Hỏi Đáp Công Giáo
Đời Sống Trong Đức Kitô · Mười điều răn · “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi”
MỤC 2

Điều răn thứ hai

Số 2142–2167
2142

Điều răn thứ hai dạy phải tôn kính Danh Chúa. Cũng như điều răn thứ nhất, điều răn này thuộc về nhân đức thờ phượng và, một cách đặc biệt hơn, quy định việc sử dụng ngôn từ của chúng ta trong các vấn đề thánh.

The second commandment prescribes respect for the Lord's name. Like the first commandment, it belongs to the virtue of religion and more particularly it governs our use of speech in sacred matters.

2143

Trong tất cả các lời mặc khải, có một lời độc đáo, đó là lời mặc khải về Danh của Chúa. Thiên Chúa trao phó Danh Ngài cho những kẻ tin vào Ngài; Ngài tự mặc khải cho họ trong mầu nhiệm bản thân Ngài. Việc ban tặng Danh Thánh thuộc lãnh vực tín nhiệm và thân thiết. “Danh Chúa là thánh.” Vì vậy, con người không thể lạm dụng Danh đó. Họ phải ghi nhớ Danh đó trong sự thinh lặng tôn thờ đầy yêu mến. Chỉ được nhắc đến Danh Chúa trong lời nói của mình để chúc tụng, ca ngợi và tôn vinh Danh Chúa.

Among all the words of Revelation, there is one which is unique: the revealed name of God. God confides his name to those who believe in him; he reveals himself to them in his personal mystery. the gift of a name belongs to the order of trust and intimacy. "The Lord's name is holy." For this reason man must not abuse it. He must keep it in mind in silent, loving adoration. He will not introduce it into his own speech except to bless, praise, and glorify it.

2144

Sự tôn kính Danh Chúa diễn tả lòng tôn kính cần phải có đối với mầu nhiệm của chính Thiên Chúa và đối với mọi thực tại thánh thiêng mà mầu nhiệm này gợi lên. Cảm thức về sự thánh thiêng thuộc nhân đức thờ phượng: “Cảm thức kính sợ và cảm thức về sự thánh thiêng có phải là những cảm thức Kitô Giáo không? Không ai có thể hoài nghi cách hữu lý về vấn đề này. Đó là những cảm thức mà chúng ta có, và có một cách mãnh liệt, nếu chúng ta được chiêm ngắm Thiên Chúa uy linh. Đó là những cảm thức mà chúng ta có, nếu chúng ta ý thức sự hiện diện của Ngài. Chúng ta phải có những cảm thức đó, tùy theo mức độ chúng ta tin Ngài đang hiện diện. Không có những cảm thức đó, tức là không ý thức vấn đề này, không tin Ngài đang hiện diện.”

Respect for his name is an expression of the respect owed to the mystery of God himself and to the whole sacred reality it evokes. the sense of the sacred is part of the virtue of religion:

2145

Tín hữu phải làm chứng cho Danh Chúa, bằng cách tuyên xưng đức tin của mình mà không sợ sệt. Việc rao giảng và dạy giáo lý phải được thấm nhuần bằng sự tôn thờ và kính trọng đối với Danh Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.

The faithful should bear witness to the Lord's name by confessing the faith without giving way to fear. Preaching and catechizing should be permeated with adoration and respect for the name of our Lord Jesus Christ.

2146

Điều răn thứ hai cấm lạm dụng Danh Thiên Chúa, nghĩa là mọi cách sử dụng bất xứng đối với Danh của Thiên Chúa, của Chúa Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và toàn thể các Thánh.

The second commandment forbids the abuse of God's name, i.e., every improper use of the names of God, Jesus Christ, but also of the Virgin Mary and all the saints.

2147

Những lời hứa với tha nhân nhân danh Thiên Chúa đều liên hệ đến danh dự, sự trung tín, sự chân thật và quyền bính thần linh. Những lời hứa đó phải được tuân giữ bởi đức công bằng. Không giữ các lời hứa đó là lạm dụng Danh Thiên Chúa, và một cách nào đó, làm cho Thiên Chúa thành kẻ nói dối.

Promises made to others in God's name engage the divine honor, fidelity, truthfulness, and authority. They must be respected in justice. To be unfaithful to them is to misuse God's name and in some way to make God out to be a liar.

2148

Nói phạm thượng vi phạm trực tiếp điều răn thứ hai. Tội này cốt tại việc nói những lời căm ghét, than trách, thách đố - trong lòng hay ngoài miệng - nghịch với Thiên Chúa, việc nói xấu Thiên Chúa, việc bất kính đối với Ngài trong lời nói, và việc lạm dụng Danh Thiên Chúa. Thánh Giacôbê khiển trách: “Chẳng phải họ nói xúc phạm đến Danh Thánh cao đẹp (của Chúa Giêsu) mà anh em được mang đó sao?” (Gc 2,7). Luật cấm nói phạm thượng, cũng cấm nói những lời nghịch với Hội Thánh của Đức Kitô, các Thánh và những sự thánh. Cũng là tội nói phạm thượng khi nại đến Danh Thiên Chúa để che đậy những hành vi tội ác, để bắt các dân tộc làm nô lệ, để tra tấn hoặc giết người. Lạm dụng Danh Thiên Chúa để phạm tội ác là gây cớ cho người ta khước từ tôn giáo. Nói phạm thượng là nghịch với sự tôn trọng phải có đối với Thiên Chúa và Danh thánh của Ngài. Nói phạm thượng tự bản chất là một tội nghiêm trọng.

Blasphemy is directly opposed to the second commandment. It consists in uttering against God - inwardly or outwardly - words of hatred, reproach, or defiance; in speaking ill of God; in failing in respect toward him in one's speech; in misusing God's name. St. James condemns those "who blaspheme that honorable name [of Jesus] by which you are called." The prohibition of blasphemy extends to language against Christ's Church, the saints, and sacred things. It is also blasphemous to make use of God's name to cover up criminal practices, to reduce peoples to servitude, to torture persons or put them to death. the misuse of God's name to commit a crime can provoke others to repudiate religion. Blasphemy is contrary to the respect due God and his holy name. It is in itself a grave sin.

2149

Kêu tên Chúa vô cớ, dù không có ý phạm thượng cũng là thiếu tôn kính đối với Chúa. Điều răn thứ hai cũng cấm sử dụng Danh Thiên Chúa vào việc ma thuật. “Danh Thiên Chúa thật cao cả, khi được kêu cầu cách tôn kính, xứng với sự vĩ đại và uy nghi của Ngài. Danh Thiên Chúa là thánh, khi được kêu cầu với lòng tôn kính và sợ xúc phạm tới Ngài.”

Oaths which misuse God's name, though without the intention of blasphemy, show lack of respect for the Lord. the second commandment also forbids magical use of the divine name.

2150

Điều răn thứ hai cấm thề gian. Thề là lấy Thiên Chúa làm chứng cho điều mình xác quyết, là kêu cầu sự chân thật thần linh làm bảo chứng cho sự chân thật của mình. Lời thề ràng buộc Danh Chúa. “Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải kính sợ; chính Ngài là Đấng anh em phải phụng thờ; anh em sẽ nhân danh Ngài mà thề” (Đnl 6,13).

The second commandment forbids false oaths. Taking an oath or swearing is to take God as witness to what one affirms. It is to invoke the divine truthfulness as a pledge of one's own truthfulness. An oath engages the Lord's name. "You shall fear the LORD your God; you shall serve him, and swear by his name."

2151

Việc loại trừ thói thề gian là một bổn phận đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa, với tư cách là Đấng Tạo hóa và là Chúa, là quy luật của mọi chân lý. Lời nói của con người có thể phù hợp hay trái nghịch với Thiên Chúa, Đấng là chân lý. Lời thề, khi là chân thật và chính đáng, làm sáng tỏ mối tương quan giữa lời nói của con người với chân lý của Thiên Chúa. Lời thề gian là kêu cầu Thiên Chúa làm chứng cho sự dối trá.

Rejection of false oaths is a duty toward God. As Creator and Lord, God is the norm of all truth. Human speech is either in accord with or in opposition to God who is Truth itself. When it is truthful and legitimate, an oath highlights the relationship of human speech with God's truth. A false oath calls on God to be witness to a lie.

2152

Người bội thề là người dùng lời thề để hứa một điều gì, nhưng không có ý chu toàn lời đã hứa, hay sau khi đã dùng lời thề để hứa, lại không giữ lời hứa. Sự bội thề là lỗi phạm nghiêm trọng về lòng tôn kính đối với Chúa của mọi lời nói. Buộc mình bằng việc thề làm điều xấu là nghịch với sự thánh thiện của Danh Chúa.

A person commits perjury when he makes a promise under oath with no intention of keeping it, or when after promising on oath he does not keep it. Perjury is a grave lack of respect for the Lord of all speech. Pledging oneself by oath to commit an evil deed is contrary to the holiness of the divine name.

2153

Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã trình bày điều răn thứ hai: “Anh em còn nghe luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề nhưng hãy trọn lời thề với Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, đừng thề chi cả... Nhưng hễ ‘có’ thì phải nói ‘có’; ‘không’ thì phải nói ‘không’. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5,33-34.37). Chúa Giêsu dạy mọi lời thề đều bao hàm mối tương quan với Thiên Chúa, và trong mọi lời nói, phải tôn trọng sự hiện diện của Thiên Chúa và chân lý của Ngài. Cẩn trọng khi nại đến Thiên Chúa trong lời ăn tiếng nói, phải đi đôi với sự chú ý đầy tôn kính đối với sự hiện diện của Ngài: trong mỗi lời xác quyết của chúng ta, chúng ta làm chứng hoặc khinh thường sự hiện diện đó.

In the Sermon on the Mount, Jesus explained the second commandment: "You have heard that it was said to the men of old, 'You shall not swear falsely, but shall perform to the Lord what you have sworn.' But I say to you, Do not swear at all.... Let what you say be simply 'Yes' or 'No'; anything more than this comes from the evil one." Jesus teaches that every oath involves a reference to God and that God's presence and his truth must be honored in all speech. Discretion in calling upon God is allied with a respectful awareness of his presence, which all our assertions either witness to or mock.

2154

Theo gương thánh Phaolô truyền thống Hội Thánh vẫn hiểu lời của Chúa Giêsu là không cấm thề nếu có lý do nghiêm trọng và chính đáng (chẳng hạn, trước tòa án). “Lời thề tức là lời kêu cầu Danh Chúa làm chứng cho chân lý, chỉ có thể được tuyên thệ trong sự thật, trong sự suy xét và trong công lý.”

Following St. Paul, The tradition of the Church has understood Jesus' words as not excluding oaths made for grave and right reasons (for example, in court). "An oath, that is the invocation of the divine name as a witness to truth, cannot be taken unless in truth, in judgment, and in justice."

2155

Sự thánh thiện của Danh thánh đòi buộc không được nại đến Danh đó mà làm những việc phù phiếm, và không được thề trong những hoàn cảnh có thể bị giải thích như là đồng tình với quyền lực đòi buộc thề cách bất công. Khi bị chính quyền bất hợp pháp đòi buộc phải thề, có thể từ chối. Phải từ chối thề, khi được yêu cầu thề vì những mục đích nghịch với nhân phẩm hay nghịch với sự hiệp thông trong Hội Thánh.

The holiness of the divine name demands that we neither use it for trivial matters, nor take an oath which on the basis of the circumstances could be interpreted as approval of an authority unjustly requiring it. When an oath is required by illegitimate civil authorities, it may be refused. It must be refused when it is required for purposes contrary to the dignity of persons or to ecclesial communion.

2156

Bí tích Rửa Tội được ban “nhân danh Cha, Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Trong Phép Rửa, Danh Chúa thánh hóa con người, và Kitô hữu nhận được một tên riêng trong Hội Thánh. Tên này có thể là tên của một vị Thánh nào đó, nghĩa là, của một môn đệ đã sống đời trung thành mẫu mực với Chúa. Vị thánh bổn mạng nêu gương sống đức mến và luôn chuyển cầu cho ta. “Tên thánh” cũng có thể diễn tả một mầu nhiệm hay một nhân đức Kitô Giáo nào đó. “Cha mẹ, những người đỡ đầu và cha sở phải liệu sao để đừng đặt tên xa lạ với ý nghĩa Kitô Giáo.”

The sacrament of Baptism is conferred "in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit." In Baptism, the Lord's name sanctifies man, and the Christian receives his name in the Church. This can be the name of a saint, that is, of a disciple who has lived a life of exemplary fidelity to the Lord. the patron saint provides a model of charity; we are assured of his intercession. the "baptismal name" can also express a Christian mystery or Christian virtue. "Parents, sponsors, and the pastor are to see that a name is not given which is foreign to Christian sentiment."

2157

Kitô hữu bắt đầu một ngày của mình, các kinh nguyện và hoạt động của mình bằng dấu thánh giá “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.” Người đã chịu Phép Rửa dâng trọn vẹn ngày mình sống để tôn vinh Thiên Chúa và kêu cầu Đấng Cứu Độ ban ân sủng giúp họ hành động trong Thần Khí như một người con của Chúa Cha. Dấu thánh giá làm cho chúng ta nên mạnh mẽ trong các cơn cám dỗ và trong những khó khăn.

The Christian begins his day, his prayers, and his activities with the Sign of the Cross: "in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit. Amen." the baptized person dedicates the day to the glory of God and calls on the Savior's grace which lets him act in the Spirit as a child of the Father. the sign of the cross strengthens us in temptations and difficulties.

2158

Thiên Chúa gọi từng người bằng tên của họ. Tên của mỗi người là thánh thiêng. Tên là hình ảnh của nhân vị. Nó đòi hỏi được tôn trọng, như dấu chỉ phẩm giá của người mang tên đó.

God calls each one by name. Everyone's name is sacred. the name is the icon of the person. It demands respect as a sign of the dignity of the one who bears it.

2159

Mỗi người sẽ mang tên của mình mãi mãi. Trong Vương quốc, phẩm chất huyền nhiệm và độc đáo của mỗi nhân vị, đã được ghi dấu bằng Danh Thiên Chúa, sẽ tỏa sáng trọn vẹn. “Ai thắng... Ta cũng sẽ ban cho nó một viên sỏi trắng, trên sỏi đó có khắc một tên mới; chẳng ai biết được tên ấy, ngoài kẻ lãnh nhận” (Kh 2,17). “Kìa Con Chiên đứng trên núi Xion, cùng với Con Chiên, có một trăm bốn mươi bốn ngàn người mang danh của Con Chiên và của Cha Con Chiên ghi trên trán” (Kh 14,1).

The name one receives is a name for eternity. In the kingdom, the mysterious and unique character of each person marked with God's name will shine forth in splendor. "To him who conquers . . . I will give a white stone, with a new name written on the stone which no one knows except him who receives it." "Then I looked, and Lo, on Mount Zion stood the Lamb, and with him a hundred and forty-four thousand who had his name and his Father's name written on their foreheads."

2160

“Lạy Chúa, là Chúa chúng con, lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu” (Tv 8,2).

"O Lord, our Lord, how majestic is your name in all the earth" (Ps 8:1)!

2161

Điều răn thứ hai dạy phải tôn kính Danh Chúa. Danh Chúa là thánh.

The second commandment enjoins respect for the Lord's name. the name of the Lord is holy.

2162

Điều răn thứ hai cấm mọi lạm dụng bất xứng đối với Danh Thiên Chúa. Nói phạm thượng là tội sử dụng Danh của Thiên Chúa, của Chúa Giêsu Kitô, Đức Trinh Nữ Maria và các Thánh một cách xúc phạm.

The second commandment forbids every improper use of God's name. Blasphemy is the use of the name of God, of Jesus Christ, of the Virgin Mary, and of the saints in an offensive way.

2163

Thề gian là kêu cầu Thiên Chúa làm chứng cho một điều dối trá. Bội thề là một lỗi phạm nghiêm trọng đối với Chúa, Đấng luôn trung tín với các lời Ngài đã hứa.

False oaths call on God to be witness to a lie. Perjury is a grave offence against the Lord who is always faithful to his promises.

2164

“Đừng thề nhân danh Đấng Tạo Hóa, cũng đừng thề nhân danh thụ tạo, trừ khi hội đủ ba điều này: ta nói lên sự thật, vì nhu cầu, và với lòng kính trọng.”

"Do not swear whether by the Creator, or any creature, except truthfully, of necessity, and with reverence" (St. Ignatius of Loyola, Spiritual Exercises, 38).

2165

Qua bí tích Rửa Tội, Kitô hữu nhận được một tên riêng trong Hội Thánh. Cha mẹ, người đỡ đầu và cha sở cần lưu tâm để đặt cho họ một tên Kitô Giáo. Vị thánh bổn mạng nêu gương sống đức mến và luôn chuyển cầu cho ta.

In Baptism, the Christian receives his name in the Church. Parents, godparents, and the pastor are to see that he be given a Christian name. the patron saint provides a model of charity and the assurance of his prayer.

2166

Kitô hữu bắt đầu các kinh nguyện và hoạt động của mình bằng dấu thánh giá “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.”

The Christian begins his prayers and activities with the Sign of the Cross: "in the name of the Father and of the Son and of the Holy Spirit. Amen."

2167

Thiên Chúa gọi từng người bằng tên của họ.

God calls each one by name (cf Isa 43:1).