Điều răn thứ mười giải thích và bổ túc điều răn thứ chín, là điều răn về dục vọng xác thịt. Điều răn thứ mười cấm sự ham muốn của cải của người khác, là cội rễ của tội trộm cắp, cướp đoạt và gian lận, mà điều răn thứ bảy đã cấm. “Dục vọng của đôi mắt” (1 Ga 2,16) đưa đến bạo lực và sự bất công, mà điều răn thứ năm đã cấm. Sự ham muốn, cũng như sự gian dâm, bắt nguồn từ việc thờ ngẫu tượng mà ba điều răn đầu của Lề Luật đã cấm. Điều răn thứ mười nhắm đến ý hướng của trái tim; và cùng với điều răn thứ chín, điều răn thứ mười tóm kết tất cả các điều răn của Lề Luật.
The tenth commandment unfolds and completes the ninth, which is concerned with concupiscence of the flesh. It forbids coveting the goods of another, as the root of theft, robbery, and fraud, which the seventh commandment forbids. "Lust of the eyes" leads to the violence and injustice forbidden by the fifth commandment. Avarice, like fornication, originates in the idolatry prohibited by the first three prescriptions of the Law. The tenth commandment concerns the intentions of the heart; with the ninth, it summarizes all the precepts of the Law.
Sự ham muốn giác quan khiến chúng ta ước muốn những điều thích thú mà chúng ta không có. Chẳng hạn muốn ăn khi đói, hay mong được sưởi ấm khi lạnh. Những ước muốn này tự chúng là tốt; nhưng chúng thường không giữ sự điều độ của lý trí và thúc đẩy chúng ta ham muốn cách bất chính điều không phải của chúng ta và điều thuộc về tha nhân hay mắc nợ họ.
The sensitive appetite leads us to desire pleasant things we do not have, e.g., the desire to eat when we are hungry or to warm ourselves when we are cold. These desires are good in themselves; but often they exceed the limits of reason and drive us to covet unjustly what is not ours and belongs to another or is owed to him.
Điều răn thứ mười cấm sự tham lam và ước muốn sở hữu của cải trần thế cách vô chừng mực; cấm sự ham muốn phát sinh do đam mê vô độ của cải và quyền lực do của cải đem lại. Điều răn này cũng cấm ước muốn làm điều bất công gây thiệt hại cho người lân cận về của cải trần thế của họ. “Khi Lề luật dạy: ‘Chớ tham của người’, thì có nghĩa là chúng ta đừng ham muốn những gì của người khác. Thật vậy, sự khao khát ham muốn của cải của người khác thì bao la, vô tận và chẳng bao giờ được thỏa mãn, như đã chép rằng: ‘Người thích tiền bạc có bao nhiêu cũng không lấy làm đủ’ (Gv 5,9).”
The tenth commandment forbids greed and the desire to amass earthly goods without limit. It forbids avarice arising from a passion for riches and their attendant power. It also forbids the desire to commit injustice by harming our neighbor in his temporal goods:
Không vi phạm điều răn này khi ước muốn những điều thuộc về người lân cận, miễn là bằng những phương thế chính đáng. Việc dạy giáo lý truyền thống nêu ra một cách thực tế, “những người phải vất vả hơn những người khác về thói xấu ham muốn này” và vì vậy, phải “được nhắc nhở cách chuyên cần hơn để tuân giữ điều răn này”: “Đó là... những nhà buôn ước muốn hàng hóa khan hiếm và nâng cao giá cả, những người chỉ muốn độc quyền mua bán, để có thể bán với giá cao hơn và mua với giá rẻ hơn; những người muốn kẻ khác gặp hoạn nạn để trục lợi, hoặc bằng cách bán cho họ hoặc bằng cách mua của họ...; những thầy thuốc muốn cho bệnh tật lây lan; những luật sư mong cho có nhiều vụ kiện cáo quan trọng.”
It is not a violation of this commandment to desire to obtain things that belong to one's neighbor, provided this is done by just means. Traditional catechesis realistically mentions "those who have a harder struggle against their criminal desires" and so who "must be urged the more to keep this commandment":
Điều răn thứ mười đòi hỏi phải loại trừ sự ganh tị khỏi trái tim con người. Khi muốn khuyến giục vua Đavít thống hối, tiên tri Nathan đã kể cho vua câu chuyện của một người nghèo, chỉ có một con chiên và thương yêu nó như con mình, và một người giàu, tuy có vô số chiên cừu, nhưng lại ganh tị với người kia và cuối cùng ăn cắp con chiên của người nghèo. Sự ganh tị có thể đưa tới việc làm tồi tệ nhất. “Chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian” (Kn 2,24): “Chúng ta đấm đá nhau, đó là vì sự ganh tị võ trang cho chúng ta chống lại nhau... Nếu mọi người đều cố phá rối Thân Thể của Đức Kitô, thì rồi chúng ta sẽ đi tới đâu? Chúng ta đang làm cho Thân Thể của Đức Kitô thành một xác chết... Chúng ta xưng mình là những chi thể của cùng một thân thể, vậy mà chúng ta lại cấu xé nhau như những thú rừng.”
The tenth commandment requires that envy be banished from the human heart. When the prophet Nathan wanted to spur King David to repentance, he told him the story about the poor man who had only one ewe lamb that he treated like his own daughter and the rich man who, despite the great number of his flocks, envied the poor man and ended by stealing his lamb. Envy can lead to the worst crimes. "Through the devil's envy death entered the world":
Ganh tị là một trong bảy mối tội đầu. Ganh tị chỉ sự buồn bực khi thấy kẻ khác có của cải, và sự ước ao vô độ muốn lấy của cải đó làm của mình, thậm chí bằng cách bất chính. Khi ganh tị lại kèm theo ước muốn cho người khác gặp hoạn nạn nặng nề, thì đó là một tội trọng: Thánh Augustinô coi ganh tị là “thói xấu của ma quỷ.” “Ganh tị sinh ra thù ghét, nói xấu, vu khống, vui khi thấy kẻ khác gặp hoạn nạn, buồn khi thấy kẻ khác được may lành.”
Envy is a capital sin. It refers to the sadness at the sight of another's goods and the immoderate desire to acquire them for oneself, even unjustly. When it wishes grave harm to a neighbor it is a mortal sin:
Ganh tị là một hình thức của sự buồn bực và vì vậy là sự khước từ đức mến; người đã chịu Phép Rửa phải chiến đấu chống lại nó bằng sự nhân hậu. Ganh tị thường do kiêu ngạo; người đã chịu Phép Rửa phải tập sống khiêm nhường: “Phần tôi, tôi muốn Thiên Chúa được tôn vinh. Còn bạn, bạn hãy vui mừng vì người anh em được thành công, và Thiên Chúa sẽ được tôn vinh nhờ bạn, và mọi người sẽ nói ‘Chúc tụng Thiên Chúa’, Đấng đã có những người tôi tớ như thế, những người đã được tự do không còn ganh tị, những người vui mừng về điều tốt của tha nhân.”
Envy represents a form of sadness and therefore a refusal of charity; the baptized person should struggle against it by exercising good will. Envy often comes from pride; the baptized person should train himself to live in humility:
Nhiệm cục lề luật và ân sủng làm cho trái tim con người thoát khỏi sự ham muốn và sự ganh tị; nhiệm cục đó khai tâm cho lòng ước muốn Sự Thiện trên trời; dạy con người biết những ước muốn của Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho trái tim con người no thỏa. Thiên Chúa của các lời hứa luôn cảnh giác con người chống lại sự quyến rũ của điều, từ nguyên thủy, xem ra “ăn thì phải ngon, trông thì đẹp mắt và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn” (St 3,6).
The economy of law and grace turns men's hearts away from avarice and envy. It initiates them into desire for the Sovereign Good; it instructs them in the desires of the Holy Spirit who satisfies man's heart. The God of the promises always warned man against seduction by what from the beginning has seemed "good for food . . . a delight to the eyes . . . to be desired to make one wise."
Luật được giao phó cho Ítraen không bao giờ đủ để công chính hóa những người tuân phục luật đó; Luật đó còn trở thành công cụ cho “dục vọng.” Sự thiếu quân bình giữa muốn và làm cho thấy sự xung đột giữa một bên là Luật của Thiên Chúa, tức là luật của tâm trí, với bên kia là một luật khác, “giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi” (Rm 7,23).
The Law entrusted to Israel never sufficed to justify those subject to it; it even became the instrument of "lust." The gap between wanting and doing points to the conflict between God's Law which is the "law of my mind," and another law "making me captive to the law of sin which dwells in my members."
“Ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần đến luật Môsê. Điều này, sách Luật và các Tiên tri làm chứng. Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô. Tất cả những ai tin đều được như thế” (Rm 3,21-22). Từ đó, các Kitô hữu “đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá, cùng với các dục vọng và đam mê” (Gl 5,24); họ được Thần Khí hướng dẫn và đi theo những ước muốn của Thần Khí.
"But now the righteousness of God has been manifested apart from law, although the law and the prophets bear witness to it, the righteousness of God through faith in Jesus Christ for all who believe." Henceforth, Christ's faithful "have crucified the flesh with its passions and desires"; they are led by the Spirit and follow the desires of the Spirit.
Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ yêu mến Người trên tất cả mọi sự và mọi người, và mời gọi họ từ bỏ “mọi sự họ có” vì Người và vì Tin Mừng. Trước cuộc khổ nạn của Người ít lâu, Người đã cho họ gương bà góa nghèo ở Giêrusalem, bà này, trong cảnh túng cực của mình, đã cho đi tất cả những gì bà có để sống. Lệnh truyền giữ trái tim tự do đối với của cải là bắt buộc để vào được Nước Trời.
Jesus enjoins his disciples to prefer him to everything and everyone, and bids them "renounce all that [they have]" for his sake and that of the Gospel. Shortly before his passion he gave them the example of the poor widow of Jerusalem who, out of her poverty, gave all that she had to live on. The precept of detachment from riches is obligatory for entrance into the Kingdom of heaven.
Mọi Kitô hữu phải “điều khiển các tình cảm của mình cách đúng đắn, kẻo việc sử dụng của cải trần gian và sự gắn bó với sự giàu sang nghịch với tinh thần khó nghèo của Tin Mừng, cản trở họ theo đuổi sự trọn hảo của đức mến.”
All Christ's faithful are to "direct their affections rightly, lest they be hindered in their pursuit of perfect charity by the use of worldly things and by an adherence to riches which is contrary to the spirit of evangelical poverty."
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó” (Mt 5,3). Các mối phúc cho chúng ta thấy trật tự của hạnh phúc và ân sủng, của vẻ đẹp và sự bình an. Chúa Giêsu tán dương niềm vui của những người nghèo, Nước Trời đã là của họ: “Tôi thấy Ngôi Lời gọi sự khiêm tốn tự nguyện của tâm hồn là ‘sự nghèo khó trong tinh thần’, và thánh Tông Đồ nêu lên cho chúng ta tấm gương nghèo khó của Thiên Chúa, khi ngài nói: ‘Người đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em’ (2 Cr 8,9).”
"Blessed are the poor in spirit." The Beatitudes reveal an order of happiness and grace, of beauty and peace. Jesus celebrates the joy of the poor, to whom the Kingdom already belongs:
Chúa khóc thương những người giàu có, bởi vì họ đã được an ủi trong của cải dư dật. “Kẻ kiêu căng tìm kiếm và yêu thích các nước trần gian, còn: Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” Việc phó thác cho sự quan phòng của Cha trên trời giải thoát khỏi những âu lo về ngày mai. Sự tín thác vào Thiên Chúa chuẩn bị cho việc hưởng vinh phúc của những người nghèo. Họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa.
The Lord grieves over the rich, because they find their consolation in the abundance of goods. "Let the proud seek and love earthly kingdoms, but blessed are the poor in spirit for theirs is the Kingdom of heaven." Abandonment to the providence of the Father in heaven frees us from anxiety about tomorrow. Trust in God is a preparation for the blessedness of the poor. They shall see God.
Sự ước muốn vinh phúc đích thực giúp con người thoát khỏi tình cảm vô độ đối với của cải của trần gian, để ước muốn đó được hoàn thành trong sự chiêm ngắm và vinh phúc của Thiên Chúa. “Quả thật, lời hứa [được nhìn thấy Thiên Chúa] là quá đỗi lớn lao, đến nỗi vượt quá giới hạn cuối cùng của vinh phúc... Vì, theo kiểu nói của Thánh Kinh, nhìn thấy cũng đồng nghĩa với sở hữu... Cho nên ai nhìn thấy Thiên Chúa, thì đã đạt được mọi phúc lộc mà người ta có thể nghĩ tưởng ra được.”
Desire for true happiness frees man from his immoderate attachment to the goods of this world so that he can find his fulfillment in the vision and beatitude of God. "The promise [of seeing God] surpasses all beatitude.... In Scripture, to see is to possess.... Whoever sees God has obtained all the goods of which he can conceive."
Dân Thánh còn phải chiến đấu để, nhờ ân sủng từ trên cao, đạt được những phúc lợi Thiên Chúa hứa ban. Để sở hữu và chiêm ngắm Thiên Chúa, các Kitô hữu phải chế ngự các ham muốn của mình, và nhờ ân sủng Thiên Chúa, vượt thắng được các quyến rũ của thú vui và quyền lực.
It remains for the holy people to struggle, with grace from on high, to obtain the good things God promises. In order to possess and contemplate God, Christ's faithful mortify their cravings and, with the grace of God, prevail over the seductions of pleasure and power.
Trên con đường trọn hảo này, Thần Khí và Tân Nương kêu gọi những ai biết lắng nghe tới sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa: “Ở đó sẽ có vinh quang thật, vì ở đó không ai được ca ngợi do bởi lầm lẫn hay nịnh bợ; danh dự thật sẽ không bị khước từ với người xứng đáng, mà cũng không được ban cho kẻ bất xứng; nhưng cũng chẳng có kẻ bất xứng nào sẽ tự cho là mình xứng đáng đến nơi mà không ai được phép đến, trừ ra người xứng đáng. Ở đó sẽ có bình an thật, vì không ai sẽ còn phải chịu đựng điều gì đối nghịch, hoặc do chính mình hoặc do người khác. Chính Thiên Chúa sẽ là phần thưởng của nhân đức, chính Ngài là Đấng đã ban nhân đức và đã hứa ban chính Ngài làm phần thưởng cho nhân đức, mà không có phần thưởng nào tốt hơn và lớn hơn được... ‘Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi, còn các ngươi sẽ là dân của Ta’ (Lv 26,12)... Đây cũng đúng là điều thánh Tông Đồ đã nói: ‘Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài’ (1 Cr 15,28). Chính Ngài sẽ là mục đích của những ước muốn của chúng ta, Ngài sẽ được chiêm ngưỡng không cùng, được yêu mến không chán, được ca ngợi không mỏi mệt. Và hồng ân này, tình cảm này, hành vi này chắc chắn sẽ là chung cho tất cả mọi người, cũng như sự sống vĩnh cửu chung.”
On this way of perfection, the Spirit and the Bride call whoever hears them to perfect communion with God:
“Kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (Mt 6,21).
"Where your treasure is, there will your heart be also" (Mt 6:21).
Điều răn thứ mười cấm sự ham muốn vô trật tự, phát sinh do đam mê vô độ của cải và quyền lực do của cải đem lại.
The tenth commandment forbids avarice arising from a passion for riches and their attendant power.
Ganh tị là buồn bực khi thấy kẻ khác có của cải, và ước ao vô độ muốn lấy của cải đó làm của mình. Ganh tị là một trong bảy mối tội đầu.
Envy is sadness at the sight of another's goods and the immoderate desire to have them for oneself. It is a capital sin.
Người đã chịu Phép Rửa phải chiến đấu chống lại tính ganh tị bằng sự nhân hậu, khiêm nhường và phó mình cho sự quan phòng của Thiên Chúa.
The baptized person combats envy through good-will, humility, and abandonment to the providence of God.
Các Kitô hữu “đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê” (Gl 5,24); họ được Thần Khí hướng dẫn và đi theo các ước muốn của Ngài.
Christ's faithful "have crucified the flesh with its passions and desires" (Gal 5:24); they are led by the Spirit and follow his desires.
Sự thắng vượt lòng quyến luyến của cải là cần thiết để vào Nước Trời. “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó” (Mt 5,3).
Detachment from riches is necessary for entering the Kingdom of heaven. "Blessed are the poor in spirit."
Người có lòng ước muốn nói: “Tôi muốn nhìn thấy Thiên Chúa.” Cơn khát Thiên Chúa được thỏa mãn bằng nước là đời sống vĩnh cửu.”
"I want to see God" expresses the true desire of man. Thirst for God is quenched by the water of eternal life (cf In 4:14).