của Thân Thể Người, phục vụ cho sự hợp nhất và cho sứ vụ của Thân Thể Người. “Bởi vì trong Hội Thánh có nhiều thừa tác vụ khác nhau nhưng đều cùng chung một sứ vụ. Nhiệm vụ được Đức Kitô trao phó cho các Tông Đồ và những vị kế nhiệm các ngài là nhân danh Người và lấy quyền Người mà giảng dạy, thánh hóa và cai quản. Còn các giáo dân, những người được tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Đức Kitô, chu toàn những phần việc của mình trong sứ vụ của toàn dân Thiên Chúa trong Hội Thánh và trong trần gian.” Cuối cùng, “trong cả hai thành phần này [phẩm trật và giáo dân], có những Kitô hữu, qua việc tuyên giữ những lời khuyên Phúc Âm..., được thánh hiến cách đặc biệt cho Thiên Chúa, và làm ích cho sứ vụ cứu độ của Hội Thánh.”
The very differences which the Lord has willed to put between the members of his body serve its unity and mission. For "in the Church there is diversity of ministry but unity of mission. To the apostles and their successors Christ has entrusted the office of teaching, sanctifying and governing in his name and by his power. But the laity are made to share in the priestly, prophetical, and kingly office of Christ; they have therefore, in the Church and in the world, their own assignment in the mission of the whole People of God." Finally, "from both groups [hierarchy and laity] there exist Christian faithful who are consecrated to God in their own special manner and serve the salvific mission of the Church through the profession of the evangelical counsels."
Chính Đức Kitô là nguồn mạch của thừa tác vụ trong Hội Thánh. Chính Người đã thiết lập thừa tác vụ, và trao ban thẩm quyền, sứ vụ, phương hướng và mục đích cho thừa tác vụ trong Hội Thánh: “Để dân Thiên Chúa được chăn dắt và luôn được tăng trưởng, Chúa Kitô đã thiết lập các thừa tác vụ khác nhau trong Hội Thánh của Người hầu mưu ích cho toàn thân. Thật vậy, các thừa tác viên, những người sử dụng quyền thánh chức, phục vụ các anh chị em mình, để mọi người thuộc dân Thiên Chúa... đạt tới ơn cứu độ.”
Christ is himself the source of ministry in the Church. He instituted the Church. He gave her authority and mission, orientation and goal:
“Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?” (Rm 10,14-15). Không có ai, không có cá nhân nào hay cộng đoàn nào, có thể tự loan báo Tin Mừng cho chính mình. “Có đức tin là nhờ nghe giảng” (Rm 10,17). Không ai có thể tự ban cho mình lệnh truyền và sứ vụ loan báo Tin Mừng. Người được Chúa sai đi nói và hành động không phải do quyền bính riêng, nhưng do sức mạnh quyền bính của Đức Kitô; người đó nói với cộng đoàn không phải với tư cách là một thành viên của cộng đoàn, nhưng nhân danh Đức Kitô. Không ai có thể tự ban cho mình ân sủng, ân sủng phải được ban tặng. Điều này giả thiết phải có những thừa tác viên của ân sủng, được Đức Kitô ban cho quyền bính và tư cách. Từ nơi Đức Kitô, các Giám mục và linh mục lãnh nhận sứ vụ và khả năng (“quyền thánh chức”) để hành động trong cương vị Đức Kitô là Đầu (in persona Christi Capitis), còn các phó tế lãnh nhận sức mạnh phục vụ dân Thiên Chúa, qua “việc phục vụ” Lời Chúa, phụng vụ và việc bác ái, trong sự hiệp thông với Giám mục và hàng linh mục của ngài. Thừa tác vụ này, trong đó những người được Đức Kitô sai đi nhờ hồng ân Thiên Chúa, thực hiện và ban tặng những gì họ không thể tự thực hiện và ban tặng cho chính mình, được truyền thống Hội Thánh gọi là “bí tích.” Thừa tác vụ của Hội Thánh được trao ban qua một bí tích riêng.
"How are they to believe in him of whom they have never heard? and how are they to hear without a preacher? and how can men preach unless they are sent?" No one - no individual and no community - can proclaim the Gospel to himself: "Faith comes from what is heard." No one can give himself the mandate and the mission to proclaim the Gospel. the one sent by the Lord does not speak and act on his own authority, but by virtue of Christ's authority; not as a member of the community, but speaking to it in the name of Christ. No one can bestow grace on himself; it must be given and offered. This fact presupposes ministers of grace, authorized and empowered by Christ. From him, they receive the mission and faculty ("the sacred power") to act in persona Christi Capitis. the ministry in which Christ's emissaries do and give by God's grace what they cannot do and give by their own powers, is called a "sacrament" by the Church's tradition. Indeed, the ministry of the Church is conferred by a special sacrament.
Được gắn liền cách nội tại với bản chất bí tích của thừa tác vụ của Hội Thánh là đặc tính phục vụ (indoles servitii) của thừa tác vụ đó. Thật vậy, các thừa tác viên hoàn toàn tùy thuộc Đức Kitô là Đấng trao sứ vụ và thẩm quyền, nên họ thật sự là “những nô lệ của Đức Kitô”, theo gương Đức Kitô, Đấng đã tự nguyện nhận lấy “thân nô lệ” (Pl 2,7) vì chúng ta. Bởi vì lời và ân sủng mà họ là thừa tác viên, không phải là của họ, nhưng là của Đức Kitô, Đấng đã ủy thác cho họ vì những người khác, nên họ đã tự nguyện trở thành nô lệ của mọi người.
Intrinsically linked to the sacramental nature of ecclesial ministry is its character as service. Entirely dependent on Christ who gives mission and authority, ministers are truly "slaves of Christ," in the image of him who freely took "the form of a slave" for us. Because the word and grace of which they are ministers are not their own, but are given to them by Christ for the sake of others, they must freely become the slaves of all.
Cũng vậy, do bản chất bí tích của thừa tác vụ trong Hội Thánh, nên thừa tác vụ đó có đặc tính tập thể (indolem collegialem). Thật vậy, Chúa Giêsu, từ lúc khởi đầu thừa tác vụ của mình, đã thiết lập nhóm Mười Hai, “mầm mống của dân Ítraen mới, đồng thời là nguồn gốc của phẩm trật có chức thánh.” Cùng được tuyển chọn một trật, và cùng được sai đi một trật, sự hợp nhất huynh đệ của các ngài sẽ phục vụ sự hiệp thông huynh đệ của tất cả các tín hữu; sự hiệp thông này sẽ là phản ảnh và làm chứng cho sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì vậy, Giám mục nào cũng thực thi thừa tác vụ của mình trong Giám mục đoàn, trong sự hiệp thông với Giám mục Rôma là vị kế nhiệm thánh Phêrô và là đầu của Giám mục đoàn; các linh mục thực thi thừa tác vụ của mình trong linh mục đoàn giáo phận, dưới sự hướng dẫn của Giám mục của mình.
Likewise, it belongs to the sacramental nature of ecclesial ministry that it have a collegial character. In fact, from the beginning of his ministry, the Lord Jesus instituted the Twelve as "the seeds of the new Israel and the beginning of the sacred hierarchy." Chosen together, they were also sent out together, and their fraternal unity would be at the service of the fraternal communion of all the faithful: they would reflect and witness to the communion of the divine persons. For this reason every bishop exercises his ministry from within the episcopal college, in communion with the bishop of Rome, the successor of St. Peter and head of the college. So also priests exercise their ministry from within the presbyterium of the diocese, under the direction of their bishop.
Sau cùng, do bản chất bí tích của thừa tác vụ trong Hội Thánh, nên thừa tác vụ đó có đặc tính cá vị (indolem personalem). Nếu các thừa tác viên của Đức Kitô hành động trong sự hiệp thông, thì họ cũng luôn luôn hành động cách cá vị. Mỗi người được kêu gọi cách cá vị: “Phần anh, hãy theo Thầy” (Ga 21,22), để, trong sứ vụ chung, người đó phải là một chứng nhân cá vị, khi lãnh trách nhiệm cách cá vị trước mặt Đấng trao ban sứ vụ, và khi hành động “trong cương vị của Người” (“in Eius persona”) hầu phục vụ các nhân vị: “Tôi rửa anh nhân danh Cha...”; “Tôi tha tội cho anh...”
Finally, it belongs to the sacramental nature of ecclesial ministry that it have a personal character. Although Chnst's ministers act in communion with one another, they also always act in a personal way. Each one is called personally: "You, follow me" in order to be a personal witness within the common mission, to bear personal responsibility before him who gives the mission, acting "in his person" and for other persons: "I baptize you in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit ..."; "I absolve you...."
Vì vậy, thừa tác vụ bí tích trong Hội Thánh là một việc phục vụ được thực thi nhân danh Đức Kitô. Thừa tác vụ đó có đặc tính cá vị và hình thức tập đoàn. Điều đó được thể hiện trong những mối liên hệ giữa Giám mục đoàn và đầu Giám mục đoàn, là vị kế nhiệm thánh Phêrô, và trong tương quan giữa trách nhiệm mục vụ của Giám mục đối với giáo phận của mình và sự quan tâm chung của Giám mục đoàn đối với Hội Thánh phổ quát.
Sacramental ministry in the Church, then, is at once a collegial and a personal service, exercised in the name of Christ. This is evidenced by the bonds between the episcopal college and its head, the successor of St. Peter, and in the relationship between the bishop's pastoral responsibility for his particular church and the common solicitude of the episcopal college for the universal Church.
“Đức Kitô, khi thành lập nhóm Mười Hai, đã thiết lập các ông theo cách thức một tập thể, một nhóm bền vững; Người đã đặt ông Phêrô, được chọn trong số họ, đứng đầu tập thể đó.” “Cũng như do Chúa thiết lập, thánh Phêrô và các Tông Đồ khác lập thành một Tông Đồ Đoàn, thì Giám mục Rôma, vị kế nhiệm thánh Phêrô và các Giám mục, những người kế nhiệm các Tông Đồ, cũng được kết hợp với nhau như vậy.”
When Christ instituted the Twelve, "he constituted [them] in the form of a college or permanent assembly, at the head of which he placed Peter, chosen from among them." Just as "by the Lord's institution, St. Peter and the rest of the apostles constitute a single apostolic college, so in like fashion the Roman Pontiff, Peter's successor, and the bishops, the successors of the apostles, are related with and united to one another."
Chúa đã đặt một mình ông Simon, mà Người đặt tên là Phêrô, làm đá tảng của Hội Thánh Người. Người đã trao cho ông các chìa khóa của Hội Thánh; và đặt ông làm mục tử của toàn thể đoàn chiên. “Tuy nhiên, nhiệm vụ tháo gỡ và cầm buộc, đã được ban cho ông Phêrô, rõ ràng cũng đã được trao ban cho Tông Đồ đoàn, hợp nhất với đầu của mình.” Nhiệm vụ mục tử này của thánh Phêrô và của các Tông Đồ khác thuộc về nền móng của Hội Thánh. Nhiệm vụ đó được tiếp tục bởi các Giám mục dưới quyền tối thượng của Giám mục Rôma.
The Lord made Simon alone, whom he named Peter, the "rock" of his Church. He gave him the keys of his Church and instituted him shepherd of the whole flock. "The office of binding and loosing which was given to Peter was also assigned to the college of apostles united to its head." This pastoral office of Peter and the other apostles belongs to the Church's very foundation and is continued by the bishops under the primacy of the Pope.
Đức Giáo Hoàng, là Giám mục Rôma và vị kế nhiệm thánh Phêrô, “là nguyên lý và nền tảng hữu hình và trường tồn của sự hợp nhất, cả của cộng đoàn các Giám mục, cả của cộng đoàn các tín hữu.” “Thật vậy, do nhiệm vụ của mình là Đại diện Đức Kitô và Mục tử của toàn thể Hội Thánh, Giám mục Rôma có quyền trọn vẹn, tối cao và phổ quát trong Hội Thánh và ngài luôn có quyền tự ý thực thi thẩm quyền đó.”
The Pope, Bishop of Rome and Peter's successor, "is the perpetual and visible source and foundation of the unity both of the bishops and of the whole company of the faithful." "For the Roman Pontiff, by reason of his office as Vicar of Christ, and as pastor of the entire Church has full, supreme, and universal power over the whole Church, a power which he can always exercise unhindered."
“Giám mục đoàn không có thẩm quyền, nếu không kết hợp với Giám mục Rôma là thủ lãnh của họ.” Như vậy, Giám mục đoàn “cũng có quyền trọn vẹn và tối cao trong Hội Thánh phổ quát, nhưng chỉ có thể thi hành thẩm quyền này với sự ưng thuận của Giám mục Rôma.”
"The college or body of bishops has no authority unless united with the Roman Pontiff, Peter's successor, as its head." As such, this college has "supreme and full authority over the universal Church; but this power cannot be exercised without the agreement of the Roman Pontiff."
“Giám mục đoàn thực thi thẩm quyền trong Hội Thánh phổ quát một cách trọng thể trong Công đồng chung.” “Nhưng không bao giờ có thể có Công đồng chung, nếu không được vị kế nhiệm thánh Phêrô phê chuẩn hay ít ra chấp nhận.”
"The college of bishops exercises power over the universal Church in a solemn manner in an ecumenical council." But "there never is an ecumenical council which is not confirmed or at least recognized as such by Peter's successor."
“Giám mục đoàn vừa diễn tả tính đa dạng và tính phổ quát của dân Thiên Chúa vì gồm nhiều người, vừa diễn tả sự hợp nhất của đoàn chiên của Đức Kitô, vì được tập họp dưới quyền một vị làm đầu.”
"This college, in so far as it is composed of many members, is the expression of the variety and universality of the People of God; and of the unity of the flock of Christ, in so far as it is assembled under one head."
“Mỗi Giám mục là nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hợp nhất trong Giáo Hội địa phương của ngài.” Như vậy, “mỗi Giám mục thực thi quyền mục vụ của mình trên phần dân Thiên Chúa được ủy thác cho mình”, với sự trợ giúp của các linh mục và phó tế. Nhưng, với tư cách là thành viên Giám mục đoàn, mỗi Giám mục tham dự vào sự quan tâm đến tất cả các Giáo Hội, các ngài thực thi sự quan tâm đó trước hết bằng việc “điều hành tốt Giáo Hội riêng như một phần của Hội Thánh phổ quát”, như vậy các ngài “mưu ích cho toàn nhiệm thể, cũng là thân thể của các Giáo Hội.” Mối quan tâm này được đặc biệt hướng đến những người nghèo, những người bị bách hại vì đức tin, cũng như đến các thừa sai đang hoạt động trên toàn trái đất.
"The individual bishops are the visible source and foundation of unity in their own particular Churches." As such, they "exercise their pastoral office over the portion of the People of God assigned to them," assisted by priests and deacons. But, as a member of the episcopal college, each bishop shares in the concern for all the Churches. The bishops exercise this care first "by ruling well their own Churches as portions of the universal Church," and so contributing "to the welfare of the whole Mystical Body, which, from another point of view, is a corporate body of Churches." They extend it especially to the poor, to those persecuted for the faith, as well as to missionaries who are working throughout the world.
Các Giáo Hội địa phương lân cận và có chung nền văn hóa tạo thành những giáo tỉnh, hay những tập thể lớn hơn được gọi là giáo miền hay địa hạt thượng phụ. Các Giám mục của những tập thể này có thể họp Công nghị hay Công đồng giáo tỉnh. “Cũng vậy, ngày nay các Hội đồng Giám mục có thể góp phần một cách đa dạng và phong phú để ý kiến tập đoàn được áp dụng cụ thể.”
Neighboring particular Churches who share the same culture form ecclesiastical provinces or larger groupings called patriarchates or regions. The bishops of these groupings can meet in synods or provincial councils. "In a like fashion, the episcopal conferences at the present time are in a position to contribute in many and fruitful ways to the concrete realization of the collegiate spirit."
Các Giám mục, với các linh mục là những cộng sự viên của ngài, “có nhiệm vụ trước tiên là phải loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa cho mọi người”, theo lệnh truyền của Chúa. Các ngài “là sứ giả của đức tin, dẫn đưa những môn đệ mới đến với Đức Kitô, và là những vị thầy đích thực” “được ban thẩm quyền của Đức Kitô” để giảng dạy đức tin tông truyền.
Bishops, with priests as co-workers, have as their first task "to preach the Gospel of God to all men," in keeping with the Lord's command. They are "heralds of faith, who draw new disciples to Christ; they are authentic teachers" of the apostolic faith "endowed with the authority of Christ."
Đức Kitô, Đấng là chân lý, để gìn giữ Hội Thánh trong đức tin tinh tuyền do các Tông Đồ lưu truyền, đã muốn cho Hội Thánh của Người được tham dự vào sự bất khả ngộ của riêng Người. “Nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin”, dân Thiên Chúa “gắn bó cách kiên vững với đức tin”, dưới sự hướng dẫn của Huấn quyền sống động của Hội Thánh.
In order to preserve the Church in the purity of the faith handed on by the apostles, Christ who is the Truth willed to confer on her a share in his own infallibility. By a "supernatural sense of faith" the People of God, under the guidance of the Church's living Magisterium, "unfailingly adheres to this faith."
Sứ vụ của Huấn quyền gắn liền với tính chất vĩnh viễn của Giao Ước được Thiên Chúa lập với dân Ngài trong Đức Kitô; Huấn quyền phải bảo vệ dân Thiên Chúa khỏi những sai lạc và khiếm khuyết, và bảo đảm cho dân khả năng khách quan để tuyên xưng đức tin chân chính một cách không sai lầm. Như vậy, nhiệm vụ mục tử của Huấn quyền là tỉnh thức lo cho dân Thiên Chúa vững bền trong chân lý, một chân lý có sức giải phóng. Để Huấn quyền hoàn thành nhiệm vụ này, Đức Kitô đã ban cho các mục tử đặc sủng bất khả ngộ trong các vấn đề về đức tin và phong hóa. Việc thực thi đặc sủng này có thể mang những dạng khác nhau:
The mission of the Magisterium is linked to the definitive nature of the covenant established by God with his people in Christ. It is this Magisterium's task to preserve God's people from deviations and defections and to guarantee them the objective possibility of professing the true faith without error. Thus, the pastoral duty of the Magisterium is aimed at seeing to it that the People of God abides in the truth that liberates. To fulfill this service, Christ endowed the Church's shepherds with the charism of infallibility in matters of faith and morals. the exercise of this charism takes several forms:
“Do nhiệm vụ của ngài, Giám mục Rôma, là đầu của Giám mục đoàn, được hưởng ơn bất khả ngộ đó khi, với tư cách là mục tử và thầy dạy tối cao của mọi Kitô hữu, là người củng cố anh em mình trong đức tin, ngài công bố một đạo lý về đức tin hoặc phong hóa bằng một hành vi chung thẩm... Ơn bất khả ngộ được hứa ban cho Hội Thánh cũng có nơi Giám mục đoàn, khi các ngài thực thi Huấn quyền tối thượng cùng với vị kế nhiệm thánh Phêrô”, nhất là trong một Công đồng chung. Khi Hội Thánh dùng Huấn quyền tối thượng để “dạy phải tin một điều gì như là do Thiên Chúa mặc khải” và như là giáo huấn của Đức Kitô, thì người ta “phải gắn bó với những xác quyết đó bằng sự vâng phục của đức tin.” “Kho tàng Mặc khải thần linh trải rộng bao nhiêu, thì ơn bất khả ngộ này trải rộng bấy nhiêu.”
"The Roman Pontiff, head of the college of bishops, enjoys this infallibility in virtue of his office, when, as supreme pastor and teacher of all the faithful - who confirms his brethren in the faith he proclaims by a definitive act a doctrine pertaining to faith or morals.... the infallibility promised to the Church is also present in the body of bishops when, together with Peter's successor, they exercise the supreme Magisterium," above all in an Ecumenical Council. When the Church through its supreme Magisterium proposes a doctrine "for belief as being divinely revealed," and as the teaching of Christ, the definitions "must be adhered to with the obedience of faith." This infallibility extends as far as the deposit of divine Revelation itself.
Ơn trợ giúp thần linh cũng được ban cho các vị kế nhiệm các Tông Đồ khi giáo huấn cùng với vị kế nhiệm thánh Phêrô, và cách riêng cho Giám mục Rôma, Mục tử của toàn thể Hội Thánh, khi các ngài thực thi Huấn quyền thông thường mà dạy một đạo lý giúp hiểu tốt hơn Mặc khải trong các vấn đề về đức tin và phong hóa, dầu các ngài không xác quyết cách bất khả ngộ, hoặc không diễn tả “một cách chung thẩm.” Các Kitô hữu “phải gắn bó với Huấn quyền thông thường này bằng sự vâng phục đạo hạnh của tâm hồn”, sự vâng phục đạo hạnh này, tuy khác biệt với sự ưng thuận của đức tin, nhưng nối dài sự ưng thuận của đức tin.
Divine assistance is also given to the successors of the apostles, teaching in communion with the successor of Peter, and, in a particular way, to the bishop of Rome, pastor of the whole Church, when, without arriving at an infallible definition and without pronouncing in a "definitive manner," they propose in the exercise of the ordinary Magisterium a teaching that leads to better understanding of Revelation in matters of faith and morals. To this ordinary teaching the faithful "are to adhere to it with religious assent" which, though distinct from the assent of faith, is nonetheless an extension of it.
Giám mục cũng là “người phục vụ ân sủng của chức tư tế tối cao”, nhất là trong bí tích Thánh Thể do chính ngài dâng và ngài bảo đảm việc hiến dâng nhờ các linh mục, là các cộng sự viên của ngài. Thật vậy, bí tích Thánh Thể là tâm điểm của đời sống Giáo hội địa phương. Giám mục và các linh mục thánh hóa Giáo hội bằng kinh nguyện và việc làm của mình, nhờ thừa tác vụ Lời Chúa và các bí tích. Các ngài thánh hóa Giáo Hội nhờ gương mẫu của mình, “đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (1 Pr 5,3). Như vậy, “cùng với đoàn chiên được ủy thác cho mình, các ngài có thể đạt tới sự sống vĩnh cửu.”
The bishop is "the steward of the grace of the supreme priesthood," especially in the Eucharist which he offers personally or whose offering he assures through the priests, his co-workers. the Eucharist is the center of the life of the particular Church. the bishop and priests sanctify the Church by their prayer and work, by their ministry of the word and of the sacraments. They sanctify her by their example, "not as domineering over those in your charge but being examples to the flock." Thus, "together with the flock entrusted to them, they may attain to eternal life."
“Như vị đại diện và sứ giả của Đức Kitô, các Giám mục cai quản các Giáo Hội địa phương được trao phó cho mình bằng những lời khuyên bảo, khích lệ, gương sáng của mình, và cũng bằng thẩm quyền và và quyền thánh chức”, mà các ngài phải thực thi để xây dựng trong tinh thần phục vụ, là tinh thần của Thầy mình.
"The bishops, as vicars and legates of Christ, govern the particular Churches assigned to them by their counsels, exhortations, and example, but over and above that also by the authority and sacred power" which indeed they ought to exercise so as to edify, in the spirit of service which is that of their Master.
“Quyền năng này, mà các ngài thi hành một cách cá vị, nhân danh Đức Kitô, là một quyền năng riêng, thông thường và trực tiếp; tuy việc thực thi quyền này cuối cùng phải được hướng dẫn bởi thẩm quyền tối cao của Hội Thánh.” Nhưng không được coi các Giám mục như những đại diện của Giám mục Rôma: thẩm quyền thông thường và trực tiếp của vị này trên toàn Hội Thánh không hủy bỏ, nhưng trái lại, củng cố và bảo vệ thẩm quyền của các Giám mục. Thẩm quyền này phải được thực thi trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh dưới sự hướng dẫn của Giám mục Rôma.
"The power which they exercise personally in the name of Christ, is proper, ordinary, and immediate, although its exercise is ultimately controlled by the supreme authority of the Church." But the bishops should not be thought of as vicars of the Pope. His ordinary and immediate authority over the whole Church does not annul, but on the contrary confirms and defends that of the bishops. Their authority must be exercised in communion with the whole Church under the guidance of the Pope.
Vị Mục Tử nhân lành phải là gương mẫu và “khuôn mẫu” cho nhiệm vụ mục tử của Giám mục. Ý thức về những yếu đuối của mình, Giám mục “có thể cảm thông với những ai dốt nát và lầm lạc. Ngài không nên từ chối lắng nghe những kẻ thuộc quyền, mà ngài ân cần săn sóc như những người con thật của mình... Còn các tín hữu phải gắn bó với Giám mục của mình như Hội Thánh gắn bó với Chúa Giêsu Kitô và như Chúa Giêsu Kitô gắn bó với Chúa Cha.” “Tất cả anh em hãy vâng phục Giám mục, như Chúa Giêsu Kitô vâng phục Chúa Cha; hãy vâng phục linh mục đoàn như vâng phục các Tông Đồ; và hãy kính trọng các phó tế như kính trọng lệnh truyền của Chúa. Chớ gì không ai làm điều gì có liên quan đến Hội Thánh một cách tách biệt với Giám mục.”
The Good Shepherd ought to be the model and "form" of the bishop's pastoral office. Conscious of his own weaknesses, "the bishop . . . can have compassion for those who are ignorant and erring. He should not refuse to listen to his subjects whose welfare he promotes as of his very own children.... the faithful ... should be closely attached to the bishop as the Church is to Jesus Christ, and as Jesus Christ is to the Father":
“Danh xưng giáo dân ở đây được dùng để chỉ tất cả các Kitô hữu trừ những thành viên có chức thánh và bậc tu trì đã được Hội Thánh công nhận, nghĩa là các Kitô hữu, đã được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ phép Rửa Tội, đã được thiết đặt vào dân Thiên Chúa, được tham dự vào nhiệm vụ tư tế, tiên tri và vương đế của Đức Kitô theo cách thức của mình, theo phần vụ của mình mà thực thi sứ vụ của toàn dân Kitô Giáo trong Hội Thánh và trên trần gian.”
"The term 'laity' is here understood to mean all the faithful except those in Holy Orders and those who belong to a religious state approved by the Church. That is, the faithful, who by Baptism are incorporated into Christ and integrated into the People of God, are made sharers in their particular way in the priestly, prophetic, and kingly office of Christ, and have their own part to play in the mission of the whole Christian people in the Church and in the World."
“Ơn gọi riêng của các giáo dân là tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng việc quản trị và sắp xếp các thực tại trần gian theo ý Thiên Chúa... Vậy một cách đặc biệt, nhiệm vụ của họ là phải soi sáng và sắp xếp thế nào, để các thực tại trần gian, vốn liên kết mật thiết với họ, không ngừng được thực hiện và phát triển theo Đức Kitô, để ca ngợi Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc.”
"By reason of their special vocation it belongs to the laity to seek the kingdom of God by engaging in temporal affairs and directing them according to God's will.... It pertains to them in a special way so to illuminate and order all temporal things with which they are closely associated that these may always be effected and grow according to Christ and maybe to the glory of the Creator and Redeemer."
Các sáng kiến của các Kitô hữu giáo dân là đặc biệt cần thiết khi phải khám phá và phát minh ra những phương tiện để đem các đòi hỏi của đạo lý và đời sống Kitô Giáo thấm nhập vào các thực tại xã hội, chính trị và kinh tế. Các sáng kiến này là một yếu tố bình thường của đời sống Hội Thánh: “Các Kitô hữu, và cụ thể hơn, là các giáo dân, đứng ở tuyến đầu của đời sống Hội Thánh; nhờ họ, Hội Thánh là nguyên lý sống động của xã hội nhân loại. Vì vậy, họ đặc biệt phải luôn ý thức rõ ràng hơn rằng không những họ thuộc về Hội Thánh, mà họ còn là Hội Thánh, nghĩa là, là cộng đoàn các Kitô hữu trên trần thế dưới sự hướng dẫn của vị làm đầu chung là Giám mục Rôma, và của các Giám mục hiệp thông với ngài. Họ là Hội Thánh.”
The initiative of lay Christians is necessary especially when the matter involves discovering or inventing the means for permeating social, political, and economic realities with the demands of Christian doctrine and life. This initiative is a normal element of the life of the Church:
Bởi vì việc tông đồ đã được Thiên Chúa trao phó cho họ, cũng như cho mọi Kitô hữu khác, qua bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, nên các giáo dân có bổn phận và có quyền lợi làm việc, hoặc một cách cá nhân, hoặc được quy tụ trong các hiệp hội, để sứ điệp cứu độ của Thiên Chúa được mọi người ở khắp trái đất nhận biết và đón nhận; nghĩa vụ này còn khẩn cấp hơn khi chỉ nhờ họ, người ta mới có thể được nghe Tin Mừng và nhận biết Đức Kitô. Hành động của họ trong các cộng đoàn Hội Thánh là hết sức cần thiết, đến nỗi nếu không có hành động đó, thì việc tông đồ của các mục tử thường không thể đạt được hiệu quả đầy đủ.
Since, like all the faithful, lay Christians are entrusted by God with the apostolate by virtue of their Baptism and Confirmation, they have the right and duty, individually or grouped in associations, to work so that the divine message of salvation may be known and accepted by all men throughout the earth. This duty is the more pressing when it is only through them that men can hear the Gospel and know Christ. Their activity in ecclesial communities is so necessary that, for the most part, the apostolate of the pastors cannot be fully effective without it. The participation of lay people in Christ's priestly office
“Các giáo dân, vì đã được thánh hiến cho Đức Kitô và được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần, được kêu gọi và được chuẩn bị cách kỳ diệu để Thần Khí luôn mang lại những hoa trái dồi dào hơn nơi họ. Thật vậy, tất cả các công việc của họ, những lời cầu nguyện và việc dấn thân làm tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, việc lao động hằng ngày, việc thư giãn tinh thần và thể xác, nếu được thực hiện trong Thần Khí, và cả những khó khăn trong cuộc sống nếu được chịu đựng cách kiên nhẫn, thì tất cả đều trở nên những hiến lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô (x. 1 Pr 2,5), những hiến lễ đó được dâng lên Chúa Cha một cách rất thành kính, khi cử hành Thánh lễ, cùng với lễ vật là Mình Thánh Chúa. Như vậy, các giáo dân, với tư cách là những người tôn thờ bằng hành động một cách thánh thiện ở khắp nơi, cũng dâng chính trần gian lên Thiên Chúa.”
"Hence the laity, dedicated as they are to Christ and anointed by the Holy Spirit, are marvellously called and prepared so that even richer fruits of the Spirit maybe produced in them. For all their works, prayers, and apostolic undertakings, family and married life, daily work, relaxation of mind and body, if they are accomplished in the Spirit - indeed even the hardships of life if patiently born - all these become spiritual sacrifices acceptable to God through Jesus Christ. In the celebration of the Eucharist these may most fittingly be offered to the Father along with the body of the Lord. and so, worshipping everywhere by their holy actions, the laity consecrate the world itself to God, everywhere offering worship by the holiness of their lives."
Đặc biệt, các cha mẹ tham dự vào nhiệm vụ thánh hóa “bằng cách sống đời sống phu phụ theo tinh thần Kitô Giáo và lo cho con cái được hưởng nền giáo dục Kitô Giáo.”
In a very special way, parents share in the office of sanctifying "by leading a conjugal life in the Christian spirit and by seeing to the Christian education of their children."
Các giáo dân, nếu có những phẩm chất đòi phải có, có thể được chấp nhận lãnh các thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ một cách bền vững. “Ở đâu nhu cầu Hội Thánh đòi hỏi, vì thiếu thừa tác viên, các giáo dân, dù không có chức đọc sách và giúp lễ, cũng có thể làm thay một số việc của các thừa tác viên, cụ thể là thực thi thừa tác vụ Lời Chúa, chủ tọa các buổi đọc kinh phụng vụ, ban Phép Rửa và cho rước lễ, theo các quy định của giáo luật.”
Lay people who possess the required qualities can be admitted permanently to the ministries of lector and acolyte. When the necessity of the Church warrants it and when ministers are lacking, lay persons, even if they are not lectors or acolytes, can also supply for certain of their offices, namely, to exercise the ministry of the word, to preside over liturgical prayers, to confer Baptism, and to distribute Holy Communion in accord with the prescriptions of law."
“Đức Kitô... chu toàn nhiệm vụ tiên tri của Người, không những nhờ Phẩm trật... nhưng còn nhờ các giáo dân, những kẻ Người đã đặt làm chứng nhân và ban cho họ cảm thức đức tin và ơn ngôn ngữ.” “Dạy dỗ... để dẫn đến đức tin... là nhiệm vụ của bất cứ vị giảng thuyết nào, và cũng là của bất cứ tín hữu nào.”
"Christ . . . fulfills this prophetic office, not only by the hierarchy . . . but also by the laity. He accordingly both establishes them as witnesses and provides them with the sense of the faith [sensus fidei] and the grace of the word"
Các giáo dân cũng chu toàn sứ vụ tiên tri của mình bằng việc phúc âm hóa, “nghĩa là loan báo Đức Kitô bằng chứng từ đời sống và bằng lời nói.” Nơi các giáo dân, “việc phúc âm hóa này... mang một sắc thái đặc thù và một hiệu quả đặc biệt vì được thực hiện trong những hoàn cảnh bình thường của đời sống.” “Quả thật, việc tông đồ như vậy không chỉ cốt tại chứng từ đời sống; việc tông đồ thật tìm những cơ hội để loan báo Đức Kitô bằng lời nói hoặc cho những người chưa tin... hoặc cho các tín hữu.”
Lay people also fulfill their prophetic mission by evangelization, "that is, the proclamation of Christ by word and the testimony of life." For lay people, "this evangelization . . . acquires a specific property and peculiar efficacy because it is accomplished in the ordinary circumstances of the world."
Những ai trong các Kitô hữu giáo dân có khả năng và đã được huấn luyện, cũng có thể góp phần mình vào việc dạy giáo lý, vào việc giảng dạy các khoa học thánh, vào các phương tiện truyền thông xã hội.
Lay people who are capable and trained may also collaborate in catechetical formation, in teaching the sacred sciences, and in use of the communications media.
“Tùy theo kiến thức, thẩm quyền và uy tín bản thân, các Kitô hữu có quyền, và đôi khi có cả bổn phận phải bày tỏ cho các vị Mục tử có chức thánh biết ý kiến của họ liên quan tới lợi ích của Hội Thánh, họ cũng có quyền bộc lộ ý kiến của họ cho các Kitô hữu khác, miễn là bảo vệ được sự toàn vẹn của tín lý và luân lý, cũng như lòng kính trọng các vị Mục tử, và phải lưu ý đến công ích và phẩm giá của tha nhân.”
"In accord with the knowledge, competence, and preeminence which they possess, [lay people] have the right and even at times a duty to manifest to the sacred pastors their opinion on matters which pertain to the good of the Church, and they have a right to make their opinion known to the other Christian faithful, with due regard to the integrity of faith and morals and reverence toward their pastors, and with consideration for the common good and the dignity of persons."
Đức Kitô, nhờ việc Người vâng phục cho đến chết, đã truyền thông cho các môn đệ của Người hồng ân là sự tự do vương đế để “bằng sự từ bỏ mình và bằng đời sống thánh thiện, họ có thể chiến thắng vương quốc của tội lỗi nơi chính bản thân họ.” “Bất cứ ai chế ngự được thân xác mình và làm chủ bản thân một cách năng động thích hợp, không để linh hồn mình bị khích động bởi các đam mê, thì, vì kiềm chế tốt bản thân bằng một loại quyền năng vương đế, người đó được gọi là vua, người đó biết cai trị bản thân và là thẩm phán của mình, không bị lôi cuốn vào tội lỗi mà thành nô lệ.”
By his obedience unto death, Christ communicated to his disciples the gift of royal freedom, so that they might "by the self-abnegation of a holy life, overcome the reign of sin in themselves":
“Ngoài ra, khi các cơ chế và hoàn cảnh của trần gian gây nên dịp tội, người giáo dân cũng phải hợp sức làm cho các cơ chế và hoàn cảnh đó trở nên lành mạnh, sao cho chúng phù hợp với các quy luật của đức công bằng, và nâng đỡ hơn là chống lại việc thực thi các nhân đức. Bằng hành động như vậy, họ làm cho nền văn hóa và các công trình nhân loại được thấm nhuần những giá trị luân lý.”
"Moreover, by uniting their forces let the laity so remedy the institutions and conditions of the world when the latter are an inducement to sin, that these may be conformed to the norms of justice, favoring rather than hindering the practice of virtue. By so doing they will impregnate culture and human works with a moral value."
“Các giáo dân... có thể cảm thấy mình được kêu gọi hay đã được kêu gọi để cộng tác với các Mục tử trong việc phục vụ cộng đoàn Hội Thánh, để làm cho đời sống cộng đoàn được tăng trưởng và phong phú, khi họ thực thi những thừa tác vụ rất đa dạng, tùy theo ân sủng và các đặc sủng, mà Chúa đã muốn rộng ban cho họ.”
"The laity can also feel called, or be in fact called, to cooperate with their pastors in the service of the ecclesial community, for the sake of its growth and life. This can be done through the exercise of different kinds of ministries according to the grace and charisms which the Lord has been pleased to bestow on them."
Trong Hội Thánh, trong việc thực thi quyền cai quản, “các Kitô hữu giáo dân có thể cộng tác chiếu theo quy tắc của luật.” Như vậy, có sự hiện diện của họ trong các Công đồng địa phương, các Công nghị giáo phận, các Hội đồng mục vụ; trong việc thực thi trách nhiệm mục vụ trong một giáo xứ; cộng tác trong các Hội đồng kinh tế; tham gia vào các Tòa án giáo hội, v.v...
In the Church, "lay members of the Christian faithful can cooperate in the exercise of this power [of governance] in accord with the norm of law." and so the Church provides for their presence at particular councils, diocesan synods, pastoral councils; the exercise in solidum of the pastoral care of a parish, collaboration in finance committees, and participation in ecclesiastical tribunals, etc.
Các Kitô hữu phải “cẩn thận phân biệt đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách là phần tử của Hội Thánh, đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách là phần tử của xã hội nhân loại. Họ phải cố gắng nối kết cả hai một cách hài hòa, mà nhớ rằng, họ phải được hướng dẫn bởi lương tâm Kitô hữu, trong bất cứ công việc trần thế nào, vì không một hoạt động nhân loại nào, dầu trong các công việc trần thế, có thể vượt khỏi quyền thống trị của Thiên Chúa.”
The faithful should "distinguish carefully between the rights and the duties which they have as belonging to the Church and those which fall to them as members of the human society. They will strive to unite the two harmoniously, remembering that in every temporal affair they are to be guided by a Christian conscience, since no human activity, even of the temporal order, can be withdrawn from God's dominion."
“Như vậy, mỗi giáo dân, do chính những hồng ân đã được ban cho mình, là chứng nhân và đồng thời là dụng cụ sống động của chính sứ vụ của Hội Thánh, ‘tùy theo mức độ Đức Kitô ban cho’ (Ep 4,7).”
"Thus, every person, through these gifts given to him, is at once the witness and the living instrument of the mission of the Church itself 'according to the measure of Christ's bestowal."'
“Bậc sống... được thiết lập do việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm, tuy không liên quan đến cơ cấu phẩm trật của Hội Thánh, vẫn thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Hội Thánh một cách vững bền.”
"The state of life which is constituted by the profession of the evangelical counsels, while not entering into the hierarchical structure of the Church, belongs undeniably to her life and holiness."
Các lời khuyên Phúc Âm, vốn có nhiều, được đề ra cho tất cả các môn đệ của Đức Kitô. Sự hoàn hảo của đức mến, mà tất cả các Kitô hữu được kêu gọi tới, đối với những ai tự nguyện đảm nhận ơn gọi sống đời sống thánh hiến, bao hàm nghĩa vụ tuân giữ đức khiết tịnh trong sự độc thân vì Nước Trời, đức khó nghèo và đức vâng phục. Việc tuyên giữ các lời khuyên này, trong một bậc sống vững bền được Hội Thánh công nhận, là đặc tính của “đời sống thánh hiến” cho Thiên Chúa.
Christ proposes the evangelical counsels, in their great variety, to every disciple. the perfection of charity, to which all the faithful are called, entails for those who freely follow the call to consecrated life the obligation of practicing chastity in celibacy for the sake of the Kingdom, poverty and obedience. It is the profession of these counsels, within a permanent state of life recognized by the Church, that characterizes the life consecrated to God.
Bậc sống “đời sống thánh hiến” xuất hiện như một trong những cách để sống một cách “thân mật hơn” sự thánh hiến đã bắt nguồn từ bí tích Rửa Tội và dâng hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa. Trong đời sống thánh hiến, các Kitô hữu muốn mình, dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần, bước theo Đức Kitô cách gần gũi hơn, tự hiến cho Thiên Chúa đáng mến trên hết mọi sự, và theo đuổi sự trọn hảo của đức mến để phục vụ Nước Trời, bày tỏ và loan báo trong Hội Thánh sự vinh quang của thế giới tương lai.
The religious state is thus one way of experiencing a "more intimate" consecration, rooted in Baptism and dedicated totally to God. In the consecrated life, Christ's faithful, moved by the Holy Spirit, propose to follow Christ more nearly, to give themselves to God who is loved above all and, pursuing the perfection of charity in the service of the Kingdom, to signify and proclaim in the Church the glory of the world to come.
“Như trong một cây lớn mọc lên từ hạt giống do Thiên Chúa gieo trồng và đâm cành cách kỳ diệu và đa dạng trong cánh đồng của Chúa, [đã phát sinh] những hình thức khác nhau của đời sống đan tu hoặc cộng đoàn, và những gia đình khác nhau..., họ làm gia tăng sản nghiệp, vừa sinh ích cho các thành viên, vừa sinh ích cho toàn Thân Thể của Đức Kitô.”
"From the God-given seed of the counsels a wonderful and wide-spreading tree has grown up in the field of the Lord, branching out into various forms of the religious life lived in solitude or in community. Different religious families have come into existence in which spiritual resources are multiplied for the progress in holiness of their members and for the good of the entire Body of Christ."
“Ngay từ thời sơ khai của Hội Thánh, đã có những người nam và người nữ, có ý muốn nhờ việc thực hành các lời khuyên Phúc Âm để bước theo Đức Kitô cách tự do hơn, và bắt chước Người cách khắng khít hơn, và mỗi người một cách, họ sống một cuộc đời tận hiến cho Thiên Chúa. Nhiều người trong số đó, được Chúa Thánh Thần linh hứng, hoặc đã sống cuộc đời cô tịch, hoặc đã lập ra những gia đình tu sĩ mà Hội Thánh, bằng thẩm quyền của mình, đã sẵn lòng chấp nhận và phê chuẩn.”
From the very beginning of the Church there were men and women who set out to follow Christ with greater liberty, and to imitate him more closely, by practicing the evangelical counsels. They led lives dedicated to God, each in his own way. Many of them, under the inspiration of the Holy Spirit, became hermits or founded religious families. These the Church, by virtue of her authority, gladly accepted and approved.
Các Giám mục phải luôn cố gắng phân định những hồng ân mới của đời sống thánh hiến, được Chúa Thánh Thần phó thác cho Hội Thánh của Ngài; việc phê chuẩn những hình thức mới của đời sống thánh hiến được dành riêng cho Tòa Thánh.
Bishops will always strive to discern new gifts of consecrated life granted to the Church by the Holy Spirit; the approval of new forms of consecrated life is reserved to the Apostolic See.
Các ẩn sĩ, dầu không luôn luôn tuyên giữ cách công khai ba lời khuyên Phúc Âm, đã “hiến dâng đời mình để ngợi khen Thiên Chúa và mưu cầu phần rỗi cho thế giới bằng việc sống cách biệt với thế gian hơn, trong sự thinh lặng đơn độc, trong việc chuyên cần cầu nguyện và trong sự sám hối.”
Without always professing the three evangelical counsels publicly, hermits "devote their life to the praise of God and salvation of the world through a stricter separation from the world, the silence of solitude and assiduous prayer and penance."
Các ẩn sĩ tỏ cho thấy phương diện nội tâm hơn của mầu nhiệm Hội Thánh, là sự thân mật cá vị với Đức Kitô. Dù mắt người ta không thấy, nhưng đời ẩn tu là sự rao giảng thầm lặng về Đức Kitô, Đấng mà ẩn sĩ hiến dâng đời mình cho Người, bởi vì Người là tất cả mọi sự đối với họ. Đây là một ơn gọi đặc biệt nhằm gặp được vinh quang của Đấng chịu đóng đinh vào thập giá, trong hoang địa, trong chính cuộc chiến đấu thiêng liêng.
They manifest to everyone the interior aspect of the mystery of the Church, that is, personal intimacy with Christ. Hidden from the eyes of men, the life of the hermit is a silent preaching of the Lord, to whom he has surrendered his life simply because he is everything to him. Here is a particular call to find in the desert, in the thick of spiritual battle, the glory of the Crucified One.
Từ thời các Tông Đồ, đã có những trinh nữ và góa phụ Kitô hữu được Chúa kêu gọi để gắn bó với Người một cách không chia sẻ trong sự tự do hơn của trái tim, thể xác và tinh thần, họ đã quyết định, và được Hội Thánh phê chuẩn, sống trong bậc đồng trinh hoặc tiết dục vĩnh viễn “vì Nước Trời” (Mt 19,12).
From apostolic times Christian virgins, called by the Lord to cling only to him with greater freedom of heart, body, and spirit, have decided with the Church's approval to live in a state of virginity "for the sake of the Kingdom of heaven."
Các trinh nữ “là những người nói lên sự quyết tâm lành thánh theo sát Đức Kitô, họ được Giám mục giáo phận cung hiến cho Thiên Chúa theo nghi thức phụng vụ được phê chuẩn, họ đính hôn cách huyền nhiệm với Đức Kitô, Con Thiên Chúa, và hiến thân phục vụ Hội Thánh.” Qua nghi thức trọng thể này (Nghi thức Thánh hiến các Trinh nữ), “trinh nữ trở thành một nhân vị được thánh hiến, một dấu chỉ siêu việt của tình yêu của Hội Thánh đối với Đức Kitô, một hình ảnh cánh chung của Hiền thê thiên quốc và của đời sống tương lai.”
"Virgins who, committed to the holy plan of following Christ more closely, are consecrated to God by the diocesan bishop according to the approved liturgical rite, are betrothed mystically to Christ, the Son of God, and are dedicated to the service of the Church." By this solemn rite (Consecratio virginum), the virgin is "constituted . . . a sacred person, a transcendent sign of the Church's love for Christ, and an eschatological image of this heavenly Bride of Christ and of the life to come."
Gần gũi với những hình thức khác của đời sống thánh hiến, bậc đồng trinh đặt người nữ sống giữa trần gian (hoặc nữ đan sĩ) trong kinh nguyện, sám hối, phục vụ anh chị em và làm việc tông đồ, tùy theo bậc sống và đặc sủng được ban cho mỗi người. Các trinh nữ được thánh hiến có thể được liên kết lại, để tuân giữ quyết định của mình cách trung thành hơn.
"As with other forms of consecrated life," the order of virgins establishes the woman living in the world (or the nun) in prayer, penance, service of her brethren, and apostolic activity, according to the state of life and spiritual gifts given to her. Consecrated virgins can form themselves into associations to observe their commitment more faithfully.
Đời tu dòng, đã xuất hiện tại Đông phương trong những thế kỷ đầu của Kitô Giáo và được thực hiện trong các dòng tu do Hội Thánh thiết lập theo giáo luật, phân biệt với những hình thức khác của đời sống thánh hiến về phương diện phụng tự, việc tuyên khấn công khai các lời khuyên Phúc Âm, chung sống đời huynh đệ, làm bằng chứng cho sự kết hợp giữa Đức Kitô và Hội Thánh.
Religious life was born in the East during the first centuries of Christianity. Lived within institutes canonically erected by the Church, it is distinguished from other forms of consecrated life by its liturgical character, public profession of the evangelical counsels, fraternal life led in common, and witness given to the union of Christ with the Church.
Đời tu dòng xuất phát từ mầu nhiệm Hội Thánh. Đó là một hồng ân Hội Thánh lãnh nhận từ Chúa mình và hồng ân đó, Hội Thánh trao lại, xét như một bậc sống bền vững, cho tín hữu được Thiên Chúa kêu gọi tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm. Như vậy, Hội Thánh có thể vừa biểu lộ Đức Kitô vừa nhận biết mình như Hiền Thê của Đấng Cứu Độ. Đời tu dòng, dưới những hình thức khác nhau, được mời gọi để nói lên chính tình yêu của Thiên Chúa, trong ngôn ngữ của thời đại chúng ta.
Religious life derives from the mystery of the Church. It is a gift she has received from her Lord, a gift she offers as a stable way of life to the faithful called by God to profess the counsels. Thus, the Church can both show forth Christ and acknowledge herself to be the Savior's bride. Religious life in its various forms is called to signify the very charity of God in the language of our time.
Tất cả các tu sĩ, dù thuộc dòng miễn trừ hay không miễn trừ, đều có chỗ trong số những cộng sự viên của Giám mục giáo phận trong nhiệm vụ mục tử của ngài. Ngay từ lúc khởi đầu việc phúc âm hóa, việc gieo trồng và phát triển truyền giáo của Hội Thánh đòi sự hiện diện của đời tu dòng dưới mọi hình thức. “Lịch sử chứng minh công lao to lớn của các Hội dòng trong việc truyền bá đức tin và trong việc hình thành các Giáo Hội mới: không những công lao của các Đan viện cổ xưa và các Dòng tu thời Trung cổ, mà còn của những Cộng đoàn trong thời đại chúng ta.”
All religious, whether exempt or not, take their place among the collaborators of the diocesan bishop in his pastoral duty. From the outset of the work of evangelization, the missionary "planting" and expansion of the Church require the presence of the religious life in all its forms. "History witnesses to the outstanding service rendered by religious families in the propagation of the faith and in the formation of new Churches: from the ancient monastic institutions to the medieval orders, all the way to the more recent congregations."
“Tu hội đời là một tu hội của đời sống thánh hiến, trong đó các Kitô hữu sống giữa thế giới cố gắng vươn tới sự trọn hảo của đức mến và góp phần vào việc thánh hóa trần gian một cách đặc biệt từ bên trong.”
"A secular institute is an institute of consecrated life in which the Christian faithful living in the world strive for the perfection of charity and work for the sanctification of the world especially from within."
“Bằng đời sống được dâng hiến trọn vẹn và hoàn toàn cho việc thánh hóa trần gian”, các thành viên của những tu hội này “tham gia vào nhiệm vụ loan báo Tin Mừng của Hội Thánh, giữa thế giới và từ thế giới”, trong đó, sự hiện diện của họ tác động như men trong bột. Bằng chứng của đời sống Kitô hữu của họ nhằm quy hướng các việc trần thế theo Thiên Chúa và hình thành trần gian bằng sức mạnh của Tin Mừng. Bằng những mối ràng buộc thánh, họ sống các lời khuyên Phúc Âm và gìn giữ sự hiệp thông và tình huynh đệ với nhau, phù hợp với tính cách thế tục riêng trong lối sống của họ.
By a "life perfectly and entirely consecrated to [such] sanctification," the members of these institutes share in the Church's task of evangelization, "in the world and from within the world," where their presence acts as "leaven in the world." "Their witness of a Christian life" aims "to order temporal things according to God and inform the world with the power of the gospel." They commit themselves to the evangelical counsels by sacred bonds and observe among themselves the communion and fellowship appropriate to their "particular secular way of life."
Bên cạnh những hình thức khác nhau của đời sống thánh hiến, “là các tu đoàn tông đồ, mà các thành viên theo đuổi mục đích tông đồ riêng của tu đoàn, dù không có lời khấn dòng, và sống chung như anh chị em theo một lối sống riêng, để vươn tới sự trọn hảo của đức mến qua việc tuân giữ hiến pháp. Trong số các tu đoàn ấy, có những tu đoàn mà các thành viên đảm nhận các lời khuyên Phúc Âm” tùy theo hiến pháp của họ.
Alongside the different forms of consecrated life are "societies of apostolic life whose members without religious vows pursue the particular apostolic purpose of their society, and lead a life as brothers or sisters in common according to a particular manner of life, strive for the perfection of charity through the observance of the constitutions. Among these there are societies in which the members embrace the evangelical counsels" according to their constitutions.
Người đã được Phép Rửa dành riêng cho Thiên Chúa, nay hiến thân cho Ngài là Đấng đáng mến trên hết mọi sự, như vậy người đó cố gắng để, một cách mật thiết hơn, được thánh hiến cho việc phục vụ Thiên Chúa và dấn thân mưu ích cho Hội Thánh. Nhờ bậc sống đời sống thánh hiến, Hội Thánh biểu lộ Đức Kitô và cho thấy Chúa Thánh Thần hành động trong Hội Thánh một cách kỳ diệu như thế nào. Những ai tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm có sứ vụ đầu tiên là sống sự thánh hiến của mình. Vì họ “dấn thân phục vụ Hội Thánh do chính sự thánh hiến của mình, cho nên họ buộc phải hoạt động cách đặc biệt cho công cuộc truyền giáo, theo thể thức riêng của hội dòng.”
Already dedicated to him through Baptism, the person who surrenders himself to the God he loves above all else thereby consecrates himself more intimately to God's service and to the good of the Church. By this state of life consecrated to God, the Church manifests Christ and shows us how the Holy Spirit acts so wonderfully in her. and so the first mission of those who profess the evangelical counsels is to live out their consecration. Moreover, "since members of institutes of consecrated life dedicate themselves through their consecration to the service of the Church they are obliged in a special manner to engage in missionary work, in accord with the character of the institute."
Trong Hội Thánh, như là một bí tích, nghĩa là một dấu chỉ và dụng cụ của sự sống của Thiên Chúa, đời tu dòng xuất hiện như một dấu chỉ đặc biệt của mầu nhiệm Cứu Chuộc. Bước theo và bắt chước Đức Kitô “một cách gần gũi hơn”, biểu lộ sự hủy mình ra không của Người “một cách rõ ràng hơn”, là hiện diện “một cách sâu sắc hơn”, trong trái tim Đức Kitô, với những người đương thời của mình. Những ai đi trên con đường “hẹp hơn” này khích động anh chị em bằng gương sáng của mình, và “đưa ra một bằng chứng sáng chói và nổi bật rằng, trần gian không thể được biến hình và được dâng lên cho Thiên Chúa nếu không có tinh thần của các mối phúc.”
In the Church, which is like the sacrament - the sign and instrument - of God's own life, the consecrated life is seen as a special sign of the mystery of redemption. To follow and imitate Christ more nearly and to manifest more clearly his self-emptying is to be more deeply present to one's contemporaries, in the heart of Christ. For those who are on this "narrower" path encourage their brethren by their example, and bear striking witness "that the world cannot be transfigured and offered to God without the spirit of the beatitudes."
Dù chứng tá của họ có đặc tính công khai, như trong bậc tu dòng, hoặc ở mức riêng tư hơn, thậm chí bí mật nữa, thì đối với tất cả những người sống đời sống thánh hiến, ngày Ngự đến của Đức Kitô vẫn luôn là nguồn gốc và định hướng của cuộc đời họ: “Quả thật, bởi vì dân Thiên Chúa không có một thành trì vĩnh viễn ở đời này,... nên bậc sống thánh hiến vừa biểu lộ những sự tốt đẹp của thiên quốc đã hiện diện nơi trần thế này cho tất cả những ai tin, vừa làm chứng rằng một đời sống mới và vĩnh cửu đã được thủ đắc nhờ sự Cứu Chuộc của Đức Kitô, vừa tiên báo sự phục sinh tương lai và vinh quang của Nước Trời.”
Whether their witness is public, as in the religious state, or less public, or even secret, Christ's coming remains for all those consecrated both the origin and rising sun of their life:
“Do sự thiết định của Thiên Chúa, trong Hội Thánh, giữa các Kitô hữu có những thừa tác viên có chức thánh, theo luật được gọi là giáo sĩ, và những người khác, được gọi là giáo dân.” Cuối cùng, trong cả hai thành phần đó, có những Kitô hữu, qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm, được thánh hiến cho Thiên Chúa và như vậy, phục vụ sứ vụ của Hội Thánh.
"Among the Christian faithful by divine institution there exist in the Church sacred ministers, who are also called clerics in law, and other Christian faithful who are also called laity." In both groups there are those Christian faithful who, professing the evangelical counsels, are consecrated to God and so serve the Church's saving mission (cf. CIC, can. 207 # 1, 2).
Đức Kitô sai các Tông Đồ của Người và những vị kế nhiệm các ngài đi rao giảng đức tin và thiết lập Nước Người. Người cho họ tham gia vào sứ vụ của Người. Bởi Người, họ lãnh nhận quyền hành động trong cương vị của Người (in Eius persona).
To proclaim the faith and to plant his reign, Christ sends his apostles and their successors. He gives them a share in his own mission. From him they receive the power to act in his person.
Chúa đã đặt thánh Phêrô làm nền tảng hữu hình của Hội Thánh của Người. Người đã ban cho ông các chìa khóa của Hội Thánh. Giám mục Giáo Hội Rôma, vị kế nhiệm thánh Phêrô, là “thủ lãnh của Giám mục đoàn, là Đấng Đại diện Đức Kitô và là Mục tử của toàn thể Hội Thánh trên trần gian.”
The Lord made St. Peter the visible foundation of his Church. He entrusted the keys of the Church to him. the bishop of the Church of Rome, successor to St. Peter, is "head of the college of bishops, the Vicar of Christ and Pastor of the universal Church on earth" (CIC, can. 331).
Giám mục Rôma “do sự thiết định của Thiên Chúa, được hưởng quyền trọn vẹn, tối cao, trực tiếp và phổ quát trong việc chăm sóc các linh hồn.”
The Pope enjoys, by divine institution, "supreme, full, immediate, and universal power in the care of souls" (CD 2).
Các Giám mục, được thiết đặt bởi Chúa Thánh Thần, kế nhiệm các Tông Đồ. “Mỗi Giám mục là nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hợp nhất trong các Giáo Hội địa phương của các ngài.”
The Bishops, established by the Holy Spirit, succeed the apostles. They are "the visible source and foundation of unity in their own particular Churches" (LG 23).
Các Giám mục, được các linh mục là các cộng sự viên của ngài, và các phó tế giúp đỡ, có nhiệm vụ giảng dạy đức tin một cách xác thực, cử hành phụng tự thần linh nhất là bí tích Thánh Thể, cai quản các Giáo Hội của mình với tư cách các mục tử thật. Sự quan tâm đến tất cả các Giáo Hội cũng thuộc nhiệm vụ của các ngài, cùng với và dưới quyền Giám mục Rôma.
Helped by the priests, their co-workers, and by the deacons, the bishops have the duty of authentically teaching the faith, celebrating divine worship, above all the Eucharist, and guiding their Churches as true pastors. Their responsibility also includes concern for all the Churches, with and under the Pope.
“Vì tính chất riêng của bậc giáo dân là sống giữa trần gian và giữa các công việc trần thế, nên họ được Thiên Chúa kêu gọi, để, một khi nhiệt thành theo tinh thần Kitô Giáo, họ thực thi việc tông đồ của mình trong trần gian như men trong bột.”
"The characteristic of the lay state being a life led in the midst of the world and of secular affairs, lay people are called by God to make of their apostolate, through the vigor of their Christian spirit, a leaven in the world" (AA 2 # 2).
Các giáo dân tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô: một khi luôn được kết hợp hơn với Người, họ triển khai ân sủng của bí tích Rửa Tội và Thêm Sức trong mọi phương diện của đời sống cá vị, gia đình, xã hội và Hội Thánh, và như vậy, họ thực hiện ơn gọi nên thánh dành cho tất cả những người đã được rửa tội.
Lay people share in Christ's priesthood: ever more united with him, they exhibit the grace of Baptism and Confirmation in all dimensions of their personal family, social and ecclesial lives, and so fulfill the call to holiness addressed to all the baptized.
Các giáo dân, vì sứ vụ tiên tri của mình, “cũng được kêu gọi để làm chứng cho Đức Kitô trong mọi sự, giữa lòng cộng đồng nhân loại.”
By virtue of their prophetic mission, lay people "are called . . . to be witnesses to Christ in all circumstances and at the very heart of the community of mankind" (GS 43 # 4).
Các giáo dân, vì sứ vụ vương đế của mình, nhờ sự từ bỏ mình và sự thánh thiện của đời sống, có thể nhổ tận gốc quyền thống trị của tội lỗi trong chính bản thân mình và trong trần gian.
By virtue of their kingly mission, lay people have the power to uproot the rule of sin within themselves and in the world, by their self-denial and holiness of life (cf. LG 36).
Đời sống thánh hiến cho Thiên Chúa có đặc điểm là công khai tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm về khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục trong một bậc sống bền vững được Hội Thánh công nhận.
The life consecrated to God is characterized by the public profession of the evangelical counsels of poverty, chastity, and obedience, in a stable state of life recognized by the Church.
Người đã được Phép Rửa dành riêng cho Thiên Chúa, nay hiến thân cho Ngài là Đấng đáng mến trên hết mọi sự, trong bậc sống của đời sống thánh hiến, người đó cố gắng để, một cách mật thiết hơn, dâng mình cho việc phục vụ Thiên Chúa và dấn thân mưu ích cho toàn thể Hội Thánh.
Already destined for him through Baptism, the person who surrenders himself to the God he loves above all else thereby consecrates himself more intimately to God's service and to the good of the whole Church.