Hỏi Đáp Công Giáo
Đời Sống Trong Đức Kitô · Mười điều răn · “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”
MỤC 1

Điều răn thứ nhất

Số 2052–2141
2052

“Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?” Để trả lời cho người thanh niên đặt câu hỏi, Chúa Giêsu nêu lên trước tiên sự cần thiết phải nhận biết Thiên Chúa như “Đấng tốt lành mà thôi”, như Điều Thiện tuyệt hảo và như nguồn mạch của mọi điều tốt lành. Rồi Chúa Giêsu tuyên bố với người đó: “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn.” Và Người liệt kê các điều răn về tình yêu đối với người lân cận: “Ngươi không được giết người, ngươi không được ngoại tình, ngươi không được trộm cắp, ngươi không được làm chứng gian, ngươi phải thờ cha kính mẹ.” Sau cùng, Chúa Giêsu tóm tắt các điều răn kể trên một cách tích cực rằng: “Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình” (Mt 19,16-19).

"Teacher, what good deed must I do, to have eternal life?" To the young man who asked this question,

2053

Chúa Giêsu còn thêm vào câu trả lời đầu tiên: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời; rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19,21). Câu trả lời này không hủy bỏ câu trả lời trước. Muốn đi theo Đức Kitô, phải tuân giữ các điều răn. Luật cũ không bị bãi bỏ, nhưng con người được mời gọi tìm thấy lại Lề luật nơi con người của Thầy mình, Đấng chu toàn Lề luật cách trọn hảo. Trong ba Tin Mừng Nhất Lãm, lời kêu gọi của Chúa Giêsu ngỏ với anh thanh niên giàu có, để đi theo Người với lòng vâng phục của người môn đệ và tuân giữ các điều răn, còn được kết hợp với lời kêu gọi sống nghèo khó và khiết tịnh. Các lời khuyên Phúc Âm không thể bị tách biệt khỏi các điều răn.

To this first reply Jesus adds a second: "If you would be perfect, go, sell what you possess and give to the

2054

Chúa Giêsu đã lấy lại mười điều răn, nhưng Người đã biểu lộ sức mạnh của Thần Khí đang tác động nơi các mặt chữ ấy; Người đã rao giảng sự công chính “vượt trên sự công chính của các kinh sư và những người Pharisêu”, cũng như sự công chính của các dân ngoại. Người cho thấy tất cả những đòi hỏi của các điều răn. “Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng: chớ giết người... Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa” (Mt 5,21-22).

Jesus acknowledged the Ten Commandments, but he also showed the power of the Spirit at work in

2055

Khi người ta đặt cho Người câu hỏi: “Điều răn nào là điều răn trọng nhất?” (Mt 22,36), Chúa Giêsu đáp: “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi: đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Lề Luật và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22,37-40). Mười Điều Răn phải được giải thích dưới ánh sáng của điều răn, tuy hai nhưng là một, là đức mến, đó là sự viên mãn của Lề Luật: “Các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại, yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13,9-10).

When someone asks him, "Which commandment in the Law is the greatest?" Jesus replies: "You

2056

Từ “Decalogus” theo sát mặt chữ có nghĩa là “Mười lời” (Xh 34,28; Đnl 4,13; 10,4). “Mười lời” này Thiên Chúa đã mặc khải cho dân Ngài trên núi thánh. Ngài đã viết “Mười lời” này “tự ngón tay Ngài”, khác với các mệnh lệnh khác do ông Môsê viết. Mười lời này, theo một nghĩa rất đặc biệt, làm thành những lời của Thiên Chúa. Những lời đó được lưu truyền cho chúng ta trong sách Xuất Hành và sách Đệ Nhị Luật. Từ thời Cựu Ước, các Sách Thánh luôn quy chiếu về “Mười lời”, nhưng trong Tân Ước ý nghĩa đầy đủ của những lời đó sẽ được mặc khải nơi Chúa Giêsu Kitô.

The word "Decalogue" means literally "ten words." God revealed these "ten words" to his people

2057

Trước hết, Mười Điều Răn phải được hiểu trong bối cảnh của cuộc Xuất Hành, là biến cố giải phóng vĩ đại của Thiên Chúa, ở trung tâm của Giao Ước cũ. Dù được viết với tính cách những mệnh lệnh tiêu cực, những cấm đoán, hay với tính cách những mệnh lệnh tích cực (như “ngươi hãy tôn kính cha ngươi và mẹ ngươi”), “Mười lời” chỉ ra những điều kiện cho một đời sống đã được giải thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi. Mười Điều Răn là con đường của sự sống: “Anh (em) phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đi theo đường lối của Ngài, và tuân giữ các mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định của Ngài, để anh (em) được sống, được thêm đông đúc” (Đnl 30,16). Sức mạnh giải thoát này của Mười Điều Răn xuất hiện, thí dụ trong điều răn nghỉ ngày sabát, áp dụng cho cả các ngoại kiều và các nô lệ: “Ngươi hãy nhớ, ngươi đã làm nô lệ tại đất Ai Cập, và Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã dang cánh tay mạnh mẽ, uy quyền đưa ngươi ra khỏi đó” (Đnl 5,15).

The Decalogue must first be understood in the context of the Exodus, God's great liberating event at

2058

“Mười lời” tóm tắt và công bố Lề Luật của Thiên Chúa: “Những lời ấy, Chúa đã phán với toàn thể đại hội anh em, trên núi, từ trong đám lửa, giữa mây đen mù mịt, Ngài nói lớn tiếng và không thêm gì cả. Ngài đã viết những lời ấy trên hai bia đá, và ban cho tôi” (Đnl 5,22). Vì vậy, hai bia này được gọi là “Chứng Ước” (Xh 25,16). Những bia đó chứa đựng các điều khoản của Giao Ước đã được ký kết giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Các “Bia Chứng Ước” (Xh 31,18; 32,15; 34,29) này phải được đặt vào “Hòm Bia” (Xh 25,16; 40,1-2).

The "ten words" sum up and proclaim God's law: "These words the Lord spoke to all your assembly at the mountain out of the midst of the fire, the cloud, and the thick darkness, with a loud voice; and he added no more. and he wrote them upon two tables of stone, and gave them to me." For this reason these two tables are called "the Testimony." In fact, they contain the terms of the covenant concluded between God and his people. These "tables of the Testimony" were to be deposited in "the ark."

2059

“Mười lời” được Thiên Chúa công bố trong một cuộc thần hiện (“Chúa đã phán với anh em, mặt đối mặt, trên núi, từ trong đám lửa”: Đnl 5,4). Mười lời này thuộc về mặc khải, Thiên Chúa tỏ cho biết về chính Ngài và về vinh quang của Ngài. Khi ban các điều răn, Thiên Chúa ban tặng chính mình Ngài và thánh ý của Ngài. Khi tỏ cho biết các thánh ý Ngài, Thiên Chúa mặc khải chính mình cho dân Ngài.

The "ten words" are pronounced by God in the midst of a theophany (“The LORD spoke with you face to face at the mountain, out of the midst of the fire."). They belong to God's revelation of himself and his glory. the gift of the Commandments is the gift of God himself and his holy will. In making his will known, God reveals himself to his people.

2060

Việc ban tặng các điều răn và Lề Luật là thành phần của Giao Ước được ký kết bởi Thiên Chúa với dân Ngài. Theo sách Xuất Hành, việc mặc khải “Mười lời” được ban giữa việc chuẩn bị lập giao ước và việc kết thúc giao ước - sau khi dân đã cam kết “thi hành” điều Chúa phán và “tuân phục” điều đó. Mười Điều Răn chỉ được lưu truyền sau khi nhắc nhớ đến Giao Ước. (“Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã lập một Giao Ước với chúng ta tại núi Horeb”: Đnl 5,2).

The gift of the commandments and of the Law is part of the covenant God sealed with his own. In Exodus, the revelation of the "ten words" is granted between the proposal of the covenant and its conclusion - after the people had committed themselves to "do" all that the Lord had said, and to "obey" it. The Decalogue is never handed on without first recalling the covenant (“The LORD our God made

2061

Các điều răn nhận được ý nghĩa đầy đủ của nó trong Giao Ước. Theo Thánh Kinh, cách hành động theo luân lý của con người có được đầy đủ ý nghĩa của nó trong và nhờ Giao Ước. Điều thứ nhất của “Mười lời” nhắc lại rằng chính Thiên Chúa đã yêu thương dân Ngài trước: “Chính vì hình phạt tội lỗi là sự kiện chuyển từ địa đàng của sự tự do sang tình trạng nô lệ của trần gian này, mà câu đầu tiên của Mười Điều Răn, lời thứ nhất của các lệnh truyền của Thiên Chúa, nói đến tự do: ‘Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ’ (Xh 20,2; Đnl 5,6).”

The Commandments take on their full meaning within the covenant. According to Scripture, man's

2062

Các điều răn theo nghĩa hẹp chỉ giữ vai trò thứ yếu; chúng diễn tả những hệ luận của việc con người thuộc về Thiên Chúa như Giao Ước quy định. Đời sống luân lý là lời đáp cho khởi xướng đầy yêu thương của Chúa. Đó là sự nhận biết, sự suy phục Thiên Chúa và thờ phượng tạ ơn. Đó là sự cộng tác vào dự định mà Thiên Chúa đang theo đuổi trong lịch sử.

The Commandments properly so-called come in the second place: they express the implications of

2063

Giao Ước và cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa với con người cũng được xác nhận qua sự kiện là tất cả các bổn phận đều được phát biểu ở ngôi thứ nhất (“Ta là Chúa...”) và nói với một chủ thể khác (“Ngươi...”). Trong tất cả các điều răn của Thiên Chúa, đại từ nhân xưng ở số ít để chỉ người đón nhận. Khi bày tỏ thánh ý cho toàn dân, Thiên Chúa cũng đồng thời bày tỏ thánh ý của Ngài cho riêng từng cá nhân một: “Chúa truyền dạy phải yêu mến Thiên Chúa và dạy giữ sự công bằng đối với người lân cận, để con người khỏi bất chính và bất xứng trước mặt Thiên Chúa. Như vậy, nhờ Mười Điều Răn, Thiên Chúa huấn luyện để con người sống trong tình bằng hữu với Ngài và hòa thuận với người lân cận... Và vì vậy, những lời của Mười Điều Răn vẫn trường tồn đối với chúng ta (các Kitô hữu), những lời đó không bị hủy bỏ, nhưng được mở rộng và triển nở nhờ cuộc Ngự đến của Chúa trong xác phàm.”

The covenant and dialogue between God and man are also attested to by the fact that all the obligations

2064

Trung thành với Sách Thánh và theo gương Chúa Giêsu, Truyền thống Hội Thánh nhìn nhận Mười Điều Răn có tầm quan trọng và ý nghĩa hàng đầu.

In fidelity to Scripture and in conformity with the example of Jesus, the tradition of the Church has

2065

Từ thời thánh Augustinô, “Mười Điều Răn” đã có một vị trí quan trọng trong việc dạy giáo lý cho dự tòng và tín hữu. Vào thế kỷ XV, Mười Điều Răn quen được diễn tả bằng những công thức tích cực, theo văn vần, dễ nhớ, vẫn còn thông dụng ở nhiều nơi tới ngày nay. Các sách giáo lý của Hội Thánh thường trình bày luân lý Kitô Giáo theo thứ tự của “Mười Điều Răn.”

Ever since St. Augustine, the Ten Commandments have occupied a predominant place in the catechesis of baptismal candidates and the faithful. In the fifteenth century, the custom arose of expressing the commandments of the Decalogue in rhymed formulae, easy to memorize and in positive form. They are still in use today. the catechisms of the Church have often expounded Christian morality by following the order of the Ten Commandments.

2066

Việc phân chia và đánh số các điều răn có thay đổi theo dòng thời gian. Sách Giáo Lý này dựa theo cách phân chia của thánh Augustinô đã trở thành truyền thống trong Hội Thánh Công Giáo. Các hệ phái Luther cũng theo cách phân chia này. Các Giáo phụ Hi lạp phân chia hơi khác; cách phân chia đó còn gặp thấy trong các Giáo Hội Chính thống và các cộng đoàn Cải cách.

The division and numbering of the Commandments have varied in the course of history. the present catechism follows the division of the Commandments established by St. Augustine, which has become traditional in the Catholic Church. It is also that of the Lutheran confessions. the Greek Fathers worked out a slightly different division, which is found in the Orthodox Churches and Reformed communities.

2067

Mười Điều Răn nêu ra các đòi hỏi của lòng mến Chúa yêu người. Ba điều răn đầu đề cập đến tình yêu đối với Thiên Chúa, và bảy điều răn sau, đến tình yêu đối với người lân cận. “Cũng như Chúa đã đúc kết tất cả Lề Luật và các Tiên tri vào trong hai điều răn của lòng yêu mến..., thì cũng vậy, Mười Điều Răn được ban trong hai bảng. Ba điều được khắc trên một bảng, và bảy điều trên bảng kia.”

The Ten Commandments state what is required in the love of God and love of neighbor. the first three concern love of God, and the other seven love of neighbor.

2068

Công đồng Triđentinô dạy rằng: các Kitô hữu buộc phải giữ Mười Điều Răn, và người đã được công chính hóa cũng có bổn phận phải tuân giữ các điều răn ấy. Công đồng Vaticanô II cũng khẳng định: “Các Giám mục vì là những vị kế nhiệm các Tông Đồ, nhận từ nơi Chúa... sứ vụ dạy dỗ muôn dân và rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo, để mọi người được cứu độ nhờ đức tin, Phép Rửa và việc chu toàn các Điều Răn.”

The Council of Trent teaches that the Ten Commandments are obligatory for Christians and that the

2069

Mười Điều Răn tạo thành một tổng thể thống nhất không thể tách biệt. Mỗi “lời” quy chiếu về từng lời và về tất cả các lời khác; các lời tương thuộc lẫn nhau. Hai Bảng Luật soi sáng cho nhau, hợp thành một tổng thể thống nhất hữu cơ. Vi phạm một điều răn là vi phạm tất cả các điều răn khác. Không thể tôn trọng người khác mà không chúc tụng Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa của họ. Không thể tôn thờ Thiên Chúa mà không yêu thương tất cả mọi người là thụ tạo của Ngài. Mười Điều Răn thống nhất đời sống đối thần với đời sống xã hội của con người.

The Decalogue forms a coherent whole. Each "word" refers to each of the others and to all of them; they

2070

Mười Điều Răn thuộc về mặc khải của Thiên Chúa; đồng thời dạy chúng ta biết nhân tính đích thực của con người. Mười Điều Răn làm sáng tỏ những bổn phận thiết yếu, do đó, một cách gián tiếp, cho thấy những quyền căn bản gắn liền với bản tính của nhân vị. Mười Điều Răn là một cách trình bày đặc sắc của “luật tự nhiên”: “Từ nguyên thủy, Thiên Chúa đã ghi sâu trong lòng người các lệnh truyền của luật tự nhiên - mà nếu không thi hành thì không được cứu độ -. Sau đó Ngài chỉ cần nhắc lại các điều luật ấy cho họ. Đó chính là Mười Điều Răn.”

The Ten Commandments belong to God's revelation. At the same time they teach us the true humanity

2071

Mười Điều Răn là mặc khải của Thiên Chúa, dù với lý trí con người có thể tự biết được, nhưng để hiểu biết đầy đủ và chắc chắn về các đòi hỏi của luật tự nhiên, loài người tội lỗi cần đến mặc khải này: “Trong tình trạng tội lỗi, ánh sáng lý trí bị lu mờ và ý chí bị sai lệch, con người cần đến một trình bày đầy đủ về các điều khoản của Mười Điều Răn.” Chúng ta biết được các điều răn của Thiên Chúa nhờ mặc khải thần linh được trình bày trong Hội Thánh và nhờ tiếng nói của lương tâm.

The commandments of the Decalogue, although accessible to reason alone, have been revealed. To

2072

Vì nêu lên những bổn phận căn bản của con người đối với Thiên Chúa và đối với người lân cận, Mười Điều Răn, trong nội dung chính yếu của nó, mặc khải những nghĩa vụ quan trọng. Mười Điều Răn, một cách căn bản, là bất biến và có giá trị bắt buộc mọi lúc và mọi nơi. Không ai có thể miễn chuẩn Mười Điều Răn, đã được Thiên Chúa ghi khắc trong trái tim con người.

Since they express man's fundamental duties towards God and towards his neighbor, the Ten

2073

Việc tuân phục các điều răn cũng bao hàm những bắt buộc mà theo chất liệu tự nó là nhẹ. Chẳng hạn điều răn thứ năm cấm nhục mạ kẻ khác bằng lời nói; điều này không thể là một lỗi phạm nghiêm trọng nếu không do các hoàn cảnh hoặc ý hướng của người nói lời nhục mạ đó.

Obedience to the Commandments also implies obligations in matter which is, in itself, light. Thus

2074

Chúa Giêsu nói: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Hoa trái được nói đến trong lời này là sự thánh thiện của một đời sống được sinh sôi nảy nở nhờ kết hợp với Đức Kitô. Khi chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, chúng ta truyền thông các mầu nhiệm của Người và tuân giữ các điều răn của Người, thì chính Người là Đấng Cứu Độ đến trong chúng ta để yêu thương Cha Người và các anh em Người, cũng là Cha chúng ta và các anh em chúng ta. Nhờ Thần Khí, bản thân Chúa Giêsu trở thành quy luật sống động và nội tâm cho cách hành động của chúng ta. “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).

Jesus says: "I am the vine, you are the branches. He who abides in me, and I in him, he it is that bears

2075

“Tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?” - “Nếu anh... muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn” (Mt 19,16-17).

"What good deed must I do, to have eternal life?" - "If you would enter into life, keep the commandments" (Mt 19:16-17).

2076

Qua cách hành động và lời giảng dạy của Người, Chúa Giêsu đã xác nhận giá trị trường tồn của Mười Điều Răn.

By his life and by his preaching Jesus attested to the permanent validity of the Decalogue.

2077

Việc ban Mười Điều Răn được thực hiện giữa Giao Ước được Thiên Chúa ký kết với dân Ngài. Các Điều Răn của Thiên Chúa nhận được ý nghĩa đích thực của chúng trong Giao Ước và nhờ Giao Ước.

The gift of the Decalogue is bestowed from within the covenant concluded by God with his people. God's commandments take on their true meaning in and through this covenant.

2078

Trung thành với Thánh Kinh và theo gương Chúa Giêsu, Truyền thống Hội Thánh nhìn nhận Mười Điều Răn có tầm quan trọng và ý nghĩa hàng đầu.

In fidelity to Scripture and in conformity with Jesus' example, the tradition of the Church has always

2079

Mười Điều Răn tạo thành một tổng thể thống nhất hữu cơ, trong đó mỗi “lời” hay ”điều răn” đều quy chiếu về toàn thể. Vi phạm một điều răn là vi phạm toàn bộ lề luật.

The Decalogue forms an organic unity in which each "word" or "commandment" refers to all the others

2080

Mười Điều Răn là một cách diễn đạt đặc sắc của luật tự nhiên. Chúng ta biết được Mười Điều Răn nhờ mặc khải của Thiên Chúa và nhờ lý trí của con người.

The Decalogue contains a privileged expression of the natural law. It is made known to us by divine

2081

Trong nội dung căn bản của chúng, Mười Điều Răn đưa ra những bắt buộc quan trọng. Tuy nhiên, việc tuân giữ các điều răn này cũng bao hàm những bắt buộc mà theo chất liệu tự nó là nhẹ.

The Ten Commandments, in their fundamental content, state grave obligations. However, obedience

2082

Điều gì Thiên Chúa truyền dạy, Ngài đều ban ân sủng để chúng ta có thể thực hiện.

What God commands he makes possible by his grace.

2083

Chúa Giêsu tóm tắt các bổn phận của con người đối với Thiên Chúa bằng giới răn này: “Ngươi phải yêu mến ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi” (Mt 22,37). Đây là âm vang trực tiếp của lời hiệu triệu long trọng: “Nghe đây, hỡi Ítraen! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất” (Đnl 6,4). Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Tình yêu của Thiên Chúa duy nhất được nhắc đến trong lời thứ nhất của “Mười lời.” Các điều răn sau đó giải thích câu trả lời của tình yêu mà con người được kêu gọi để đáp lại Thiên Chúa.

Jesus summed up man's duties toward God in this saying: "You shall love the Lord your God with all your heart, and with all your soul, and with all your mind." This immediately echoes the solemn call: "Hear, O Israel: the LORD our God is one LORD." God has loved us first. the love of the One God is recalled in the first of the "ten words." the commandments then make explicit the response of love that man is called to give to his God.

2084

Thiên Chúa tự mặc khải bằng cách nhắc lại hành động đầy quyền năng, nhân hậu và giải phóng của Ngài trong lịch sử: “Ta đã đưa ngươi ra khỏi Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ” (Đnl 5,6). Lời đầu tiên chứa đựng giới răn thứ nhất của Lề luật: “Chính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em) là Đấng anh (em) phải kính sợ, chính Ngài là Đấng anh (em) phải phụng thờ... Anh em không được theo những thần khác” (Đnl 6,13-14). Lời hiệu triệu đầu tiên và đòi hỏi chính đáng của Thiên Chúa là con người phải đón nhận và tôn thờ Ngài.

God makes himself known by recalling his all-powerful loving, and liberating action in the history of the one he addresses: "I brought you out of the land of Egypt, out of the house of bondage." the first word contains the first commandment of the Law: "You shall fear the LORD your God; you shall serve him.... You shall not go after other gods." God's first call and just demand is that man accept him and worship him.

2085

Thiên Chúa duy nhất và chân thật trước hết mặc khải vinh quang của Ngài cho Ítraen. Mặc khải về ơn gọi và chân lý về con người được gắn liền với mặc khải về Thiên Chúa. Con người có ơn gọi phải biểu lộ Thiên Chúa qua cách hành động của mình, phù hợp với việc mình được tạo dựng “theo hình ảnh và giống như” Thiên Chúa (St 1,26): “Thưa ông Triphon, chưa bao giờ có Thiên Chúa nào khác và từ muôn đời, cũng không hề có Thiên Chúa nào khác (...) ngoài Đấng đã tạo dựng và xếp đặt vũ trụ. Chúng tôi không nghĩ rằng Thiên Chúa của chúng tôi khác với Thiên Chúa của ông. Chính Ngài là Đấng đã đưa tổ tiên ông ra khỏi đất Ai Cập ‘bằng bàn tay hùng mạnh và cánh tay giương cao’. Chúng tôi không đặt hy vọng vào bất cứ vị nào khác, vì không có, nhưng vào cùng một Đấng là Thiên Chúa của ông, Thiên Chúa của các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp.”

The one and true God first reveals his glory to Israel. The revelation of the vocation and truth of man is linked to the revelation of God. Man's vocation is to make God manifest by acting in conformity with his creation "in the image and likeness of God":

2086

“Điều răn thứ nhất bao gồm đức tin, đức cậy và đức mến. Vì khi chúng ta nói đến Thiên Chúa, là chúng ta tuyên xưng một cách đúng đắn không sai sót, Ngài là Đấng thường hằng, bất biến, mãi mãi vẫn là chính Ngài, trung tín; do đó, khi chúng ta đón nhận các sấm ngôn của Ngài, thì cần thiết là chúng ta phải hoàn toàn tin vào Ngài và nhận biết quyền bính của Ngài. Thật vậy, ai chiêm ngắm quyền năng, lòng nhân hậu và việc thi ân giáng phúc của Ngài, mà lại có thể không đặt trọn tất cả hy vọng nơi Ngài? Và ai chiêm ngưỡng kho tàng của sự tốt lành và lòng yêu thương của Ngài, đã được tuôn đổ trên chúng ta, mà lại có thể không yếu mến Ngài? Vì vậy, cả khi khởi đầu, cả khi kết thúc các điều Ngài truyền dạy trong Thánh Kinh, Thiên Chúa dùng lời này: Ta là Chúa.”

"The first commandment embraces faith, hope, and charity. When we say 'God' we confess a constant, unchangeable being, always the same, faithful and just, without any evil. It follows that we must necessarily accept his words and have complete faith in him and acknowledge his authority. He is almighty, merciful, and infinitely beneficent. Who could not place all hope in him? Who could not love him when contemplating the treasures of goodness and love he has poured out on us? Hence the formula God employs in the Scripture at the beginning and end of his commandments: 'I am the LORD.'"

2087

Đời sống luân lý của chúng ta bắt nguồn từ đức tin vào Thiên Chúa, Đấng mặc khải tình yêu của Ngài cho chúng ta. Thánh Phaolô nói đến sự vâng phục của đức tin như là nghĩa vụ hàng đầu. Thánh nhân cho thấy rằng chính sự “không nhận biết Thiên Chúa” là nguyên nhân và lời giải thích cho mọi lệch lạc luân lý. Bổn phận của chúng ta đối với Thiên Chúa là tin vào Ngài và làm chứng về Ngài.

Our moral life has its source in faith in God who reveals his love to us. St. Paul speaks of the "obedience of faith" as our first obligation. He shows that "ignorance of God" is the principle and explanation of all moral deviations. Our duty toward God is to believe in him and to bear witness to him.

2088

Điều răn thứ nhất đòi hỏi chúng ta, một cách khôn ngoan và tỉnh thức, phải nuôi dưỡng và giữ gìn đức tin của chúng ta, và phải loại bỏ tất cả những gì nghịch với đức tin. Có nhiều cách phạm tội nghịch với đức tin: Cố tình nghi ngờ trong lãnh vực đức tin là tội thờ ơ hay không nhìn nhận những điều Thiên Chúa đã mặc khải và Hội Thánh dạy phải tin, là chân thật. Vô tình nghi ngờ là sự do dự khi tin, là sự khó khăn khi vượt qua những vấn nạn về đức tin hay thậm chí sự lo lắng do bóng tối của đức tin gợi lên. Sự nghi ngờ, nếu được cổ võ cách có chủ ý, có thể dẫn tới sự mù quáng của tâm trí.

The first commandment requires us to nourish and protect our faith with prudence and vigilance, and to reject everything that is opposed to it. There are various ways of sinning against faith: Voluntary doubt about the faith disregards or refuses to hold as true what God has revealed and the Church proposes for belief. Involuntary doubt refers to hesitation in believing, difficulty in overcoming objections connected with the faith, or also anxiety aroused by its obscurity. If deliberately cultivated doubt can lead to spiritual blindness.

2089

Sự vô tín là thờ ơ với chân lý mặc khải hay cố tình từ chối chấp nhận chân lý đó. “Lạc giáo là ngoan cố chối bỏ một chân lý phải tin với đức tin đối thần và Công Giáo hoặc ngoan cố hồ nghi về chân lý ấy sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội; bội giáo là chối bỏ toàn bộ đức tin Kitô Giáo; ly giáo là từ chối vâng phục Đức Giáo Hoàng hoặc từ chối hiệp thông với các chi thể của Hội Thánh thuộc quyền ngài.”

Incredulity is the neglect of revealed truth or the willful refusal to assent to it. "Heresy is the obstinate post-baptismal denial of some truth which must be believed with divine and catholic faith, or it is likewise an obstinate doubt concerning the same; apostasy is the total repudiation of the Christian faith; schism is the refusal of submission to the Roman Pontiff or of communion with the members of the Church subject to him."

2090

Khi Thiên Chúa tự mặc khải và kêu gọi con người, con người không thể đáp lại trọn vẹn tình yêu thần linh bằng sức riêng mình. Họ phải trông cậy, Thiên Chúa sẽ ban cho họ khả năng để yêu lại Ngài và khả năng để hành động theo các giới răn của đức mến. Đức cậy là sự mong đợi đầy tin tưởng sự chúc lành của Thiên Chúa và sự vinh phúc hưởng kiến Thiên Chúa; đức cậy cũng là việc sợ xúc phạm đến tình yêu của Thiên Chúa và sợ bị trừng phạt.

When God reveals Himself and calls him, man cannot fully respond to the divine love by his own powers. He must hope that God will give him the capacity to love Him in return and to act in conformity with the commandments of charity. Hope is the confident expectation of divine blessing and the beatific vision of God; it is also the fear of offending God's love and of incurring punishment.

2091

Điều răn thứ nhất cũng nhắm đến các tội nghịch với đức cậy, là sự ngã lòng và sự tự phụ: Bằng sự ngã lòng, con người không còn hy vọng Thiên Chúa sẽ ban ơn cứu độ cho mình, không còn hy vọng những sự trợ giúp để mình đạt tới ơn cứu độ, hay không còn hy vọng ơn tha thứ các tội lỗi của mình. Điều này nghịch với sự tốt lành của Thiên Chúa, nghịch với sự công chính của Ngài - bởi vì Thiên Chúa luôn trung tín với các lời hứa của Ngài -, và nghịch với lòng thương xót của Ngài.

The first commandment is also concerned with sins against hope, namely, despair and presumption: By despair, man ceases to hope for his personal salvation from God, for help in attaining it or for the forgiveness of his sins. Despair is contrary to God's goodness, to his justice - for the Lord is faithful to his promises - and to his mercy.

2092

Có hai loại tự phụ. Hoặc con người quá cậy dựa vào các khả năng của mình (hy vọng mình có thể được cứu độ mà không cần sự trợ giúp của ơn trên), hoặc ỷ lại vào sự toàn năng và lòng thương xót của Thiên Chúa (hy vọng sẽ đạt được ơn tha thứ của Ngài mà không cần hối cải và đạt tới vinh quang của Ngài mà không cần lập công).

There are two kinds of presumption. Either man presumes upon his own capacities, (hoping to be able to save himself without help from on high), or he presumes upon God's almighty power or his mercy (hoping to obtain his forgiveness without conversion and glory without merit).

2093

Đức tin vào tình yêu Thiên Chúa bao hàm ơn gọi và sự bắt buộc phải đáp lại tình yêu của Thiên Chúa bằng một đức mến chân thành. Điều răn thứ nhất dạy chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, và yêu mến mọi thụ tạo nhờ Ngài và vì Ngài.

Faith in God's love encompasses the call and the obligation to respond with sincere love to divine charity. the first commandment enjoins us to love God above everything and all creatures for him and because of him.

2094

Người ta có thể phạm tội nghịch với tình yêu Thiên Chúa bằng nhiều cách: — Sự lãnh đạm là tội thờ ơ hay từ chối không quan tâm đến tình yêu của Thiên Chúa, không công nhận tình yêu đó luôn đi bước trước và phủ nhận sức mạnh của tình yêu đó. — Sự vô ơn là tội quên lãng hay từ chối nhận biết tình yêu của Thiên Chúa và quên lãng hay từ chối đáp lại tình yêu này bằng tình yêu của mình. — Sự nguội lạnh là tội do dự hay thờ ơ trong việc đáp lại tình yêu của Thiên Chúa, cũng có thể bao hàm sự từ chối dấn thân theo đức mến. — Sự lười biếng hay uể oải về mặt thiêng liêng có thể đưa tới sự từ khước niềm vui xuất phát từ Thiên Chúa và khinh chê sự thiện hảo của Thiên Chúa. — Sự căm ghét Thiên Chúa là do kiêu ngạo, chống lại tình yêu của Ngài, phủ nhận sự tốt lành của Ngài và cố ý nguyền rủa Thiên Chúa, Đấng cấm các tội lỗi và đặt ra các hình phạt.

One can sin against God's love in various ways: - indifference neglects or refuses to reflect on divine charity; it fails to consider its prevenient goodness and denies its power. - ingratitude fails or refuses to acknowledge divine charity and to return him love for love. - lukewarmness is hesitation or negligence in responding to divine love; it can imply refusal to give oneself over to the prompting of charity. - acedia or spiritual sloth goes so far as to refuse the joy that comes from God and to be repelled by divine goodness. - hatred of God comes from pride. It is contrary to love of God, whose goodness it denies, and whom it presumes to curse as the one who forbids sins and inflicts punishments.

2095

Các nhân đức đối thần “tin, cậy, mến” định hình và đem lại sức sống cho các nhân đức luân lý. Như vậy, đức mến đưa dẫn chúng ta đến chỗ trả lại cho Thiên Chúa điều mà, vì là các thụ tạo, chúng ta mắc nợ Ngài theo đức công bằng. Nhân đức thờ phượng giúp chúng ta sống tâm tình này.

The theological virtues of faith, hope, and charity inform and give life to the moral virtues. Thus charity leads us to render to God what we as creatures owe him in all justice. the virtue of religion disposes us to have this attitude.

2096

Hành vi đầu tiên của nhân đức thờ phượng là thờ lạy. Thờ lạy Thiên Chúa, nghĩa là nhận biết Ngài là Thiên Chúa, là Đấng Tạo hóa và Cứu Độ, là Chúa và Chúa tể của mọi loài đang hiện hữu, là Tình Yêu vô biên và hay thương xót. Dựa vào sách Đệ Nhị Luật (Đnl 6,13), Chúa Giêsu nói: “Ngươi phải bái lạy ĐỨC CHÚA, là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi” (Lc 4,8).

Adoration is the first act of the virtue of religion. To adore God is to acknowledge him as God, as the Creator and Savior, the Lord and Master of everything that exists, as infinite and merciful Love. "You shall worship the Lord your God, and him only shall you serve," says Jesus, citing Deuteronomy.

2097

Thờ lạy Thiên Chúa là tôn kính và tuyệt đối quy phục Ngài vì nhận biết “tính hư vô của thụ tạo”, nghĩa là thụ tạo không thể hiện hữu nếu không bởi Thiên Chúa. Thờ lạy Thiên Chúa là ca ngợi Ngài, như Đức Maria trong kinh “Magnificat” (“Linh hồn tôi ngợi khen ĐỨC CHÚA”), là chúc tụng Ngài, hạ mình khiêm tốn tuyên xưng với lòng biết ơn rằng Thiên Chúa đã làm những việc trọng đại và Danh Ngài chí thánh. Việc thờ lạy Thiên Chúa duy nhất giải thoát con người khỏi thái độ tự khép kín, khỏi ách nô lệ tội lỗi và khỏi tội thờ ngẫu tượng là trần gian.

To adore God is to acknowledge, in respect and absolute submission, the "nothingness of the creature" who would not exist but for God. To adore God is to praise and exalt him and to humble oneself, as Mary did in the Magnificat, confessing with gratitude that he has done great things and holy is his name. The worship of the one God sets man free from turning in on himself, from the slavery of sin and the idolatry of the world.

2098

Các hành vi tin, cậy, mến, mà điều răn thứ nhất truyền dạy, được chu toàn trong kinh nguyện. Nâng tâm hồn lên tới Thiên Chúa là cách diễn tả việc chúng ta thờ lạy Ngài: lời kinh ca ngợi và tạ ơn, lời kinh chuyển cầu và cầu xin. Cầu nguyện là điều kiện hết sức cần thiết để có thể tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa: “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1).

The acts of faith, hope, and charity enjoined by the first commandment are accomplished in prayer. Lifting up the mind toward God is an expression of our adoration of God: prayer of praise and thanksgiving, intercession and petition. Prayer is an indispensable condition for being able to obey God's commandments. " (We) ought always to pray and not lose heart."

2099

Là điều chính đáng, việc dâng lên Thiên Chúa những hy lễ với tính cách là dấu chỉ của việc thờ lạy và tạ ơn, khẩn cầu và hiệp thông: “Mọi công việc được thực hiện để được gắn bó với Thiên Chúa trong sự hiệp thông thánh thiện và như vậy, chúng ta có thể được hạnh phúc, đều là hy lễ đích thực.”

It is right to offer sacrifice to God as a sign of adoration and gratitude, supplication and communion: "Every action done so as to cling to God in communion of holiness, and thus achieve blessedness, is a true sacrifice."

2100

Hy lễ bên ngoài, để có thể là hy lễ thật, phải là sự diễn tả của hy lễ tinh thần: “Tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát...” (Tv 51,19). Các tiên tri thời Giao Ước cũ thường tố cáo các hy lễ được thực hiện mà không có sự tham dự nội tâm hay không được liên kết với tình yêu đối với người lân cận. Chúa Giêsu nhắc lại lời của tiên tri Ôsê: “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9,13; 12,7). Chỉ có một hy lễ trọn hảo duy nhất là hy lễ Đức Kitô đã dâng trên thập giá, bằng sự tận hiến cho tình yêu của Chúa Cha và để cứu độ chúng ta. Khi chúng ta kết hợp mình với hy lễ của Người, chúng ta có thể biến cuộc đời mình thành hy lễ dâng lên Thiên Chúa.

Outward sacrifice, to be genuine, must be the expression of spiritual sacrifice: "The sacrifice acceptable to God is a broken spirit...." The prophets of the Old Covenant often denounced sacrifices that were not from the heart or not coupled with love of neighbor. Jesus recalls the words of the prophet Hosea: "I desire mercy, and not sacrifice." The only perfect sacrifice is the one that Christ offered on the cross as a total offering to the Father's love and for our salvation. By uniting ourselves with his sacrifice we can make our lives a sacrifice to God.

2101

Trong nhiều hoàn cảnh, Kitô hữu được kêu gọi để tuyên các lời hứa với Thiên Chúa. Các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức, Hôn Phối và Truyền Chức Thánh luôn kèm theo những lời hứa. Do lòng đạo đức cá nhân, Kitô hữu cũng có thể hứa với Thiên Chúa để thực hiện một hành vi, một kinh nguyện, việc bố thí, việc hành hương, v.v... Việc trung thành tuân giữ các lời đã hứa với Thiên Chúa chứng tỏ sự tôn trọng đối với uy linh Thiên Chúa và đối với tình yêu dâng lên Thiên Chúa hằng trung tín.

In many circumstances, the Christian is called to make promises to God. Baptism and Confirmation, Matrimony and Holy Orders always entail promises. Out of personal devotion, the Christian may also promise to God this action, that prayer, this alms-giving, that pilgrimage, and so forth. Fidelity to promises made to God is a sign of the respect owed to the divine majesty and of love for a faithful God.

2102

“Lời khấn tức là lời hứa, có suy nghĩ và tự do, với Thiên Chúa về một điều thiện khả thi và tốt hơn; vì thuộc về nhân đức thờ phượng, lời khấn phải được thực hiện.” Lời khấn là một hành vi đạo đức, nhờ đó Kitô hữu tự hiến cho Thiên Chúa hay hứa thực hiện một điều thiện dâng kính Ngài. Vì vậy, bằng việc chu toàn các lời khấn của mình, họ dâng lên Thiên Chúa điều họ đã hứa và đã được thánh hiến cho Ngài. Sách Công Vụ Tông Đồ cho chúng ta thấy thánh Phaolô lo lắng chu toàn những điều ngài đã khấn.

"A vow is a deliberate and free promise made to God concerning a possible and better good which must be fulfilled by reason of the virtue of religion," A vow is an act of devotion in which the Christian dedicates himself to God or promises him some good work. By fulfilling his vows he renders to God what has been promised and consecrated to Him. the Acts of the Apostles shows us St. Paul concerned to fulfill the vows he had made.

2103

Hội Thánh công nhận giá trị gương mẫu của những lời khấn sống theo các lời khuyên Phúc âm: “Hội Thánh là Mẹ chúng ta, vui mừng khi thấy trong lòng mình có nhiều con cái nam nữ muốn theo sát hơn và tỏ lộ cách rõ ràng sự tự hủy của Đấng Cứu Độ, khi chấp nhận sự nghèo khó trong sự tự do của con cái Thiên Chúa và từ bỏ ý riêng: họ tự nguyện tùng phục một con người vì Thiên Chúa trong vấn đề nên trọn lành, hơn cả mức đòi buộc của giới răn, hầu nên giống cách trọn vẹn hơn với Đức Kitô, Đấng vâng phục.” Trong một số trường hợp, Hội Thánh có thể miễn chuẩn những lời khấn và lời hứa, vì những lý do tương xứng.

The Church recognizes an exemplary value in the vows to practice the evangelical counsels:

2104

“Mọi người đều buộc phải đi tìm chân lý, đặc biệt là những gì liên quan tới Thiên Chúa và Hội Thánh của Ngài. Khi đã nhận ra chân lý, họ phải tiếp nhận và trung thành tuân giữ.” Bổn phận này xuất phát từ “chính bản tính của con người.” Bổn phận này không mâu thuẫn với sự chân thành tôn trọng các tôn giáo khác “thường cũng mang lại những tia sáng của chân lý đang chiếu soi cho mọi người” và cũng không mâu thuẫn với đức mến đang thúc bách các Kitô hữu “phải xử sự cách yêu thương, khôn ngoan, kiên nhẫn đối với những ai còn lầm lạc hay thiếu hiểu biết về vấn đề đức tin.”

"All men are bound to seek the truth, especially in what concerns God and his Church, and to embrace it and hold on to it as they come to know it." This duty derives from "the very dignity of the human person." It does not contradict a "sincere respect" for different religions which frequently "reflect a ray of that truth which enlightens all men," nor the requirement of charity, which urges Christians "to treat with love, prudence and patience those who are in error or ignorance with regard to the faith."

2105

Bổn phận phải dành cho Thiên Chúa sự tôn thờ đích thực liên quan đến con người xét theo cá nhân cũng như xã hội. Đây là “đạo lý truyền thống công giáo về bổn phận luân lý của con người và của xã hội đối với tôn giáo thật và Hội Thánh duy nhất của Đức Kitô.” Khi không ngừng loan báo Tin Mừng cho con người, Hội Thánh cố gắng làm sao để con người “có thể làm cho tinh thần Kitô Giáo thấm nhuần vào các tâm trí, phong tục, luật lệ và cơ cấu của cộng đoàn nơi họ sống.” Bổn phận xã hội của các Kitô hữu là tôn trọng và khơi dậy nơi mỗi người tình yêu đối với chân lý và điều thiện hảo. Bổn phận này buộc họ phải truyền bá nền phụng tự của tôn giáo duy nhất và chân thật, đang tồn tại trong Hội Thánh công giáo và tông truyền. Kitô hữu được mời gọi trở thành ánh sáng thế gian. Nhờ đó, Hội Thánh bày tỏ vương quyền của Đức Kitô trên vạn vật, đặc biệt là trên các xã hội loài người.

The duty of offering God genuine worship concerns man both individually and socially. This is "the traditional Catholic teaching on the moral duty of individuals and societies toward the true religion and the one Church of Christ." By constantly evangelizing men, the Church works toward enabling them "to infuse the Christian spirit into the mentality and mores, laws and structures of the communities in which [they] live." The social duty of Christians is to respect and awaken in each man the love of the true and the good. It requires them to make known the worship of the one true religion which subsists in the Catholic and apostolic Church. Christians are called to be the light of the world. Thus, the Church shows forth the kingship of Christ over all creation and in particular over human societies.

2106

“Trong vấn đề tôn giáo, không ai bị ép buộc phải hành động trái với lương tâm mình, cũng như không bị ngăn trở, để hành động theo lương tâm cách riêng tư hay công khai, hoặc một mình hoặc chung với những người khác, trong những giới hạn họ được phép.” Quyền này đặt nền trên chính bản tính của nhân vị, mà phẩm giá của họ cho họ được tự do để gắn bó với chân lý thần linh, một chân lý siêu việt trên trật tự trần thế. Do đó, quyền này “vẫn tồn tại cả nơi những người không thực hiện nghĩa vụ tìm kiếm và gắn bó với chân lý.”

"Nobody may be forced to act against his convictions, nor is anyone to be restrained from acting in accordance with his conscience in religious matters in private or in public, alone or in association with others, within due limits." This right is based on the very nature of the human person, whose dignity enables him freely to assent to the divine truth which transcends the temporal order. For this reason it "continues to exist even in those who do not live up to their obligation of seeking the truth and adhering to it."

2107

“Nếu vì những hoàn cảnh đặc biệt, như trong một số dân tộc hiện nay, một tôn giáo nào đó được luật pháp nhà nước nhìn nhận cách đặc biệt, thì cần thiết là, đồng thời, mọi người vẫn phải công nhận và tôn trọng quyền tự do tôn giáo của mọi công dân cũng như của những cộng đồng tôn giáo khác.”

"If because of the circumstances of a particular people special civil recognition is given to one religious community in the constitutional organization of a state, the right of all citizens and religious communities to religious freedom must be recognized and respected as well."

2108

Quyền tự do tôn giáo không phải là sự cho phép về mặt luân lý để gắn bó với điều sai lạc cũng không là quyền được sai lạc, nhưng đây là quyền tự nhiên của nhân vị, quyền được tự do theo dân luật, nghĩa là, được chính quyền bảo vệ khỏi những áp lực bên ngoài, trong vấn đề tôn giáo, trong những giới hạn chính đáng. Quyền tự nhiên này phải được luật pháp xã hội công nhận, phải là một quyền công dân.

The right to religious liberty is neither a moral license to adhere to error, nor a supposed right to error, but rather a natural right of the human person to civil liberty, i.e., immunity, within just limits, from external constraint in religious matters by political authorities. This natural right ought to be acknowledged in the juridical order of society in such a way that it constitutes a civil right.

2109

Quyền tự do tôn giáo, tự bản chất của nó, không thể là vô giới hạn, cũng không thể bị giới hạn chỉ vì lý do “trật tự công cộng” được quan niệm theo cách “duy thực nghiệm” hay “duy tự nhiên.” “Những giới hạn chính đáng” gắn liền với quyền tự do tôn giáo cho mỗi hoàn cảnh xã hội, phải được xác định bởi sự khôn ngoan chính trị, theo những đòi hỏi của công ích và được quyền bính dân sự xác nhận “theo những quy tắc pháp lý, phù hợp với trật tự luân lý khách quan.”

The right to religious liberty can of itself be neither unlimited nor limited only by a "public order" conceived in a positivist or naturalist manner. The "due limits" which are inherent in it must be determined for each social situation by political prudence, according to the requirements of the common good, and ratified by the civil authority in accordance with "legal principles which are in conformity with the objective moral order."

2110

Điều răn thứ nhất cấm tôn kính những thần khác ngoài Chúa duy nhất, Đấng đã tự mặc khải cho dân Ngài. Điều răn này cấm sự mê tín và thái độ vô đạo. Sự mê tín, một cách nào đó, là sự thái quá một cách lệch lạc về tôn giáo. Vô đạo là một thiếu sót nghịch với nhân đức thờ phượng.

The first commandment forbids honoring gods other than the one Lord who has revealed himself to his people. It proscribes superstition and irreligion. Superstition in some sense represents a perverse excess of religion; irreligion is the vice contrary by defect to the virtue of religion.

2111

Mê tín là sự lệch lạc trong cảm thức tôn giáo và trong cách thể hiện cảm thức này. Mê tín cũng có thể xảy ra ngay trong việc thờ phượng Thiên Chúa chân thật, chẳng hạn như gán một ý nghĩa ma thuật cho một số thực hành vốn chính đáng hay cần thiết. Nếu cho rằng chỉ cần đọc các lời kinh hay làm các dấu chỉ bí tích là có hiệu quả, bất chấp những tâm tình phải có bên trong, là người ta rơi vào mê tín.

Superstition is the deviation of religious feeling and of the practices this feeling imposes. It can even affect the worship we offer the true God, e.g., when one attributes an importance in some way magical to certain practices otherwise lawful or necessary. To attribute the efficacy of prayers or of sacramental signs to their mere external performance, apart from the interior dispositions that they demand, is to fall into superstition.

2112

Điều răn thứ nhất lên án sự đa thần. Điều răn này đòi hỏi con người không được tin vào thần nào khác ngoài Thiên Chúa, không được tôn kính các thần linh nào khác ngoài Đấng duy nhất. Thánh Kinh luôn nhắc nhở phải từ bỏ các ngẫu tượng “chỉ là vàng bạc, chỉ do tay người thế tạo thành”, “có mắt có miệng, không nhìn không nói.”.. Các ngẫu tượng là hão huyền nên ai thờ ngẫu tượng sẽ trở thành hão huyền: “Kẻ làm ra hoặc tin ở tượng thần, cũng giống như chúng vậy” (Tv 115,4-5.8). Trái lại, Thiên Chúa là “Thiên Chúa Hằng Sống” (Gs 3,10), Đấng làm cho sống và can thiệp vào lịch sử.

The first commandment condemns polytheism. It requires man neither to believe in, nor to venerate, other divinities than the one true God. Scripture constantly recalls this rejection of "idols, (of) silver and gold, the work of men's hands. They have mouths, but do not speak; eyes, but do not see." These empty idols make their worshippers empty: "Those who make them are like them; so are all who trust in them." God, however, is the "living God" who gives life and intervenes in history.

2113

Thờ ngẫu tượng không phải chỉ là những việc thờ phượng sai lạc của dân ngoại. Nó còn là cám dỗ thường xuyên đối với đức tin. Thờ ngẫu tượng cốt tại việc thần thánh hóa những gì không phải là Thiên Chúa. Thờ ngẫu tượng là khi con người tôn thờ và kính bái một thụ tạo thay vì Thiên Chúa, cho dù đó là thần linh hay ma quỷ (chẳng hạn đạo thờ Xatan), quyền lực, khoái lạc, chủng tộc, tổ tiên, Nhà Nước, tiền bạc, v.v... Chúa Giêsu dạy: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (Mt 6,24). Rất nhiều vị tử đạo đã chết vì không chịu thờ lạy “Con Thú”, dù chỉ giả vờ thôi. Thờ ngẫu tượng là khước từ quyền chủ tể duy nhất của Thiên Chúa; vì vậy, nó không thể đi đôi với sự hiệp thông với Thiên Chúa.

Idolatry not only refers to false pagan worship. It remains a constant temptation to faith. Idolatry consists in divinizing what is not God. Man commits idolatry whenever he honors and reveres a creature in place of God, whether this be gods or demons (for example, satanism), power, pleasure, race, ancestors, the state, money, etc. Jesus says, "You cannot serve God and mammon." Many martyrs died for not adoring "the Beast" refusing even to simulate such worship. Idolatry rejects the unique Lordship of God; it is therefore incompatible with communion with God.

2114

Đời sống con người được thống nhất trong việc tôn thờ Đấng duy nhất. Điều răn dạy tôn thờ Chúa duy nhất đơn giản hóa con người và cứu họ khỏi sự phân tán vô hạn. Thờ ngẫu tượng là sự lệch lạc của cảm thức tôn giáo, một cảm thức vốn bẩm sinh nơi con người. Người thờ ngẫu tượng là người “gán ý niệm bất diệt về Thiên Chúa cho bất cứ thứ gì không phải là Thiên Chúa.”

Human life finds its unity in the adoration of the one God. the commandment to worship the Lord alone integrates man and saves him from an endless disintegration. Idolatry is a perversion of man's innate religious sense. An idolater is someone who "transfers his indestructible notion of God to anything other than God."

2115

Thiên Chúa có thể mặc khải tương lai cho các Tiên tri hay các Thánh khác của Ngài. Tuy vậy, thái độ đúng đắn của Kitô hữu cốt tại việc phó thác mình một cách đầy tin tưởng trong tay Chúa Quan Phòng về những gì liên quan đến tương lai, và từ bỏ mọi thứ tò mò không lành mạnh về vấn đề này. Tuy nhiên, không biết tiên liệu lại có thể là một sự thiếu trách nhiệm.

God can reveal the future to his prophets or to other saints. Still, a sound Christian attitude consists in putting oneself confidently into the hands of Providence for whatever concerns the future, and giving up all unhealthy curiosity about it. Improvidence, however, can constitute a lack of responsibility.

2116

Phải loại bỏ mọi hình thức bói toán: cậy nhờ Xatan hay ma quỷ, gọi hồn người chết hay những thực hành khác, là những việc người ta nghĩ cách sai lầm rằng sẽ “vén mở” được tương lai. Coi tử vi, chiêm tinh, xem chỉ tay, giải mộng, xin xăm, bói toán quá khứ vị lai, đồng bóng, là những hình thức biểu lộ ý muốn thống trị thời gian, lịch sử và cuối cùng là con người, và đồng thời, biểu lộ ước muốn liên minh với các thế lực bí ẩn. Những điều này là nghịch lại với sự cung kính và tôn trọng, được kết hợp với sự kính sợ đầy yêu mến, mà chúng ta phải dành cho một mình Thiên Chúa mà thôi.

All forms of divination are to be rejected: recourse to Satan or demons, conjuring up the dead or other practices falsely supposed to "unveil" the future. Consulting horoscopes, astrology, palm reading, interpretation of omens and lots, the phenomena of clairvoyance, and recourse to mediums all conceal a desire for power over time, history, and, in the last analysis, other human beings, as well as a wish to conciliate hidden powers. They contradict the honor, respect, and loving fear that we owe to God alone.

2117

Các thực hành ma thuật hay pháp thuật mà người ta muốn dùng để chế ngự các sức mạnh bí ẩn, bắt chúng phục vụ mình và nắm được quyền lực siêu phàm trên người khác - dù là để chữa bệnh - đều nghịch lại nhân đức thờ phượng cách nghiêm trọng. Các việc này càng đáng lên án hơn, khi có dụng ý làm hại người khác, hay cậy nhờ đến sự can thiệp của ma quỷ. Mang bùa cũng là điều đáng trách. Chiêu hồn thường gồm các thực hành bói toán hay ma thuật. Hội Thánh cũng khuyên các tín hữu phải xa lánh việc đó. Khi dùng các phương thuốc, gọi là gia truyền, không được kêu cầu các quyền lực sự dữ, cũng không được lợi dụng sự cả tin của những người khác.

All practices of magic or sorcery, by which one attempts to tame occult powers, so as to place them at one's service and have a supernatural power over others - even if this were for the sake of restoring their health - are gravely contrary to the virtue of religion. These practices are even more to be condemned when accompanied by the intention of harming someone, or when they have recourse to the intervention of demons. Wearing charms is also reprehensible. Spiritism often implies divination or magical practices; the Church for her part warns the faithful against it. Recourse to so-called traditional cures does not justify either the invocation of evil powers or the exploitation of another's credulity.

2118

Điều răn thứ nhất của Thiên Chúa kết án những tội chính yếu của sự vô tôn giáo: hành động thử thách Thiên Chúa bằng lời nói hay việc làm, sự phạm thánh và sự mại thánh.

God's first commandment condemns the main sins of irreligion: tempting God, in words or deeds, sacrilege, and simony.

2119

Hành động thử thách Thiên Chúa là dùng lời nói hay việc làm để thử sự tốt lành và sự toàn năng của Thiên Chúa. Đây là điều Xatan muốn thấy nơi Chúa Giêsu, khi xúi giục Người gieo mình từ trên nóc Đền Thờ xuống, và qua cử chỉ đó, ép buộc Thiên Chúa phải hành động. Chúa Giêsu dùng Lời Thiên Chúa đối lại nó: “Anh em đừng thách thức ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em” (Đnl 6,16). Thách đố, hàm chứa một sự thử thách như vậy, làm tổn thương lòng tôn kính và tin tưởng mà chúng ta phải dành cho Đấng Tạo hóa và là Chúa của chúng ta. Thử thách Thiên Chúa luôn hàm chứa thái độ hoài nghi về tình yêu của Ngài, sự quan phòng và quyền năng của Ngài.

Tempting God consists in putting his goodness and almighty power to the test by word or deed. Thus Satan tried to induce Jesus to throw himself down from the Temple and, by this gesture, force God to act. Jesus opposed Satan with the word of God: "You shall not put the LORD your God to the test." The challenge contained in such tempting of God wounds the respect and trust we owe our Creator and Lord. It always harbors doubt about his love, his providence, and his power.

2120

Sự phạm thánh là sự xúc phạm hay có thái độ bất xứng đối với các bí tích và các hành động phụng vụ khác, và cả đối với các người, các đồ vật và các nơi đã thánh hiến cho Thiên Chúa. Sự phạm thánh là một tội nghiêm trọng, đặc biệt khi phạm đến bí tích Thánh Thể, bởi vì trong bí tích này, chính Mình Thánh Đức Kitô hiện diện một cách theo bản thể với chúng ta.

Sacrilege consists in profaning or treating unworthily the sacraments and other liturgical actions, as well as persons, things, or places consecrated to God. Sacrilege is a grave sin especially when committed against the Eucharist, for in this sacrament the true Body of Christ is made substantially present for us.

2121

Sự mại thánh được định nghĩa là mua hay bán những thực tại thiêng liêng. Khi phù thủy Simon muốn mua quyền năng thiêng liêng mà ông thấy đang hoạt động nơi các Tông Đồ, thánh Phêrô đã trả lời: “Tiền bạc của anh tiêu tan luôn với anh cho rồi, vì anh tưởng có thể lấy tiền mà mua ân huệ của Thiên Chúa” (Cv 8,20). Như thế, vị Tông Đồ đã hành động phù hợp với lời Chúa Giêsu: “Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8). Không thể chiếm lấy những của cải thiêng liêng cho mình và tùy ý sử dụng chúng như sở hữu chủ hay ông chủ của chúng, bởi vì những điều đó xuất phát từ nguồn mạch là Thiên Chúa. Con người chỉ có thể đón nhận cách nhưng không từ Thiên Chúa.

Simony is defined as the buying or selling of spiritual things. To Simon the magician, who wanted to buy the spiritual power he saw at work in the apostles, St. Peter responded: "Your silver perish with you, because you thought you could obtain God's gift with money!" Peter thus held to the words of Jesus: "You received without pay, give without pay." It is impossible to appropriate to oneself spiritual goods and behave toward them as their owner or master, for they have their source in God. One can receive them only from him, without payment.

2122

“Ngoài những của dâng cúng do nhà chức trách có thẩm quyền ấn định, thừa tác viên không được xin gì để ban các bí tích, và luôn luôn phải liệu sao đừng để những người nghèo không được hưởng nhờ ơn các bí tích vì sự túng thiếu của mình.” Thẩm quyền Hội Thánh ấn định “những của dâng cúng” này theo nguyên tắc dân Kitô Giáo phải cấp dưỡng cho các thừa tác viên của Hội Thánh. “Thợ thì đáng được nuôi ăn” (Mt 10,10).

The minister should ask nothing for the administration of the sacraments beyond the offerings defined by the competent authority, always being careful that the needy are not deprived of the help of the sacraments because of their poverty." The competent authority determines these "offerings" in accordance with the principle that the Christian people ought to contribute to the support of the Church's ministers. "The laborer deserves his food."

2123

“Có nhiều người đương thời với chúng ta không hề nhận ra hoặc khước từ cách minh nhiên tương quan mật thiết và sống động kết hợp con người với Thiên Chúa, cho nên vô thần phải được kể là một trong những vấn đề hệ trọng nhất trong thời đại này.”

"Many . . . of our contemporaries either do not at all perceive, or explicitly reject, this intimate and vital bond of man to God. Atheism must therefore be regarded as one of the most serious problems of our time."

2124

Từ “vô thần” chỉ nhiều hiện tượng rất khác nhau. Hình thức thông thường là chủ nghĩa duy vật thực tiễn; chủ nghĩa này giới hạn những nhu cầu và tham vọng của mình vào không gian và thời gian. Chủ nghĩa nhân bản vô thần, một cách sai lầm, coi con người “là mục đích cho chính mình, là người duy nhất làm nên và điều khiển lịch sử riêng của mình.” Một hình thức khác của chủ nghĩa vô thần hiện nay muốn giải phóng con người bằng cuộc giải phóng kinh tế và xã hội; “hình thức vô thần này cho rằng tự bản chất tôn giáo ngăn cản sự giải phóng đó, vì khi nêu lên cho con người niềm hy vọng vào cuộc sống hão huyền mai hậu, tôn giáo đã làm cho họ xao lãng việc xây dựng thành đô trần thế.”

The name "atheism" covers many very different phenomena. One common form is the practical materialism which restricts its needs and aspirations to space and time. Atheistic humanism falsely considers man to be "an end to himself, and the sole maker, with supreme control, of his own history." Another form of contemporary atheism looks for the liberation of man through economic and social liberation. "It holds that religion, of its very nature, thwarts such emancipation by raising man's hopes in a future life, thus both deceiving him and discouraging him from working for a better form of life on earth."

2125

Vô thần tự nó đối nghịch với nhân đức thờ phượng, vì từ chối hay phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa. Trách nhiệm về điều này có thể được giảm thiểu nhiều ít, vì các ý hướng và hoàn cảnh. Trong việc khai sinh và phổ biến sự vô thần, “các tín hữu có thể có một phần trách nhiệm không nhỏ, tùy mức độ, hoặc bởi xao lãng việc giáo dục đức tin, hoặc bởi trình bày sai lạc về giáo lý, hoặc do những thiếu sót trong đời sống tôn giáo, luân lý và xã hội. Phải nói rằng họ đã che giấu hơn là bày tỏ dung mạo đích thực của Thiên Chúa và của tôn giáo.”

Since it rejects or denies the existence of God, atheism is a sin against the virtue of religion. The imputability of this offense can be significantly diminished in virtue of the intentions and the circumstances. "Believers can have more than a little to do with the rise of atheism. To the extent that they are careless about their instruction in the faith, or present its teaching falsely, or even fail in their religious, moral, or social life, they must be said to conceal rather than to reveal the true nature of God and of religion."

2126

Vô thần thường được đặt nền trên một quan niệm không đúng về quyền tự lập của con người, đến độ phủ nhận mọi lệ thuộc vào Thiên Chúa. Tuy nhiên, việc nhìn nhận Thiên Chúa không hề nghịch với phẩm giá con người, “vì phẩm giá đó được đặt nền và được kiện toàn nơi chính Thiên Chúa.” Hội Thánh biết rõ “sứ điệp của mình phù hợp với những ước muốn thầm kín nhất của trái tim con người.”

Atheism is often based on a false conception of human autonomy, exaggerated to the point of refusing any dependence on God. Yet, "to acknowledge God is in no way to oppose the dignity of man, since such dignity is grounded and brought to perfection in God...." "For the Church knows full well that her message is in harmony with the most secret desires of the human heart."

2127

Chủ thuyết bất khả tri có nhiều hình thức. Trong một số trường hợp, người theo chủ thuyết này không phủ nhận Thiên Chúa, mà trái lại, còn cho là có sự hiện hữu của một hữu thể siêu việt không thể tự mặc khải và không ai có thể nói được gì về hữu thể đó. Trong những trường hợp khác, người theo chủ thuyết này không đề cập đến sự hiện hữu của Thiên Chúa, vì cho rằng không thể chứng minh, xác nhận hay phủ nhận về sự hiện hữu đó.

Agnosticism assumes a number of forms. In certain cases the agnostic refrains from denying God; instead he postulates the existence of a transcendent being which is incapable of revealing itself, and about which nothing can be said. In other cases, the agnostic makes no judgment about God's existence, declaring it impossible to prove, or even to affirm or deny.

2128

Đôi khi chủ thuyết bất khả tri có thể hàm chứa một cố gắng tìm kiếm nào đó về Thiên Chúa, nhưng cũng có thể biểu hiện một sự lãnh đạm thờ ơ, chạy trốn trước vấn đề tối hậu về sự hiện hữu, và một sự lười biếng của lương tâm luân lý. Chủ thuyết bất khả tri rất thường tương đương với sự vô thần thực hành.

Agnosticism can sometimes include a certain search for God, but it can equally express indifferentism, a flight from the ultimate question of existence, and a sluggish moral conscience. Agnosticism is all too often equivalent to practical atheism.

2129

Mệnh lệnh thần linh bao hàm việc cấm mọi hình thức trình bày Thiên Chúa bằng bàn tay con người. Sách Đệ Nhị Luật giải thích: “Anh em đã không thấy hình bóng nào, ngày Chúa phán với anh em tại núi Hôreb từ trong đám lửa; vì thế, đừng có ra hư hỏng mà làm cho mình một tượng mang hình ảnh bất cứ cái gì...” (Đnl 4,15-16). Chính Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối siêu việt, đã tự mặc khải cho Ítraen. “Ngài là tất cả”, nhưng đồng thời, Ngài “vượt trên mọi công trình Ngài thực hiện” (Hc 43,29-30). Ngài là “tác giả của muôn vẻ đẹp” (Kn 13,3).

The divine injunction included the prohibition of every representation of God by the hand of man. Deuteronomy explains: "Since you saw no form on the day that the Lord spoke to you at Horeb out of the midst of the fire, beware lest you act corruptly by making a graven image for yourselves, in the form of any figure...." It is the absolutely transcendent God who revealed himself to Israel. "He is the all," but at the same time "he is greater than all his works." He is "the author of beauty."

2130

Tuy nhiên, trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã truyền lệnh hay cho phép làm những hình ảnh, một cách biểu tượng sẽ đưa tới ơn cứu độ nhờ Ngôi Lời nhập thể: ví dụ con rắn đồng, Hòm Bia Giao Ước và các chêrubim.

Nevertheless, already in the Old Testament, God ordained or permitted the making of images that pointed symbolically toward salvation by the incarnate Word: so it was with the bronze serpent, the ark of the covenant, and the cherubim.

2131

Công đồng chung thứ bảy, ở Nicêa (năm 787), dựa vào mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể, đã biện minh cho việc sùng kính ảnh tượng thánh, như ảnh tượng Đức Kitô, và cả ảnh tượng Mẹ Thiên Chúa, các Thiên thần và tất cả các Thánh, chống lại những người bài ảnh tượng. Nhờ cuộc Nhập thể của mình, Con Thiên Chúa đã khai mở một “nhiệm cục” về các ảnh tượng.

Basing itself on the mystery of the incarnate Word, the seventh ecumenical council at Nicaea (787) justified against the iconoclasts the veneration of icons - of Christ, but also of the Mother of God, the angels, and all the saints. By becoming incarnate, the Son of God introduced a new "economy" of images.

2132

Việc sùng kính của Kitô Giáo đối với các ảnh tượng, không nghịch lại điều răn thứ nhất cấm thờ ngẫu tượng. Thật vậy, “khi tôn kính một ảnh tượng, chúng ta hướng tâm hồn lên đến nguyên ảnh”, và “tôn kính một ảnh tượng là tôn kính chính vị được phác họa trong ảnh tượng.” Đối với các ảnh tượng thánh, chúng ta chỉ tôn kính (veneratio), chứ không tôn thờ (adoratio) là việc chỉ dành cho một mình Thiên Chúa: “Sự sùng kính tôn giáo không nhắm tới các ảnh tượng vì chính chúng, như một thực tại nào đó, nhưng nhắm tới việc chúng là những hình ảnh đưa dẫn chúng ta đến cùng Thiên Chúa nhập thể. Việc tôn kính không dừng lại ở chính ảnh tượng, nhưng vươn tới điều mà ảnh tượng biểu thị.”

The Christian veneration of images is not contrary to the first commandment which proscribes idols. Indeed, "the honor rendered to an image passes to its prototype," and "whoever venerates an image venerates the person portrayed in it." The honor paid to sacred images is a "respectful veneration," not the adoration due to God alone:

2133

“Hãy yêu mến Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng, hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,5).

"You shall love the Lord your God with all your heart, and with all your soul and with all your strength" (Deut 6:5).

2134

Điều răn thứ nhất kêu gọi con người tin vào Thiên Chúa, trông cậy nơi Ngài và yêu mến Ngài trên hết mọi sự.

The first commandment summons man to believe in God, to hope in him, and to love him above all else.

2135

“Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Mt 4,10). Thờ lạy Thiên Chúa, kêu cầu Ngài, dâng lên Ngài việc phụng thờ xứng hợp, chu toàn các lời khấn hứa với Ngài, là những hành vi thuộc nhân đức thờ phượng, phát xuất từ sự vâng phục điều răn thứ nhất.

"You shall worship the Lord your God" (Mt 4:10). Adoring God, praying to him, offering him the worship that belongs to him, fulfilling the promises and vows made to him are acts of the virtue of religion which fall under obedience to the first commandment.

2136

Phải dành cho Thiên Chúa việc phụng tự đích thực, là bổn phận của con người, xét theo cá nhân cũng như xã hội.

The duty to offer God authentic worship concerns man both as an individual and as a social being.

2137

Con người phải có quyền tự do tuyên xưng tôn giáo cách riêng tư và cách công khai.

"Men of the present day want to profess their religion freely in private and in public" (DH 15).

2138

Mê tín là sự lệch lạc trong việc thờ phượng phải dành cho Thiên Chúa thật. Mê tín được biểu lộ trong việc thờ ngẫu tượng, cũng như trong các hình thức bói toán và ma thuật.

Superstition is a departure from the worship that we give to the true God. It is manifested in idolatry, as well as in various forms of divination and magic.

2139

Điều răn thứ nhất cấm các tội của sự vô tôn giáo là: hành động thử thách Thiên Chúa bằng lời nói hay việc làm, sự phạm thánh và sự mại thánh.

Tempting God in words or deeds, sacrilege, and simony are sins of irreligion forbidden by the first commandment.

2140

Sự vô thần, vì từ chối hay phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa, là một tội nghịch với điều răn thứ nhất.

Since it rejects or denies the existence of God, atheism is a sin against the first commandment.

2141

Việc sùng kính các ảnh tượng thánh đặt nền trên mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa. Việc đó không nghịch với điều răn thứ nhất.

The veneration of sacred images is based on the mystery of the Incarnation of the Word of God. It is not contrary to the first commandment.