Hỏi Đáp Công Giáo
Đời Sống Trong Đức Kitô · Ơn gọi của con người: sống trong thần khí · Phẩm giá của nhân vị
MỤC 6

Lương tâm luân lý

Số 1776–1802
1776

“Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật, mà chính con người không tự đặt ra cho mình, nhưng con người phải tuân theo lề luật đó, và tiếng nói của lề luật đó, luôn luôn kêu gọi con người yêu mến và làm điều tốt cũng như tránh điều xấu, vào lúc cần thiết, tiếng nói ấy vang lên trong trái tim con người... Quả thật, con người có một lề luật được Thiên Chúa khắc ghi trong trái tim họ... Lương tâm là hạt nhân bí ẩn nhất và là cung thánh của con người, nơi con người ở một mình với Thiên Chúa, và tiếng nói của Ngài vang dội trong thẳm sâu lòng họ.”

"Deep within his conscience man discovers a law which he has not laid upon himself but which he must obey. Its voice, ever calling him to love and to do what is good and to avoid evil, sounds in his heart at the right moment.... For man has in his heart a law inscribed by God.... His conscience is man's most secret core and his sanctuary. There he is alone with God whose voice echoes in his depths."

1777

Lương tâm, hiện diện trong trái tim của nhân vị, ra lệnh cho nó, vào đúng lúc, phải làm lành lánh dữ. Lương tâm cũng phán đoán các lựa chọn cụ thể, là chuẩn y những lựa chọn tốt, phản đối những lựa chọn xấu. Lương tâm chứng nhận thẩm quyền về chân lý liên quan đến Đấng là sự thiện tối thượng, mà nhân vị cảm nghiệm được sự lôi kéo của Ngài và đón nhận các lệnh truyền của Ngài. Người khôn ngoan, khi lắng nghe lương tâm, có thể nghe Thiên Chúa nói.

Moral conscience, present at the heart of the person, enjoins him at the appropriate moment to do good and to avoid evil. It also judges particular choices, approving those that are good and denouncing those that are evil. It bears witness to the authority of truth in reference to the supreme Good to which the human person is drawn, and it welcomes the commandments. When he listens to his conscience, the prudent man can hear God speaking.

1778

Lương tâm là sự phán đoán của lý trí, nhờ đó, nhân vị nhận thức được phẩm chất luân lý của một hành vi cụ thể mình sắp làm, đang làm hay đã làm. Con người, trong mọi điều mình nói hoặc làm, buộc phải trung thành theo điều mình biết là chính đáng và trung thực. Con người, nhờ phán đoán của lương tâm của mình, cảm thấy và nhận biết những quy định của Lề luật thần linh: “Lương tâm là một lề luật của tinh thần chúng ta, nhưng lại vượt quá tinh thần chúng ta, nó đưa ra cho chúng ta những quy định, nó nói lên trách nhiệm và bổn phận, sự sợ hãi và niềm hy vọng... Lương tâm là sứ giả của Đấng, trong trật tự tự nhiên cũng như trong trật tự ân sủng, nói với chúng ta sau một bức màn, dạy dỗ và hướng dẫn chúng ta. Lương tâm là vị đại diện thứ nhất trong tất cả các đại diện của Đức Kitô.”

Conscience is a judgment of reason whereby the human person recognizes the moral quality of a concrete act that he is going to perform, is in the process of performing, or has already completed. In all he says and does, man is obliged to follow faithfully what he knows to be just and right. It is by the judgment of his conscience that man perceives and recognizes the prescriptions of the divine law:

1779

Điều quan trọng là mỗi người phải hiện diện với chính mình, để lắng nghe và tuân theo tiếng lương tâm của mình. Sự đòi hỏi sống nội tâm là rất cần thiết, vì đời sống thường dẫn chúng ta đến nguy cơ là chúng ta bị lôi kéo khỏi mọi suy tư, kiểm điểm hay hồi tâm: “Bạn hãy quay về với lương tâm của bạn, hãy tự vấn lương tâm... Thưa anh em, hãy quay về với nội tâm và trong mọi sự anh em làm, hãy nhìn lên chứng nhân là Thiên Chúa.”

It is important for every person to be sufficiently present to himself in order to hear and follow the voice of his conscience. This requirement of interiority is all the more necessary as life often distracts us from any reflection, self-examination or introspection:

1780

Phẩm giá của nhân vị bao hàm và đòi hỏi sự ngay chính của lương tâm. Lương tâm gồm có việc nhận thức các nguyên tắc luân lý (synderesim), việc áp dụng những nguyên tắc đó vào các hoàn cảnh cụ thể nhờ phân định thực tiễn các lý lẽ và các lợi ích, và cuối cùng, việc phán đoán về các hành vi cụ thể phải làm hay đã làm. Chân lý về điều thiện luân lý, đã được lý trí nêu lên, được nhận biết cách thực tiễn và cụ thể nhờ phán đoán khôn ngoan của lương tâm. Người chọn theo phán đoán này được gọi là kẻ khôn ngoan.

The dignity of the human person implies and requires uprightness of moral conscience. Conscience includes the perception of the principles of morality (synderesis); their application in the given circumstances by practical discernment of reasons and goods; and finally judgment about concrete acts yet to be performed or already performed. the truth about the moral good, stated in the law of reason, is recognized practically and concretely by the prudent judgment of conscience. We call that man prudent who chooses in conformity with this judgment.

1781

Lương tâm cho phép đảm nhận trách nhiệm về những hành vi đã thực hiện. Nếu con người làm điều xấu, phán đoán ngay chính của lương tâm nơi người đó có thể là chứng nhân cho chân lý phổ quát của điều tốt, đồng thời cũng là chứng nhân cho sự xấu xa của việc lựa chọn riêng của người đó. Án lệnh do phán đoán của lương tâm cũng là bảo chứng cho niềm hy vọng và lòng thương xót. Khi xác nhận lỗi lầm đã phạm, lương tâm nhắc nhở chúng ta phải cầu xin ơn tha thứ, phải làm điều tốt và phải không ngừng vun trồng nhân đức nhờ ân sủng của Thiên Chúa: “Chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa. Vì nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự” (1 Ga 3,19-20).

Conscience enables one to assume responsibility for the acts performed. If man commits evil, the just judgment of conscience can remain within him as the witness to the universal truth of the good, at the same time as the evil of his particular choice. the verdict of the judgment of conscience remains a pledge of hope and mercy. In attesting to the fault committed, it calls to mind the forgiveness that must be asked, the good that must still be practiced, and the virtue that must be constantly cultivated with the grace of God:

1782

Con người có quyền hành động cách tự do theo lương tâm, để có thể đảm nhận những quyết định luân lý một cách cá vị. “Không được cưỡng bức ai hành động trái với lương tâm của họ. Cũng không được ngăn cản họ hành động theo lương tâm của họ, nhất là trong vấn đề tôn giáo.”

Man has the right to act in conscience and in freedom so as personally to make moral decisions. "He must not be forced to act contrary to his conscience. Nor must he be prevented from acting according to his conscience, especially in religious matters."

1783

Lương tâm phải được trở nên vững chắc hơn và sự phán đoán luân lý phải được soi sáng. Một lương tâm được huấn luyện tốt thì ngay chính và chân thật. Nó sẽ đưa ra những phán đoán theo lý trí, phù hợp với điều thiện đích thực mà Đấng Tạo hóa khôn ngoan muốn. Việc giáo dục lương tâm là cần thiết cho con người, vì họ đang bị chi phối bởi các ảnh hưởng tiêu cực và bị cám dỗ bởi tội lỗi, nên thích làm theo ý riêng hơn và khước từ những đạo lý được đưa ra một cách có thẩm quyền.

Conscience must be informed and moral judgment enlightened. A well-formed conscience is upright and truthful. It formulates its judgments according to reason, in conformity with the true good willed by the wisdom of the Creator. the education of conscience is indispensable for human beings who are subjected to negative influences and tempted by sin to prefer their own judgment and to reject authoritative teachings.

1784

Việc giáo dục lương tâm là nhiệm vụ của cả cuộc đời. Ngay từ những năm đầu tiên, việc giáo dục gợi lên cho trẻ em sự nhận biết và thực hành luật nội tâm được lương tâm công nhận. Một nền giáo dục khôn ngoan dạy nhân đức; đề phòng và chữa lành con người khỏi sợ hãi, khỏi yêu mình cách mù quáng (“tính ích kỷ”) và khỏi kiêu căng, khỏi những mặc cảm tội lỗi và thái độ tự mãn, phát sinh từ sự yếu đuối và những lỗi lầm của con người. Việc giáo dục lương tâm bảo đảm cho sự tự do và tạo nên sự bình an trong trái tim.

The education of the conscience is a lifelong task. From the earliest years, it awakens the child to the knowledge and practice of the interior law recognized by conscience. Prudent education teaches virtue; it prevents or cures fear, selfishness and pride, resentment arising from guilt, and feelings of complacency, born of human weakness and faults. the education of the conscience guarantees freedom and engenders peace of heart.

1785

Trong việc huấn luyện lương tâm, Lời Chúa là ánh sáng soi đường cho chúng ta. Chúng ta phải thấm nhuần Lời Chúa vào trong đức tin và kinh nguyện, và phải đem ra thực hành. Chúng ta cũng phải kiểm điểm lương tâm bằng cách nhìn lên thập giá của Chúa. Các hồng ân của Chúa Thánh Thần trợ giúp chúng ta, chúng ta còn được giúp đỡ bởi lời chứng và lời khuyên nhủ của những người khác và được hướng dẫn bởi đạo lý của Hội Thánh được đưa ra một cách có thẩm quyền.

In the formation of conscience the Word of God is the light for our path, we must assimilate it in faith and prayer and put it into practice. We must also examine our conscience before the Lord's Cross. We are assisted by the gifts of the Holy Spirit, aided by the witness or advice of others and guided by the authoritative teaching of the Church.

1786

Lương tâm, đứng trước một lựa chọn luân lý, có thể đưa ra, hoặc một phán đoán ngay chính phù hợp với lý trí và Lề luật thần linh, hoặc trái lại, một phán đoán sai lầm, xa rời lý trí và Lề luật thần linh.

Faced with a moral choice, conscience can make either a right judgment in accordance with reason and the divine law or, on the contrary, an erroneous judgment that departs from them.

1787

Con người đôi khi gặp những hoàn cảnh làm cho phán đoán luân lý không được chắc chắn và khó quyết định. Tuy nhiên, họ phải luôn tìm kiếm điều đúng và tốt, và phân định ra thánh ý của Thiên Chúa được diễn tả trong Lề luật thần linh.

Man is sometimes confronted by situations that make moral judgments less assured and decision difficult. But he must always seriously seek what is right and good and discern the will of God expressed in divine law.

1788

Để đạt được điều này, con người phải cố gắng giải thích các dữ kiện của kinh nghiệm và các dấu chỉ thời đại, nhờ đức khôn ngoan, nhờ những lời khuyên bảo của những người khôn ngoan và nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần và của các hồng ân của Ngài.

To this purpose, man strives to interpret the data of experience and the signs of the times assisted by the virtue of prudence, by the advice of competent people, and by the help of the Holy Spirit and his gifts.

1789

Một số quy tắc được áp dụng trong mọi trường hợp: — Không bao giờ được làm điều xấu để đạt tới điều tốt. — “Khuôn vàng thước ngọc”: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12). — Đức mến luôn đòi hỏi tôn trọng người lân cận và lương tâm của họ. “Như vậy, phạm đến anh em và làm thương tổn lương tâm yếu đuối của họ là phạm đến Đức Kitô” (1 Cr 8,12). “Tốt nhất là... tránh những gì có thể gây cớ cho anh em mình vấp ngã” (Rm 14,21).

Some rules apply in every case: - One may never do evil so that good may result from it; - the Golden Rule: "Whatever you wish that men would do to you, do so to them." - charity always proceeds by way of respect for one's neighbor and his conscience: "Thus sinning against your brethren and wounding their conscience . . . you sin against Christ." Therefore "it is right not to . . . do anything that makes your brother stumble."

1790

Con người phải luôn tuân theo phán đoán chắc chắn của lương tâm mình. Nếu chủ ý hành động nghịch với phán đoán đó, con người tự kết án chính mình. Nhưng có thể lương tâm ở trong tình trạng thiếu hiểu biết, và đưa ra những phán đoán sai lầm về các hành vi phải làm hoặc đã làm.

A human being must always obey the certain judgment of his conscience. If he were deliberately to act against it, he would condemn himself. Yet it can happen that moral conscience remains in ignorance and makes erroneous judgments about acts to be performed or already committed.

1791

Sự thiếu hiểu biết này thường có thể được quy cho trách nhiệm cá vị. Điều đó xảy ra, “khi con người ít lo tìm kiếm điều thật và điều tốt, cũng như khi vì thói quen phạm tội mà lương tâm dần dần hầu như bị mù quáng.” Trong các trường hợp đó, nhân vị bị quy tội vì điều xấu nó đã làm.

This ignorance can often be imputed to personal responsibility. This is the case when a man "takes little trouble to find out what is true and good, or when conscience is by degrees almost blinded through the habit of committing sin." In such cases, the person is culpable for the evil he commits.

1792

Sự thiếu hiểu biết Đức Kitô và Tin Mừng của Người, các gương xấu của kẻ khác, sự nô lệ các đam mê, việc đòi hỏi một sự tự lập hiểu theo nghĩa xấu về lương tâm, việc khước từ thẩm quyền và đạo lý của Hội Thánh, sự thiếu hối cải và bác ái... có thể là nguồn gốc của những lệch lạc của phán đoán trong thái độ luân lý.

Ignorance of Christ and his Gospel, bad example given by others, enslavement to one's passions, assertion of a mistaken notion of autonomy of conscience, rejection of the Church's authority and her teaching, lack of conversion and of charity: these can be at the source of errors of judgment in moral conduct.

1793

Trái lại, nếu sự thiếu hiểu biết là không thể vượt thắng được, hoặc nếu phán đoán sai lầm không do trách nhiệm của chủ thể luân lý, thì nhân vị không thể bị quy tội về điều xấu nó đã làm. Tuy nhiên, điều xấu ấy vẫn là một điều xấu, một khiếm khuyết, một sự vô trật tự. Vậy cần thiết là phải làm sao để lương tâm được sửa chữa khỏi những sai lầm của nó.

If - on the contrary - the ignorance is invincible, or the moral subject is not responsible for his erroneous judgment, the evil committed by the person cannot be imputed to him. It remains no less an evil, a privation, a disorder. One must therefore work to correct the errors of moral conscience.

1794

Lương tâm tốt và trong sạch được soi sáng bởi đức tin chân thật. Vì đức mến xuất phát đồng thời từ “tâm hồn trong sạch, lương tâm ngay thẳng và đức tin không giả hình” (1 Tm 1,5). “Lương tâm ngay thẳng càng chiếm ưu thế thì các nhân vị và các tập thể càng tránh được sự quyết định mù quáng và càng nỗ lực sống phù hợp với những quy định khách quan của luân lý.”

A good and pure conscience is enlightened by true faith, for charity proceeds at the same time "from a pure heart and a good conscience and sincere faith."

1795

“Lương tâm là hạt nhân bí ẩn nhất và là cung thánh của con người, nơi con người ở một mình với Thiên Chúa, và tiếng nói của Ngài vang dội trong thẳm sâu lòng họ.”

"Conscience is man's most secret core, and his sanctuary. There he is alone with God whose voice echoes in his depths" (GS 16).

1796

Lương tâm là sự phán đoán của lý trí, nhờ đó, nhân vị nhận thức được phẩm chất luân lý của một hành vi cụ thể.

Conscience is a judgment of reason by which the human person recognizes the moral quality of a concrete act.

1797

Đối với kẻ làm điều xấu, phán đoán của lương tâm còn là bảo chứng cho sự hối cải và niềm hy vọng.

For the man who has committed evil, the verdict of his conscience remains a pledge of conversion and of hope.

1798

Một lương tâm được huấn luyện tốt thì ngay chính và chân thật. Nó sẽ đưa ra những phán đoán theo lý trí, phù hợp với điều thiện đích thực mà Đấng Tạo hóa khôn ngoan muốn. Mỗi người phải đảm nhận các phương tiện để huấn luyện lương tâm mình.

A well-formed conscience is upright and truthful. It formulates its judgments according to reason, in conformity with the true good willed by the wisdom of the Creator. Everyone must avail himself of the means to form his conscience.

1799

Lương tâm, trước một sự lựa chọn luân lý, có thể đưa ra, hoặc một phán đoán ngay thẳng phù hợp với lý trí và Lề luật thần linh, hoặc trái lại, một phán đoán sai lầm, xa rời lý trí và Lề luật thần linh.

Faced with a moral choice, conscience can make either a right judgment in accordance with reason and the divine law or, on the contrary, an erroneous judgment that departs from them.

1800

Con người luôn phải tuân theo phán đoán chắc chắn của lương tâm mình.

A human being must always obey the certain judgment of his conscience.

1801

Lương tâm có thể ở trong tình trạng thiếu hiểu biết hoặc đưa ra những phán đoán sai lầm. Sự thiếu hiểu biết này và những sai lầm đó không phải luôn tránh được sự quy tội.

Conscience can remain in ignorance or make erroneous judgments. Such ignorance and errors are not always free of guilt.

1802

Lời Chúa là ánh sáng soi đường cho chúng ta. Phải thấm nhuần Lời Chúa vào đức tin và kinh nguyện, và đem ra thực hành. Như vậy, lương tâm được huấn luyện.

The Word of God is a light for our path. We must assimilate it in faith and prayer and put it into practice. This is how moral conscience is formed.