Hỏi Đáp Công Giáo
Kinh Nguyện Kitô Giáo · Kinh nguyện trong đời sống Kitô hữu · Mặc khải về cầu nguyện
MỤC 1

Trong Cựu Ước

Số 2558–2597
2558

“Mầu nhiệm đức tin thật là cao cả.” Hội Thánh tuyên xưng mầu nhiệm ấy trong Tín biểu các Tông Đồ (Phần I) và cử hành trong phụng vụ bí tích (Phần II) để đời sống của các tín hữu nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần hầu tôn vinh Thiên Chúa Cha (Phần III). Vậy mầu nhiệm này đòi buộc các tín hữu phải tin, phải cử hành và phải sống mầu nhiệm ấy trong tương quan sống động và cá vị với Thiên Chúa hằng sống và chân thật. Tương quan này là cầu nguyện. “Đối với tôi, cầu nguyện là sự hướng lòng lên, là cái nhìn đơn sơ hướng về trời, là tiếng kêu tri ân và yêu mến cả trong cơn thử thách lẫn trong lúc vui mừng.”

"Great is the mystery of the faith!"

2559

“Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa hay là cầu xin Thiên Chúa ban cho những điều xứng hợp.” Chúng ta cầu nguyện từ vị trí nào? Từ chỗ cao của tính kiêu căng và ý riêng của chúng ta, hay “từ vực thẳm” (Tv 130,1) của một trái tim khiêm nhường và thống hối? Ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên. Khiêm nhường là nền tảng của cầu nguyện. “Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải” (Rm 8,26). Khiêm nhường là thái độ đón nhận cách nhưng không hồng ân cầu nguyện: trước mặt Thiên Chúa, con người là kẻ ăn xin.

"Prayer is the raising of one's mind and heart to God or the requesting of good things from God." But when we pray, do we speak from the height of our pride and will, or "out of the depths" of a humble and contrite heart? He who humbles himself will be exalted; humility is the foundation of prayer, Only when we humbly acknowledge that "we do not know how to pray as we ought," are we ready to receive freely the gift of prayer. "Man is a beggar before God."

2560

“Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban!” (Ga 4,10). Sự kỳ diệu của việc cầu nguyện được mặc khải ngay bên bờ giếng, nơi chúng ta đến tìm nước cho mình. Nơi đó, Đức Kitô đến gặp mọi người; Người đi bước trước trong việc tìm chúng ta và xin nước uống. Chúa Giêsu khát; lời xin của Người xuất phát từ cõi sâu thẳm của Thiên Chúa, Đấng khát mong chúng ta. Cầu nguyện, dù chúng ta có biết điều này hay không, là cuộc gặp gỡ giữa sự khao khát của Thiên Chúa với sự khao khát của chúng ta. Thiên Chúa khát khao chúng ta khao khát Ngài.

"If you knew the gift of God!" The wonder of prayer is revealed beside the well where we come seeking water: there, Christ comes to meet every human being. It is he who first seeks us and asks us for a drink. Jesus thirsts; his asking arises from the depths of God's desire for us. Whether we realize it or not, prayer is the encounter of God's thirst with ours. God thirsts that we may thirst for him.

2561

“Hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống” (Ga 4,10). Lời cầu xin của chúng ta, một cách nghịch lý, lại là một lời đáp. Là lời đáp lại tiếng than trách của Thiên Chúa hằng sống: “Chúng đã bỏ Ta là mạch nước trường sinh để làm những hồ nứt rạn, không giữ được nước” (Gr 2,13); là lời đáp của đức tin trước Lời hứa ban ơn cứu độ cách nhưng không; là lời đáp của tình yêu trước nỗi khát khao của Người Con duy nhất.

"You would have asked him, and he would have given you living water." Paradoxically our prayer of petition is a response to the plea of the living God: "They have forsaken me, the fountain of living waters, and hewn out cisterns for themselves, broken cisterns that can hold no water!" Prayer is the response of faith to the free promise of salvation and also a response of love to the thirst of the only Son of God.

2562

Lời cầu nguyện của con người xuất phát từ đâu? Cho dù cầu nguyện được diễn tả cách nào (qua cử chỉ và lời nói), cũng là trọn cả con người cầu nguyện. Nhưng để chỉ nơi xuất phát việc cầu nguyện, Sách Thánh đôi khi nói đến linh hồn hoặc tinh thần, nhưng thường nhất - hơn một nghìn lần - nói đến trái tim. Chính trái tim cầu nguyện. Nếu trái tim vẫn còn xa Thiên Chúa, thì lời cầu nguyện là vô ích.

Where does prayer come from? Whether prayer is expressed in words or gestures, it is the whole man who prays. But in naming the source of prayer, Scripture speaks sometimes of the soul or the spirit, but most often of the heart (more than a thousand times). According to Scripture, it is the heart that prays. If our heart is far from God, the words of prayer are in vain.

2563

Trái tim là nơi ta ở, nơi ta cư ngụ (theo cách nói của người Sêmít hay của Thánh Kinh: nơi ta “bước xuống”). Trái tim là nơi thầm kín của chúng ta mà lý trí của chúng ta cũng như của kẻ khác không thể thấu hiểu được; chỉ có Thần Khí Thiên Chúa có thể thăm dò và biết được nó. Trái tim là nơi diễn ra quyết định, trong cõi sâu thẳm nhất của các xu hướng tâm thần của chúng ta. Đó là nơi của chân lý, nơi chúng ta chọn lựa giữa sự sống và sự chết. Đó cũng chính là nơi để gặp gỡ, bởi vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, nên chúng ta sống (là sống) trong tương quan: trái tim là nơi của giao ước.

The heart is the dwelling-place where I am, where I live; according to the Semitic or Biblical expression, the heart is the place "to which I withdraw." The heart is our hidden center, beyond the grasp of our reason and of others; only the Spirit of God can fathom the human heart and know it fully. The heart is the place of decision, deeper than our psychic drives. It is the place of truth, where we choose life or death. It is the place of encounter, because as image of God we live in relation: it is the place of covenant.

2564

Cầu nguyện Kitô Giáo là một tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và con người trong Đức Kitô. Đó là hành động của Thiên Chúa và hành động của con người. Lời cầu nguyện xuất phát từ Chúa Thánh Thần và từ chúng ta, hoàn toàn hướng về Chúa Cha, trong sự kết hợp với ý chí nhân loại của Con Thiên Chúa làm người.

Christian prayer is a covenant relationship between God and man in Christ. It is the action of God and of man, springing forth from both the Holy Spirit and ourselves, wholly directed to the Father, in union with the human will of the Son of God made man.

2565

Trong Giao Ước Mới, cầu nguyện là mối tương quan sống động của con cái Thiên Chúa với Cha vô cùng nhân hậu của mình, với Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô và với Chúa Thánh Thần. Ân sủng của Nước Trời là “sự kết hợp của toàn thể Ba Ngôi Chí Thánh... với toàn thể tâm trí con người.” Như vậy, sống cầu nguyện là luôn sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa Chí Thánh và trong sự hiệp thông với Ngài. Việc hiệp thông sự sống này lúc nào cũng có thể thực hiện được, vì nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta đã nên một với Đức Kitô. Sự cầu nguyện mang đặc tính Kitô Giáo khi đó là sự hiệp thông với Đức Kitô và được triển nở trong Hội Thánh là Thân Thể Người. Các chiều kích của cầu nguyện cũng chính là những chiều kích của tình yêu Đức Kitô.

In the New Covenant, prayer is the living relationship of the children of God with their Father who is good beyond measure, with his Son Jesus Christ and with the Holy Spirit. The grace of the Kingdom is "the union of the entire holy and royal Trinity . . . with the whole human spirit." Thus, the life of prayer is the habit of being in the presence of the thrice-holy God and in communion with him. This communion of life is always possible because, through Baptism, we have already been united with Christ. Prayer is Christian insofar as it is communion with Christ and extends throughout the Church, which is his Body. Its dimensions are those of Christ's love.

2566

Con người đi tìm Thiên Chúa. Khi tạo dựng, Thiên Chúa kêu gọi mọi hữu thể từ hư vô bước vào hiện hữu. “Vì được ban vinh quang và danh dự làm mũ triều thiên”, con người, sau các Thiên thần, có khả năng nhận biết “Danh Chúa lẫy lừng trên khắp địa cầu.” Thậm chí sau khi đã đánh mất vẻ giống như Thiên Chúa vì phạm tội, con người vẫn còn mang hình ảnh của Đấng Tạo Hóa. Con người vẫn duy trì sự khao khát Thiên Chúa, Đấng đã làm cho họ hiện hữu. Mọi tôn giáo đều làm chứng cho sự tìm kiếm căn bản này của con người.

Man is in search of God. In the act of creation, God calls every being from nothingness into existence. "Crowned with glory and honor," man is, after the angels, capable of acknowledging "how majestic is the name of the Lord in all the earth." Even after losing through his sin his likeness to God, man remains an image of his Creator, and retains the desire for the one who calls him into existence. All religions bear witness to men's essential search for God.

2567

Thiên Chúa kêu gọi con người trước. Dù con người quên lãng Đấng Tạo hóa của mình hay trốn xa nhan Ngài, dù họ chạy theo các ngẫu tượng của mình hay than trách Thiên Chúa đã bỏ rơi họ, Thiên Chúa hằng sống và chân thật vẫn không ngừng kêu gọi từng người đến gặp Ngài cách huyền nhiệm trong việc cầu nguyện. Trong việc cầu nguyện, bước tình yêu của Thiên Chúa trung tín luôn là bước đầu tiên, còn bước của con người luôn là lời đáp lại. Cũng như Thiên Chúa tự mặc khải và mặc khải cho con người biết về chính họ, thì việc cầu nguyện cũng xuất hiện như một lời kêu gọi hỗ tương, như một thảm trạng của Giao Ước. Qua lời nói và hành động, thảm trạng này thúc giục trái tim. Thảm trạng đó được tỏ cho thấy trong suốt lịch sử cứu độ.

God calls man first. Man may forget his Creator or hide far from his face; he may run after idols or accuse the deity of having abandoned him; yet the living and true God tirelessly calls each person to that mysterious encounter known as prayer. In prayer, the faithful God's initiative of love always comes first; our own first step is always a response. As God gradually reveals himself and reveals man to himself, prayer appears as a reciprocal call, a covenant drama. Through words and actions, this drama engages the heart. It unfolds throughout the whole history of salvation.

2568

Mặc khải về cầu nguyện trong Cựu Ước diễn ra giữa việc con người sa ngã và được nâng dậy, giữa tiếng đau thương của Thiên Chúa gọi những đứa con đầu tiên của Ngài: “Ngươi ở đâu?... Ngươi đã làm gì?” (St 3,9.13), và lời đáp lại của Người Con độc nhất lúc Người bước vào trần gian: “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Hr 10,7). Như vậy, việc cầu nguyện gắn liền với lịch sử loài người; cầu nguyện là tương quan với Thiên Chúa trong những biến cố của lịch sử.

In the Old Testament, the revelation of prayer comes between the fall and the restoration of man, that is, between God's sorrowful call to his first children: "Where are you? . . . What is this that you have done?" and the response of God's only Son on coming into the world: "Lo, I have come to do your will, O God." Prayer is bound up with human history, for it is the relationship with God in historical events.

2569

Trước hết, đã có việc cầu nguyện ngay từ những thực tại của công trình tạo dựng. Chín chương đầu sách Sáng Thế mô tả mối tương quan này với Thiên Chúa như việc ông Aben dâng cho Chúa những con đầu lòng của bầy chiên, ông Ênóc kêu cầu Danh Chúa và “bước đi với Thiên Chúa.” Lễ dâng của ông Nôê đẹp lòng Thiên Chúa, Ngài chúc phúc cho ông, và qua ông, chúc phúc cho toàn thể công trình tạo dựng, vì lòng ông ngay chính và vẹn toàn; cả ông nữa cũng “đi với Thiên Chúa” (St 6,9). Biết bao người công chính trong mọi tôn giáo đã cầu nguyện theo cách thức như thế. Trong giao ước bất diệt với mọi sinh linh, Thiên Chúa luôn kêu gọi con người cầu khẩn Ngài. Nhưng nhất là từ tổ phụ Ápraham, việc cầu nguyện mới thật sự được mặc khải trong Cựu Ước.

Prayer is lived in the first place beginning with the realities of creation. the first nine chapters of Genesis describe this relationship with God as an offering of the first-born of Abel's flock, as the invocation of the divine name at the time of Enosh, and as "walking with God. Noah's offering is pleasing to God, who blesses him and through him all creation, because his heart was upright and undivided; Noah, like Enoch before him, "walks with God." This kind of prayer is lived by many righteous people in all religions. In his indefectible covenant with every living creature, God has always called people to prayer. But it is above all beginning with our father Abraham that prayer is revealed in the Old Testament.

2570

Ngay khi Thiên Chúa kêu gọi, “ông Ápraham ra đi, như Chúa đã phán với ông” (St 12,4): trái tim ông hoàn toàn “suy phục Lời Chúa”; ông vâng lời. Sự lắng nghe của trái tim quyết định tuân theo Thiên Chúa là điều cốt yếu của việc cầu nguyện, các lời nói chỉ quy về đó. Nhưng việc cầu nguyện của ông Ápraham được diễn tả trước tiên bằng hành động: là con người thinh lặng, ông đã dựng một bàn thờ để kính Chúa ở mỗi chặng dừng chân. Chỉ mãi sau này, lần đầu tiên ông mới cầu nguyện bằng lời: đó là một lời than thở kín đáo, nhắc Thiên Chúa nhớ đến các lời hứa của Ngài, mà xem ra như không được thực hiện. Như vậy, ngay từ đầu đã xuất hiện một trong những khía cạnh của tấn bi kịch cầu nguyện: đó là thử thách đức tin vào sự trung tín của Thiên Chúa.

When God calls him, Abraham goes forth "as the Lord had told him"; Abraham's heart is entirely submissive to the Word and so he obeys. Such attentiveness of the heart, whose decisions are made according to God's will, is essential to prayer, while the words used count only in relation to it. Abraham's prayer is expressed first by deeds: a man of silence, he constructs an altar to the Lord at each stage of his journey. Only later does Abraham's first prayer in words appear: a veiled complaint reminding God of his promises which seem unfulfilled. Thus one aspect of the drama of prayer appears from the beginning: the test of faith in the fidelity of God.

2571

Vì tin vào Thiên Chúa, đi trước nhan Ngài và trong giao ước với Ngài, tổ phụ Ápraham đã sẵn sàng đón tiếp Vị khách huyền bí vào lều trại của mình. Lòng hiếu khách đặc biệt của tổ phụ tại Mambrê mở đường cho Thiên Chúa loan báo về Người Con đích thực của lời hứa. Từ lúc đó, khi được Thiên Chúa bộc lộ cho biết ý định của Ngài, trái tim của tổ phụ Ápraham đã hòa theo lòng trắc ẩn của Chúa mình đối với loài người và dám chuyển cầu cho họ với một niềm tin tưởng bạo dạn.

Because Abraham believed in God and walked in his presence and in covenant with him, The patriarch is ready to welcome a mysterious Guest into his tent. Abraham's remarkable hospitality at Mamre foreshadows the annunciation of the true Son of the promise. After that, once God had confided his plan, Abraham's heart is attuned to his Lord's compassion for men and he dares to intercede for them with bold confidence.

2572

Trong cuộc thanh luyện cuối cùng về đức tin, Thiên Chúa đã đòi ông Ápraham, người “đã nhận được lời hứa” (Hr 11,17), phải sát tế đứa con mà Thiên Chúa đã ban cho ông. Ông Ápraham vẫn vững tin: “Lễ toàn thiêu, chính Thiên Chúa sẽ liệu” (St 22,8), vì nghĩ rằng “Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy” (Hr 11,19). Như vậy, vị tổ phụ của những người tin đã nên giống Chúa Cha, Đấng chẳng tha chính Con Một của Ngài, nhưng đã trao nộp Người vì hết thảy chúng ta. Nhờ cầu nguyện con người được phục hồi tình trạng “giống như Thiên Chúa” và được tham dự vào quyền năng của tình yêu Thiên Chúa, là quyền năng cứu độ muôn người.

As a final stage in the purification of his faith, Abraham, "who had received the promises," is asked to sacrifice the son God had given him. Abraham's faith does not weaken (“God himself will provide the lamb for a burnt offering."), for he "considered that God was able to raise men even from the dead." and so the father of believers is conformed to the likeness of the Father who will not spare his own Son but wiLl deliver him up for us all. Prayer restores man to God's likeness and enables him to share in the power of God's love that saves the multitude.

2573

Thiên Chúa đã nhắc lại lời hứa của Ngài với ông Giacóp, tổ phụ của mười hai chi tộc Ítraen. Trước khi chạm trán với anh mình là ông Êxau, ông Giacóp đã vật lộn suốt đêm với một nhân vật huyền bí. Vị này không chịu nói tên, nhưng đã chúc phúc cho ông Giacóp trước khi bỏ đi lúc bình minh. Truyền thống linh đạo của Hội Thánh đã xem trình thuật này là biểu tượng của việc cầu nguyện, xét như cuộc chiến đấu của đức tin và sự chiến thắng của lòng kiên trì.

God renews his promise to Jacob, the ancestor of the twelve tribes of Israel. Before confronting his elder brother Esau, Jacob wrestles all night with a mysterious figure who refuses to reveal his name, but he blesses him before leaving him at dawn. From this account, the spiritual tradition of the Church has retained the symbol of prayer as a battle of faith and as the triumph of perseverance.

2574

Khi lời hứa bắt đầu được thực hiện (Vượt qua, Xuất hành, ban Lề luật và ký Giao ước) thì lời cầu nguyện của ông Môsê là hình ảnh nổi bật của lời kinh chuyển cầu sẽ được hoàn thành nơi “Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, là Chúa Giêsu Kitô” (1 Tm 2,5).

Once the promise begins to be fulfilled (Passover, the Exodus, the gift of the Law, and the ratification of the covenant), the prayer of Moses becomes the most striking example of intercessory prayer, which will be fulfilled in "the one mediator between God and men, the man Christ Jesus."

2575

Ở đây cũng vậy, Thiên Chúa đã đến trước. Ngài gọi ông Môsê từ giữa bụi cây đang cháy. Biến cố này trong truyền thống linh đạo Do Thái và Kitô Giáo sẽ tồn tại như một trong những hình ảnh hàng đầu về cầu nguyện. Thật vậy, nếu “Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Ixaác và Thiên Chúa của Giacóp” kêu gọi tôi tớ Ngài là ông Môsê, đó là vì chính Ngài là Thiên Chúa hằng sống, Đấng muốn cho con người được sống. Ngài tỏ mình ra để cứu họ, nhưng Ngài không hành động đơn phương hoặc không đếm xỉa đến họ. Vì thế, Ngài gọi ông Môsê để sai ông đi, để ông cộng tác vào lòng trắc ẩn và công trình cứu độ của Ngài. Để sai ông đi, hầu như Thiên Chúa phải năn nỉ, và sau một tranh luận lâu dài, ông Môsê mới thuận theo ý muốn của Thiên Chúa Cứu Độ. Nhưng trong cuộc đối thoại này, Thiên Chúa đã tín nhiệm ông Môsê, còn ông Môsê thì học cho biết cầu nguyện: ông thoái thác, ông thắc mắc, và nhất là ông yêu cầu; và chính để đáp lại lời yêu cầu của ông mà Thiên Chúa đã bộc lộ cho ông Thánh Danh khôn tả của Ngài, Danh sẽ được mặc khải qua những kỳ công của Ngài.

Here again the initiative is God's. From the midst of the burning bush he calls Moses. This event will remain one of the primordial images of prayer in the spiritual tradition of Jews and Christians alike. When "the God of Abraham, of Isaac, and of Jacob" calls Moses to be his servant, it is because he is the living God who wants men to live. God reveals himself in order to save them, though he does not do this alone or despite them: he caLls Moses to be his messenger, an associate in his compassion, his work of salvation. There is something of a divine plea in this mission, and only after long debate does Moses attune his own will to that of the Savior God. But in the dialogue in which God confides in him, Moses also learns how to pray: he balks, makes excuses, above all questions: and it is in response to his question that the Lord confides his ineffable name, which will be revealed through his mighty deeds.

2576

“Thiên Chúa đàm đạo với ông Môsê, mặt giáp mặt, như hai người bạn với nhau” (Xh 33,11). Cách cầu nguyện của ông Môsê là khuôn mẫu của việc cầu nguyện chiêm niệm, nhờ đó người tôi tớ của Thiên Chúa mới trung thành với sứ mạng của mình. Ông Môsê “nói chuyện” thường xuyên và lâu giờ với Chúa, khi ông lên núi để lắng nghe và cầu khẩn Ngài, khi ông xuống gặp dân để nói lại cho họ những lời của Thiên Chúa và để hướng dẫn họ. “Trong toàn thể nhà của Ta, Môsê là người trung thành nhất! Thật vậy, Ta nói với nó trực diện, nhãn tiền” (Ds 12,7-8), vì “ông Môsê là người hiền lành nhất đời” (Ds 12,3).

"Thus the Lord used to speak to Moses face to face, as a man speaks to his friend." Moses' prayer is characteristic of contemplative prayer by which God's servant remains faithful to his mission. Moses converses with God often and at length, climbing the mountain to hear and entreat him and coming down to the people to repeat the words of his God for their guidance. Moses "is entrusted with all my house. With him I speak face to face, clearly, not in riddles," for "Moses was very humble, more so than anyone else on the face of the earth."

2577

Nhờ sống thân mật với Thiên Chúa thành tín, chậm giận và giàu lòng thương xót, ông Môsê đã kín múc được sức mạnh và sự kiên trì để chuyển cầu cho dân. Ông không cầu xin cho bản thân, nhưng cho dân mà Thiên Chúa đã thủ đắc làm dân riêng của Ngài. Ông Môsê đã chuyển cầu trong cuộc chiến với người Amalec, và đã chuyển cầu cho cô Myriam được chữa lành. Nhưng nhất là sau khi dân bội giáo, ông đã “đem thân cản lối” trước nhan Thiên Chúa (Tv 106,23) để cứu dân. Các lý lẽ trong lời cầu nguyện của ông Môsê (lời chuyển cầu cũng là một cuộc chiến nhiệm mầu) sẽ gợi hứng cho sự bạo dạn của những người cầu nguyện thời danh trong dân Do Thái cũng như trong Hội Thánh: Thiên Chúa là tình yêu, nên Ngài cũng công bằng và thành tín. Ngài không thể mâu thuẫn với chính mình, nên Ngài phải nhớ lại các kỳ công của Ngài; vì vinh quang của Ngài, Ngài không thể bỏ rơi dân tộc mang Danh của Ngài.

From this intimacy with the faithful God, slow to anger and abounding in steadfast love, Moses drew strength and determination for his intercession. He does not pray for himself but for the people whom God made his own. Moses already intercedes for them during the battle with the Amalekites and prays to obtain healing for Miriam. But it is chiefly after their apostasy that Moses "stands in the breach" before God in order to save the people. The arguments of his prayer - for intercession is also a mysterious battle - will inspire the boldness of the great intercessors among the Jewish people and in the Church: God is love; he is therefore righteous and faithful; he cannot contradict himself; he must remember his marvellous deeds, since his glory is at stake, and he cannot forsake this people that bears his name.

2578

Việc cầu nguyện của Dân Thiên Chúa sẽ được triển nở dưới bóng nhà Chúa, hòm bia Giao ước và sau này là Đền thờ. Trước hết, chính những người lãnh đạo dân - các mục tử và tiên tri - dạy cho dân cầu nguyện. Cậu bé Samuel cũng phải học nơi mẹ mình cách “đứng trước nhan Chúa” và học nơi tư tế Êli để biết cách lắng nghe Lời Chúa: “Lạy Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe” (1 Sm 3,9-10). Sau này, chính Samuel cũng biết đến giá trị và tầm quan trọng của lời chuyển cầu: “Phần tôi, không đời nào tôi phạm tội nghịch cùng Chúa là thôi cầu nguyện cho anh em. Tôi sẽ cho anh em biết đường ngay nẻo chính” (1 Sm 12,23).

The prayer of the People of God flourishes in the shadow of God's dwelling place, first the ark of the covenant and later the Temple. At first the leaders of the people - the shepherds and the prophets - teach them to pray. the infant Samuel must have learned from his mother Hannah how "to stand before the LORD" and from the priest Eli how to listen to his word: "Speak, LORD, for your servant is listening." Later, he will also know the cost and consequence of intercession: "Moreover, as for me, far be it from me that I should sin against the LORD by ceasing to pray for you; and I will instruct you in the good and the right way."

2579

Đavít đặc biệt là vị vua “đẹp lòng Thiên Chúa”, là mục tử cầu nguyện cho toàn dân và nhân danh toàn dân, là con người mà sự tuân phục thánh ý Thiên Chúa, việc ngợi khen Thiên Chúa và lòng ăn năn thống hối của ông sẽ là mẫu mực cho việc cầu nguyện của dân. Là người được Thiên Chúa xức dầu, lời cầu nguyện của vua Đavít là sự gắn bó trung thành với lời hứa của Thiên Chúa, là lòng tín thác đầy yêu mến và hân hoan vào Đấng là Vua và là Chúa duy nhất. Trong các Thánh vịnh, vua Đavít, được Chúa Thánh Thần linh hứng, là vị tiên tri hàng đầu của truyền thống cầu nguyện Do Thái và Kitô Giáo. Lời cầu nguyện của Đức Kitô, Đấng Mêssia đích thực và là con vua Đavít, sẽ mặc khải và hoàn tất ý nghĩa của việc cầu nguyện đó.

David is par excellence the king "after God's own heart," the shepherd who prays for his people and prays in their name. His submission to the will of God, his praise, and his repentance, will be a model for the prayer of the people. His prayer, the prayer of God's Anointed, is a faithful adherence to the divine promise and expresses a loving and joyful trust in God, the only King and Lord. In the Psalms David, inspired by the Holy Spirit, is the first prophet of Jewish and Christian prayer. the prayer of Christ, the true Messiah and Son of David, will reveal and fulfill the meaning of this prayer.

2580

Đền thờ Giêrusalem, ngôi nhà cầu nguyện mà vua Đavít muốn xây dựng, sẽ là công trình của con ông, là vua Salômon. Lời nguyện Cung hiến Đền thờ dựa vào Lời hứa của Thiên Chúa và Giao ước của Ngài, vào sự hiện diện tác động của Danh Ngài giữa dân Ngài và vào sự tưởng niệm những kỳ công thời Xuất hành. Lúc đó nhà vua giơ tay lên trời và cầu khẩn Chúa cho chính mình, cho toàn dân, cho các thế hệ tương lai, xin Thiên Chúa tha tội cho họ và ban cho những gì cần thiết hằng ngày, để muôn dân nhận biết Ngài là Thiên Chúa duy nhất và dân Chúa hết lòng kính mến Ngài.

The Temple of Jerusalem, the house of prayer that David wanted to build, will be the work of his son, Solomon. the prayer at the dedication of the Temple relies on God's promise and covenant, on the active presence of his name among his People, recalling his mighty deeds at the Exodus. The king lifts his hands toward heaven and begs the Lord, on his own behalf, on behalf of the entire people, and of the generations yet to come, for the forgiveness of their sins and for their daily needs, so that the nations may know that He is the only God and that the heart of his people may belong wholly and entirely to him.

2581

Đối với dân Thiên Chúa, Đền thờ là nơi dạy cho họ biết cầu nguyện: các cuộc hành hương, các lễ hội, hy tế, lễ dâng ban chiều, dâng hương, bánh “trưng hiến”, tất cả những dấu chỉ này về sự thánh thiện và vinh quang của Thiên Chúa Tối Cao nhưng rất gần gũi, đều là những lời mời gọi và là những nẻo đường đưa đến việc cầu nguyện. Nhưng thái độ quá chuộng nghi lễ thường lôi kéo dân đến một cách thờ phượng quá bề ngoài. Việc giáo dục đức tin và hối cải tâm hồn là cần thiết. Đó là sứ vụ của các tiên tri trước và sau thời lưu đày.

For the People of God, the Temple was to be the place of their education in prayer: pilgrimages, feasts and sacrifices, the evening offering, the incense, and the bread of the Presence (“shewbread") - all these signs of the holiness and glory of God Most High and Most Near were appeals to and ways of prayer. But ritualism often encouraged an excessively external worship. the people needed education in faith and conversion of heart; this was the mission of the prophets, both before and after the Exile.

2582

Êlia là tổ phụ của các tiên tri, thuộc dòng dõi những kẻ tìm kiếm Ngài, những kẻ tìm kiếm tôn nhan Ngài. Tên của ông, có nghĩa “Chúa là Thiên Chúa của tôi”, tiên báo tiếng hô của dân đáp lại lời cầu nguyện của ông trên núi Carmel. Thánh Giacôbê nhắc đến gương ông Êlia để khích lệ chúng ta cầu nguyện: “Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực” (Gc 5,16).

Elijah is the "father" of the prophets, "the generation of those who seek him, who seek the face of the God of Jacob." Elijah's name, "The Lord is my God," foretells the people's cry in response to his prayer on Mount Carmel. St. James refers to Elijah in order to encourage us to pray: "The prayer of the righteous is powerful and effective."

2583

Sau khi học biết thương xót lúc ẩn mình tại suối Charith, ông Êlia dạy cho bà góa ở Sarepta tin vào lời Thiên Chúa và củng cố đức tin của bà bằng lời cầu nguyện tha thiết của ông: Thiên Chúa đã làm cho con trai bà góa sống lại. Khi ông Êlia dâng hy lễ trên núi Cácmen, đó là lúc thử thách quyết liệt đối với đức tin của dân Thiên Chúa, thì lửa của Chúa đã thiêu hủy của lễ toàn thiêu “vào giờ người ta hiến dâng của lễ ban chiều” nhờ lời khẩn cầu của ông Êlia: “Xin đáp lời con, lạy Chúa, xin đáp lời con” (1 V 18,37). Các phụng vụ Đông phương đã dùng lại lời khẩn cầu này của ông Êlia trong kinh Khẩn nguyện xin ban Chúa Thánh Thần (Epiclesis) trong thánh lễ. Sau cùng, trở lại hoang địa, đến nơi Thiên Chúa hằng sống và chân thật đã tỏ mình ra cho dân Ngài, ông Êlia ẩn mình, như ông Môsê, “trong một hang đá” cho tới khi sự hiện diện nhiệm mầu của Thiên Chúa “đi qua.” Nhưng chỉ trên núi Hiển Dung, Đấng mà ông Môsê và ông Êlia đã tìm kiếm tôn nhan, mới được tỏ lộ: các ông nhận ra vinh quang của Thiên Chúa nơi tôn nhan Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.

After Elijah had learned mercy during his retreat at the Wadi Cherith, he teaches the widow of Zarephath to believe in the Word of God and confirms her faith by his urgent prayer: God brings the widow's child back to life. The sacrifice on Mount Carmel is a decisive test for the faith of the People of God. In response to Elijah's plea, "Answer me, O LORD, answer me," the Lord's fire consumes the holocaust, at the time of the evening oblation. the Eastern liturgies repeat Elijah's plea in the Eucharistic epiclesis. Finally, taking the desert road that leads to the place where the living and true God reveals himself to his people, Elijah, like Moses before him, hides "in a cleft of he rock" until the mysterious presence of God has passed by. But only on the mountain of the Transfiguration will Moses and Elijah behold the unveiled face of him whom they sought; "the light of the knowledge of the glory of God [shines] in the face of Christ," crucified and risen.

2584

Trong những lúc “riêng một mình với Thiên Chúa”, các tiên tri múc được ánh sáng và sức mạnh cho sứ vụ của mình. Việc cầu nguyện của các ông không phải là chạy trốn thế giới bất trung, nhưng là lắng nghe Lời Thiên Chúa, đôi khi tranh luận hoặc than thở với Chúa, luôn luôn chuyển cầu cho dân để chờ đợi và chuẩn bị cho sự can thiệp của Thiên Chúa Cứu Độ, là Chúa của lịch sử.

In their "one to one" encounters with God, the prophets draw light and strength for their mission. Their prayer is not flight from this unfaithful world, but rather attentiveness to the Word of God. At times their prayer is an argument or a complaint, but it is always an intercession that awaits and prepares for the intervention of the Savior God, the Lord of history.

2585

Từ thời vua Đavít cho tới khi Đấng Mêsia đến, những bản văn cầu nguyện trong Sách Thánh chứng tỏ lời cầu nguyện cho mình cũng như cho tha nhân ngày càng sâu sắc hơn. Dần dần các Thánh vịnh được thu tập thành một bộ gồm năm cuốn: đó là sách Thánh vịnh (hay “Những lời ca ngợi”), là tuyệt tác về cầu nguyện trong Cựu Ước.

From the time of David to the coming of the Messiah texts appearing in these sacred books show a deepening in prayer for oneself and in prayer for others. Thus the psalms were gradually collected into the five books of the Psalter (or "Praises"), the masterwork of prayer in the Old Testament.

2586

Các Thánh vịnh nuôi dưỡng và diễn tả việc cầu nguyện của dân Thiên Chúa với tư cách là cộng đoàn, vào những ngày lễ lớn tại Giêrusalem và mỗi ngày sabát trong các hội đường. Kinh nguyện này vừa có tính cá nhân vừa có tính cộng đoàn, liên quan đến những người đang cầu nguyện và tất cả mọi người; vang lên từ Thánh địa và từ các cộng đoàn Do Thái tản mác khắp nơi, nhưng bao trùm toàn thể công trình tạo dựng. Các Thánh vịnh gợi nhớ các biến cố cứu độ trong quá khứ và hướng đến ngày hoàn tất lịch sử; giúp nhớ lại những lời hứa của Thiên Chúa đã được thực hiện, và chờ đợi Đấng Mêsia, Đấng sẽ hoàn tất trọn vẹn các lời hứa ấy. Các Thánh vịnh, đã được Đức Kitô sử dụng để cầu nguyện và đã được hoàn tất nơi Người, vẫn luôn chiếm vị trí thiết yếu trong kinh nguyện của Hội Thánh Người.

The Psalms both nourished and expressed the prayer of the People of God gathered during the great feasts at Jerusalem and each Sabbath in the synagogues. Their prayer is inseparably personal and communal; it concerns both those who are praying and all men. the Psalms arose from the communities of the Holy Land and the Diaspora, but embrace all creation. Their prayer recalls the saving events of the past, yet extends into the future, even to the end of history; it commemorates the promises God has already kept, and awaits the Messiah who will fulfill them definitively. Prayed by Christ and fulfilled in him, the Psalms remain essential to the prayer of the Church.

2587

Tập Thánh vịnh là cuốn sách, trong đó Lời của Thiên Chúa trở thành lời cầu nguyện của con người. Trong các cuốn sách khác của Cựu Ước, thì “các lời nói... loan báo những công trình [Thiên Chúa đã thực hiện cho con người] và làm sáng tỏ mầu nhiệm chứa đựng trong đó.” Còn trong tập Thánh vịnh, lời của các tác giả Thánh vịnh vừa diễn tả những công trình cứu độ của Thiên Chúa, vừa ca mừng Ngài vì những công trình đó. Cùng một Thần Khí linh hứng cả công trình của Thiên Chúa, cả lời đáp lại của con người. Đức Kitô sẽ kết hợp cả hai lại với nhau. Trong Người, các Thánh vịnh không ngừng dạy ta cầu nguyện.

The Psalter is the book in which the Word of God becomes man's prayer. In other books of the Old Testament, "the words proclaim [God's] works and bring to light the mystery they contain." The words of the Psalmist, sung for God, both express and acclaim the Lord's saving works; the same Spirit inspires both God's work and man's response. Christ will unite the two. In him, the psalms continue to teach us how to pray.

2588

Những cách diễn tả đa dạng của lời cầu nguyện trong Thánh vịnh được hình thành từ phụng tự Đền thờ, cũng như từ trái tim con người. Dù là thánh thi, lời kêu cầu trong cơn nguy khốn hay bài ca tạ ơn, lời khẩn cầu cá nhân hay cộng đoàn, bài ca cung đình hoặc khúc hát hành hương, bài suy niệm giáo huấn, các Thánh vịnh đều phản chiếu những kỳ công của Thiên Chúa trong lịch sử dân Ngài và những tình huống mà tác giả Thánh vịnh đã sống. Dù Thánh vịnh có thể phản ánh một biến cố trong quá khứ, nó vẫn bình dị đến nỗi con người thuộc bất cứ hoàn cảnh và thời đại nào cũng có thể sử dụng để cầu nguyện.

The Psalter's many forms of prayer take shape both in the liturgy of the Temple and in the human heart. Whether hymns or prayers of lamentation or thanksgiving, whether individual or communal, whether royal chants, songs of pilgrimage or wisdom meditations, the Psalms are a mirror of God's marvelous deeds in the history of his people, as well as reflections of the human experiences of the Psalmist. Though a given psalm may reflect an event of the past, it still possesses such direct simplicity that it can be prayed in truth by men of all times and conditions.

2589

Một số nét chung thường nổi bật trong các Thánh vịnh: sự đơn sơ và bộc phát của lời cầu nguyện, lòng khao khát chính Thiên Chúa qua và với tất cả những gì là tốt lành trong công trình tạo dựng của Ngài, hoàn cảnh khó khăn của tín hữu muốn yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự nhưng phải đối diện với bao kẻ thù và cám dỗ, trong khi chờ đợi Thiên Chúa trung tín ra tay hành động, vẫn xác tín vào tình yêu của Thiên Chúa và phó thác theo thánh ý Ngài. Lời cầu nguyện của các Thánh vịnh luôn có tâm tình ca ngợi, nên tập sách này có một tên gọi rất phù hợp với điều nó mang đến cho chúng ta: “Những lời ca ngợi.” Vì được sưu tập để dùng trong phụng tự của cộng đoàn, nên cuốn Thánh vịnh vang lên lời mời gọi cầu nguyện đồng thời hát lên lời đáp: Hallelu-Yah! (“Alleluia”): “Hãy ca ngợi Chúa!” “Còn gì tốt hơn một Thánh vịnh? Vì thế, vua Đavít đã nói rất đúng rằng: ‘Hãy ca ngợi Chúa vì Thánh vịnh thật là tốt đẹp; hãy dâng lời ca ngợi hân hoan và êm dịu lên Thiên Chúa chúng ta’. Quả vậy, Thánh vịnh là lời chúc tụng của dân, lời ca tụng Thiên Chúa, lời ca ngợi của cộng đoàn, tiếng hoan hô của mọi người, lời nói của vũ trụ, tiếng nói của Hội Thánh, lời tuyên xưng đức tin đầy giai điệu.”

Certain constant characteristics appear throughout the Psalms: simplicity and spontaneity of prayer; the desire for God himself through and with all that is good in his creation; the distraught situation of the believer who, in his preferential love for the Lord, is exposed to a host of enemies and temptations, but who waits upon what the faithful God will do, in the certitude of his love and in submission to his will. the prayer of the psalms is always sustained by praise; that is why the title of this collection as handed down to us is so fitting: "The Praises." Collected for the assembly's worship, the Psalter both sounds the call to prayer and sings the response to that call: Hallelu-Yah! (“Alleluia"), "Praise the Lord!"

2590

Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa hay là cầu xin Thiên Chúa ban cho những điều xứng hợp.

"Prayer is the raising of one's mind and heart to God or the requesting of good things from God" (St. John Damascene, Defide orth. 3, 24: PG 94, 1089C).

2591

Thiên Chúa không ngừng kêu gọi mỗi người đến gặp gỡ Ngài cách huyền nhiệm trong việc cầu nguyện. Suốt dòng lịch sử cứu độ, cầu nguyện mang tính cách một lời mời gọi hỗ tương giữa Thiên Chúa và con người.

God tirelessly calls each person to this mysterious encounter with Himself. Prayer unfolds throughout the whole history of salvation as a reciprocal call between God and man.

2592

Việc cầu nguyện của ông Ápraham và ông Giacóp được trình bày như một cuộc chiến đấu của đức tin để giữ lòng tín thác vào Thiên Chúa trung tín và xác tín rằng Ngài sẽ ban chiến thắng cho kẻ kiên trì.

The prayer of Abraham and Jacob is presented as a battle of faith marked by trust in God's faithfulness and by certitude in the victory promised to perseverance.

2593

Lời cầu nguyện của ông Môsê đáp lại sáng kiến của Thiên Chúa hằng sống muốn cứu độ dân Ngài. Đây là hình ảnh báo trước lời chuyển cầu của Đấng Trung Gian duy nhất là Đức Kitô Giêsu.

The prayer of Moses responds to the living God's initiative for the salvation of his people. It foreshadows the prayer of intercession of the unique mediator, Christ Jesus.

2594

Lời cầu nguyện của dân Thiên Chúa được triển nở dưới bóng Nhà Chúa, Hòm Bia giao ước và Đền Thờ, dưới sự hướng dẫn của các mục tử, đặc biệt là vua Đavít và của các tiên tri.

The prayer of the People of God flourished in the shadow of the dwelling place of God's presence on earth, the ark of the covenant and the Temple, under the guidance of their shepherds, especially King David, and of the prophets.

2595

Các tiên tri kêu gọi dân hối cải tâm hồn và, trong khi nhiệt thành tìm kiếm tôn nhan Thiên Chúa, như tiên tri Êlia, các ngài chuyển cầu cho dân.

The prophets summoned the people to conversion of heart and, while zealously seeking the face of God, like Elijah, they interceded for the people.

2596

Các Thánh vịnh là tuyệt tác về cầu nguyện trong Cựu Ước, gồm hai yếu tố không thể tách rời: vừa có tính cá nhân vừa có tính cộng đoàn. Các Thánh vịnh bao trùm mọi chiều kích của lịch sử, giúp nhớ lại những lời hứa của Thiên Chúa đã được thực hiện và chờ đợi Đấng Mêsia ngự đến.

The Psalms constitute the masterwork of prayer in the Old Testament. They present two inseparable qualities: the personal, and the communal. They extend to all dimensions of history, recalling God's promises already fulfilled and looking for the coming of the Messiah.

2597

Các Thánh vịnh, đã được Đức Kitô sử dụng để cầu nguyện và đã được hoàn tất nơi Người, vẫn luôn chiếm vị trí thiết yếu trong kinh nguyện của Hội Thánh Người. Các Thánh vịnh luôn thích hợp với mọi người thuộc bất cứ hoàn cảnh và thời đại nào.

Prayed and fulfilled in Christ, the Psalms are an essential and permanent element of the prayer of the Church. They are suitable for men of every condition and time.