Đức tin là một hành vi cá nhân: là lời đáp lại cách tự nguyện của con người trước lời mời gọi của Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải. Nhưng đức tin không phải là một hành vi đơn độc. Không ai có thể tin một mình, cũng như không ai có thể sống một mình. Không ai tự ban đức tin cho mình, cũng như không ai tự ban sự sống cho mình. Người tin nhận được đức tin từ những kẻ khác và phải thông truyền đức tin đó cho những kẻ khác. Tình yêu của chúng ta đối với Chúa Giêsu và đối với tha nhân, thúc giục chúng ta nói về đức tin của chúng ta cho những người khác. Mỗi người tin là như một mắt xích trong một xâu chuỗi rộng lớn các kẻ tin. Tôi không thể tin nếu không được nâng đỡ bằng đức tin của những người khác, và bằng đức tin của tôi, tôi góp phần vào việc nâng đỡ đức tin của những người khác.
Faith is a personal act - the free response of the human person to the initiative of God who reveals himself. But faith is not an isolated act. No one can believe alone, just as no one can live alone. You have not given yourself faith as you have not given yourself life. the believer has received faith from others and should hand it on to others. Our love for Jesus and for our neighbour impels us to speak to others about our faith. Each believer is thus a link in the great chain of believers. I cannot believe without being carried by the faith of others, and by my faith I help support others in the faith.
“Tôi tin”: đây là đức tin của Hội Thánh, được mỗi tín hữu đích thân tuyên xưng, đặc biệt lúc chịu phép Rửa Tội. “Chúng tôi tin”: đây là đức tin của Hội Thánh, được các Giám mục họp Công đồng tuyên xưng, hoặc thông thường hơn, được cộng đoàn tín hữu cử hành phụng vụ tuyên xưng. “Tôi tin”: đây cũng là Hội Thánh, Mẹ chúng ta, đang lấy đức tin của mình mà đáp lời Thiên Chúa, và dạy chúng ta nói: “Tôi tin”, “Chúng tôi tin.”
"I believe" (Apostles' Creed) is the faith of the Church professed personally by each believer, principally during Baptism. "We believe" (Niceno-Constantinopolitan Creed) is the faith of the Church confessed by the bishops assembled in council or more generally by the liturgical assembly of believers. "I believe" is also the Church, our mother, responding to God by faith as she teaches us to say both "I believe" and "We believe".
Trước hết Hội Thánh tin, và như vậy, hướng dẫn, nuôi dưỡng và nâng đỡ đức tin của tôi. Trước hết Hội Thánh tuyên xưng Chúa ở khắp nơi (như chúng ta hát trong kinh Te Deum: “Và trải rộng khắp nơi trần thế, Hội Thánh Ngài hoan hỷ tuyên xưng”), rồi cùng với Hội Thánh và trong Hội Thánh, chúng ta được thúc đẩy và hướng dẫn để chúng ta cũng tuyên xưng: “Tôi tin”, “Chúng tôi tin.” Chính từ Hội Thánh mà chúng ta lãnh nhận đức tin và đời sống mới trong Đức Kitô nhờ bí tích Rửa Tội. Trong sách Nghi thức Rôma, thừa tác viên cử hành bí tích Rửa Tội hỏi người dự tòng: “Con xin gì cùng Hội Thánh Chúa? - Thưa: “Con xin đức tin” - “Đức tin sinh ơn ích gì cho con?” - “Thưa đức tin đem lại cho con sự sống đời đời.”
It is the Church that believes first, and so bears, nourishes and sustains my faith. Everywhere, it is the Church that first confesses the Lord: "Throughout the world the holy Church acclaims you", as we sing in the hymn Te Deum; with her and in her, we are won over and brought to confess: "I believe", "We believe". It is through the Church that we receive faith and new life in Christ by Baptism. In the Rituale Romanum, the minister of Baptism asks the catechumen: "What do you ask of God's Church?" and the answer is: "Faith." "What does faith offer you?" "Eternal life."
Ơn cứu độ đến từ một mình Thiên Chúa, nhưng bởi vì chúng ta lãnh nhận đời sống đức tin nhờ Hội Thánh, nên Hội Thánh là mẹ chúng ta: “Chúng tôi tin Hội Thánh như người mẹ cho chúng tôi được tái sinh, chứ chúng tôi không tin vào Hội Thánh như là tác giả của ơn cứu độ.” Bởi vì là mẹ chúng ta, nên Hội Thánh cũng là người giáo dục đức tin của chúng ta.
Salvation comes from God alone; but because we receive the life of faith through the Church, she is our mother: "We believe the Church as the mother of our new birth, and not in the Church as if she were the author of our salvation." Because she is our mother, she is also our teacher in the faith.
Chúng ta không tin vào những công thức, nhưng tin vào những thực tại mà các công thức đó diễn tả, những thực tại mà đức tin cho phép chúng ta “đụng chạm tới.” “Hành vi [đức tin] của tín hữu không dừng lại ở lời phát biểu, mà ở thực tại [được phát biểu].” Tuy nhiên, chúng ta tiếp cận những thực tại đó nhờ sự trợ giúp của những công thức diễn tả đức tin. Những công thức này cho phép diễn tả và lưu truyền đức tin, cử hành đức tin trong cộng đoàn, làm cho tín hữu thấm nhuần và sống đức tin mỗi ngày một hơn.
We do not believe in formulae, but in those realities they express, which faith allows us to touch. "The believer's act [of faith] does not terminate in the propositions, but in the realities [which they express]." All the same, we do approach these realities with the help of formulations of the faith which permit us to express the faith and to hand it on, to celebrate it in community, to assimilate and live on it more and more.
Hội Thánh, là “cột trụ và điểm tựa của chân lý” (1 Tm 3,15), trung thành bảo toàn đức tin đã được truyền lại cho dân thánh một lần cho mãi mãi. Chính Hội Thánh ghi nhớ những Lời của Đức Kitô và lưu truyền từ đời nọ đến đời kia lời tuyên xưng đức tin của các Tông Đồ. Cũng như một người mẹ dạy con mình nói, và qua đó dạy con hiểu biết và giao tiếp với những người khác, Hội Thánh, Mẹ chúng ta, cũng dạy chúng ta ngôn ngữ đức tin để dẫn dắt chúng ta hiểu biết đức tin và sống đức tin.
The Church, "the pillar and bulwark of the truth", faithfully guards "the faith which was once for all delivered to the saints". She guards the memory of Christ's words; it is she who from generation to generation hands on the apostles' confession of faith. As a mother who teaches her children to speak and so to understand and communicate, the Church our Mother teaches us the language of faith in order to introduce us to the understanding and the life of faith.
Từ nhiều thế kỷ, qua biết bao ngôn ngữ, văn hóa, dân tộc và quốc gia, Hội Thánh không ngừng tuyên xưng đức tin duy nhất của mình, đức tin đó Hội Thánh đã lãnh nhận từ một Chúa duy nhất, đức tin đó được lưu truyền nhờ một Phép Rửa duy nhất, đức tin đó bén rễ trong niềm xác tín rằng tất cả mọi người chỉ có một Thiên Chúa duy nhất và là Cha duy nhất. Thánh Irênê Lyon, chứng nhân của đức tin ấy, đã tuyên bố:
Through the centuries, in so many languages, cultures, peoples and nations, the Church has constantly confessed this one faith, received from the one Lord, transmitted by one Baptism, and grounded in the conviction that all people have only one God and Father. St. Irenaeus of Lyons, a witness of this faith, declared:
“Hội Thánh được gieo trồng trên khắp thế giới cho đến tận cùng cõi đất, đã lãnh nhận đức tin từ các Tông Đồ và các môn đệ của các ngài... Hội Thánh chuyên cần bảo tồn lời rao giảng đó và đức tin đó như đang sống trong cùng một ngôi nhà, và tin những điều đó một cách giống nhau, như chỉ có một linh hồn và một trái tim, và đồng thanh rao giảng, dạy dỗ và lưu truyền đức tin ấy, như chỉ có một miệng lưỡi.”
"Indeed, the Church, though scattered throughout the whole world, even to the ends of the earth, having received the faith from the apostles and their disciples. . . guards [this preaching and faith] with care, as dwelling in but a single house, and similarly believes as if having but one soul and a single heart, and preaches, teaches and hands on this faith with a unanimous voice, as if possessing only one mouth."
“Mặc dầu trên trần gian có những ngôn ngữ khác nhau, nhưng nội dung của Thánh Truyền là một và y nguyên. Các Giáo Hội được thiết lập tại Đức không tin một cách nào khác hoặc lưu truyền một cách nào khác, và các Giáo Hội ở vùng Ibêria, các Giáo Hội ở vùng Celtô, các Giáo Hội ở Đông phương, ở Ai Cập, ở Libya hay tại trung tâm thế giới cũng vậy...” “Quả vậy, lời rao giảng của Hội Thánh có tính chất chân thật và vững bền, nơi Hội Thánh, một con đường cứu độ duy nhất được tỏ bày cho khắp trần gian.”
"For though languages differ throughout the world, the content of the Tradition is one and the same. the Churches established in Germany have no other faith or Tradition, nor do those of the Iberians, nor those of the Celts, nor those of the East, of Egypt, of Libya, nor those established at the centre of the world. . ." The Church's message "is true and solid, in which one and the same way of salvation appears throughout the whole world."
“Chúng ta gìn giữ đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận từ Hội Thánh, và đức tin đó, luôn nhờ Thần Khí của Thiên Chúa, là như một kho tàng quý giá luôn tươi trẻ được chứa đựng trong cái bình tốt, và đức tin đó làm tươi trẻ chính cái bình chứa đựng nó.”
"We guard with care the faith that we have received from the Church, for without ceasing, under the action of God's Spirit, this deposit of great price, as if in an excellent vessel, is constantly being renewed and causes the very vessel that contains it to be renewed."
Đức tin là sự gắn bó cá nhân của toàn thể con người mình với Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải. Đức tin bao hàm sự gắn bó của lý trí và ý chí với mặc khải mà Thiên Chúa đã bày tỏ về chính Ngài qua các việc làm và lời nói.
Faith is a personal adherence of the whole man to God who reveals himself. It involves an assent of the intellect and will to the self-revelation God has made through his deeds and words.
Vì vậy, “tin” có hai tương quan: với chủ vị và với chân lý; với chân lý vì tin vào chủ vị là Đấng làm chứng cho chân lý đó.
"To believe" has thus a twofold reference: to the person, and to the truth: to the truth, by trust in the person who bears witness to it.
Chúng ta không được tin vào ai khác ngoài Thiên Chúa, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
We must believe in no one but God: the Father, the Son and the Holy Spirit.
Đức tin là một hồng ân siêu nhiên của Thiên Chúa. Để tin, con người cần đến những trợ lực bên trong của Chúa Thánh Thần.
Faith is a supernatural gift from God. In order to believe, man needs the interior helps of the Holy Spirit.
“Tin” là một hành vi nhân linh, có ý thức và tự do, xứng hợp với phẩm giá con người.
"Believing" is a human act, conscious and free, corresponding to the dignity of the human person.
“Tin” là một hành vi có chiều kích Hội Thánh. Đức tin của Hội Thánh có trước, sinh ra, nâng đỡ và dưỡng nuôi đức tin của chúng ta. Hội Thánh là Mẹ của mọi tín hữu. “Không ai có thể có Thiên Chúa là Cha, mà lại không có Hội Thánh là Mẹ.”
"Believing" is an ecclesial act. the Church's faith precedes, engenders, supports and nourishes our faith. the Church is the mother of all believers. "No one can have God as Father who does not have the Church as Mother" (St. Cyprian, De unit. 6: PL 4, 519).
“Chúng ta tin tất cả những gì chứa đựng trong Lời Thiên Chúa, được viết thành văn hoặc được lưu truyền, và được Hội Thánh dạy phải tin như là những điều được Thiên Chúa mặc khải.”
We believe all "that which is contained in the word of God, written or handed down, and which the Church proposes for belief as divinely revealed" (Paul VI, CPG # 20).
Đức tin là cần thiết để được cứu độ. Chính Chúa đã khẳng định: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án” (Mc 16,16).
Faith is necessary for salvation. the Lord himself affirms: "He who believes and is baptized will be saved; but he who does not believe will be condemned" (Mk 16:16).
“Đức tin là một cách nếm trước sự hiểu biết sẽ làm cho chúng ta hạnh phúc trong tương lai.”
"Faith is a foretaste of the knowledge that will make us blessed in the life to come" (St. Thomas Aquinas. Comp. theol. 1, 2).