Vấn đề cầu nguyện được mặc khải cho chúng ta cách trọn vẹn trong Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta. Khi tìm hiểu việc cầu nguyện của Người qua những gì các chứng nhân kể lại trong Tin Mừng, chúng ta được đến gần Đấng thánh là Chúa Giêsu, như đến gần Bụi cây đang cháy: trước tiên chiêm ngưỡng chính Người cầu nguyện, rồi lắng nghe Người dạy chúng ta cầu nguyện, để sau cùng nhận biết Người nhận lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào.
The drama of prayer is fully revealed to us in the Word who became flesh and dwells among us. To seek to understand his prayer through what his witnesses proclaim to us in the Gospel is to approach the holy Lord Jesus as Moses approached the burning bush: first to contemplate him in prayer, then to hear how he teaches us to pray, in order to know how he hears our prayer.
Con Thiên Chúa, khi trở thành Con Đức Trinh Nữ, cũng đã học cầu nguyện theo trái tim nhân loại của Người. Chúa Giêsu đã học những công thức cầu nguyện nơi thân mẫu Người là đấng hằng ghi nhớ và luôn suy niệm trong lòng về mọi điều “cao cả” của Đấng Toàn Năng. Người cầu nguyện bằng những lời kinh và âm điệu của dân Người, trong Hội đường Nadarét và trong Đền Thờ. Nhưng kinh nguyện của Người còn phát xuất từ một nguồn mạch sâu kín hơn, như chính Người đã hé mở cho thấy lúc Người lên mười hai tuổi: “Con có bổn phận ở nhà của Cha con” (Lc 2,49). Ở đây, tính cách mới mẻ của việc cầu nguyện trong thời viên mãn bắt đầu được mặc khải: đó là lời cầu nguyện của Người Con, mà Chúa Cha vẫn chờ mong nơi các con cái của Ngài, cuối cùng đã được chính Người Con Một thực hiện trong nhân tính của Người cùng với con người và vì con người.
The Son of God who became Son of the Virgin learned to pray in his human heart. He learns to pray from his mother, who kept all the great things the Almighty had done and treasured them in her heart. He learns to pray in the words and rhythms of the prayer of his people, in the synagogue at Nazareth and the Temple at Jerusalem. But his prayer springs from an otherwise secret source, as he intimates at the age of twelve: "I must be in my Father's house." Here the newness of prayer in the fullness of time begins to be revealed: his filial prayer, which the Father awaits from his children, is finally going to be lived out by the only Son in his humanity, with and for men.
Tin Mừng theo thánh Luca nhấn mạnh đến tác động của Chúa Thánh Thần và ý nghĩa của việc cầu nguyện trong thừa tác vụ của Đức Kitô. Chúa Giêsu cầu nguyện trước những thời điểm quyết định trong sứ vụ của Người: trước khi Chúa Cha làm chứng về Người lúc Người chịu phép rửa, lúc Người Hiển Dung, và trước khi Người hoàn thành ý định yêu thương của Chúa Cha bằng cuộc thương khó của Người. Người cũng cầu nguyện trước những thời điểm quyết định liên quan đến sứ vụ của các Tông Đồ của Người: trước khi gọi và chọn nhóm Mười Hai, trước khi ông Phêrô tuyên xưng Người là “Đấng Kitô của Thiên Chúa”, và để lòng tin của vị thủ lãnh các Tông Đồ khỏi bị suy yếu trong cơn thử thách. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trước các biến cố cứu độ, mà Chúa Cha đòi Người phải thể hiện, là sự phó thác khiêm nhường và đầy tin tưởng của ý chí nhân loại của Người cho ý muốn đầy yêu thương của Chúa Cha.
The Gospel according to St. Luke emphasizes the action of the Holy Spirit and the meaning of prayer in Christ's ministry. Jesus prays before the decisive moments of his mission: before his Father's witness to him during his baptism and Transfiguration, and before his own fulfillment of the Father's plan of love by his Passion. He also prays before the decisive moments involving the mission of his apostles: at his election and call of the Twelve, before Peter's confession of him as "the Christ of God," and again that the faith of the chief of the Apostles may not fail when tempted. Jesus' prayer before the events of salvation that the Father has asked him to fulfill is a humble and trusting commitment of his human will to the loving will of the Father.
“Có một lần Chúa Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: ‘Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện’” (Lc 11,1). Chẳng phải là người môn đệ của Đức Kitô, vì chiêm ngưỡng Thầy mình cầu nguyện trước, rồi khao khát cầu nguyện đó sao? Lúc đó, người này có thể học cầu nguyện từ bậc Thầy của việc cầu nguyện. Khi chiêm ngưỡng và lắng nghe Người Con, các con cái học biết cầu nguyện với Chúa Cha.
"He was praying in a certain place and when he had ceased, one of his disciples said to him, 'Lord, teach us to pray."' In seeing the Master at prayer the disciple of Christ also wants to pray. By contemplating and hearing the Son, the master of prayer, the children learn to pray to the Father.
Chúa Giêsu thường lui vào nơi thanh vắng, lên núi, nhất là lúc đêm khuya, để cầu nguyện. Vì trong cuộc Nhập Thể, Người đã thông phần nhân tính, nên Người mang lấy mọi người trong kinh nguyện của Người, và Người dâng họ lên Chúa Cha bằng việc tự hiến chính mình Người. Chính Người, Ngôi Lời “đã mặc lấy xác phàm”, trong lời cầu nguyện nhân loại của mình, thông phần vào những gì “các anh em” của Người đang sống; Người cảm thông những yếu đuối của họ để giải thoát họ khỏi những yếu đuối ấy. Chính vì mục đích này mà Chúa Cha đã sai Người đến. Những lời nói cũng như việc làm của Người là biểu hiện rõ ràng về những gì Người cầu nguyện “trong thầm kín.”
Jesus often draws apart to pray in solitude, on a mountain, preferably at night. He includes all men in his prayer, for he has taken on humanity in his incarnation, and he offers them to the Father when he offers himself. Jesus, the Word who has become flesh, shares by his human prayer in all that "his brethren" experience; he sympathizes with their weaknesses in order to free them. It was for this that the Father sent him. His words and works are the visible manifestation of his prayer in secret.
Các tác giả sách Tin Mừng giữ lại hai lời cầu nguyện minh nhiên của Đức Kitô trong thời gian Người thi hành tác vụ. Cả hai đều khởi đầu bằng lời tạ ơn. Trong lời nguyện thứ nhất, Chúa Giêsu tuyên xưng, nhận biết và chúc tụng Chúa Cha vì Chúa Cha đã giấu các mầu nhiệm Nước Trời đối với những người tưởng mình khôn ngoan, nhưng lại mặc khải cho “những người bé mọn” (những người nghèo của các mối phúc). Sự rung cảm của Người, “Vâng, lạy Cha!” nói lên những gì tận đáy lòng Người, sự gắn bó của Người với “điều đẹp ý” Chúa Cha, như vọng lại lời “Xin vâng” của Mẹ Người lúc thụ thai Người, và như khúc dạo đầu cho lời Người sẽ thưa với Chúa Cha trong cơn hấp hối. Toàn bộ kinh nguyện của Chúa Giêsu đều chất chứa tâm tình gắn bó yêu thương của trái tim nhân loại của Người đối với “mầu nhiệm thánh ý” của Chúa Cha.
The evangelists have preserved two more explicit prayers offered by Christ during his public ministry. Each begins with thanksgiving. In the first, Jesus confesses the Father, acknowledges, and blesses him because he has hidden the mysteries of the Kingdom from those who think themselves learned and has revealed them to infants, the poor of the Beatitudes. His exclamation, "Yes, Father!" expresses the depth of his heart, his adherence to the Father's "good pleasure," echoing his mother's Fiat at the time of his conception and prefiguring what he will say to the Father in his agony. the whole prayer of Jesus is contained in this loving adherence of his human heart to the mystery of the will of the Father.
Lời cầu nguyện thứ hai được thánh Gioan ghi lại vào lúc trước khi La-da-rô được cho sống lại. Lời tạ ơn đi trước biến cố: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhận lời con” hàm ý là Chúa Cha luôn nhận lời Người cầu xin; và Chúa Giêsu thêm ngay: “Con vẫn biết Cha luôn nghe lời Con” hàm ý Chúa Giêsu luôn nài xin Chúa Cha. Như vậy, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, được khởi đầu bằng tâm tình tạ ơn, mặc khải cho chúng ta biết phải cầu xin như thế nào: trước khi nhận được hồng ân, Chúa Giêsu đã gắn bó với Đấng ban ơn, cũng là Đấng tự ban mình trong các hồng ân của Ngài. Đấng ban ơn thì quý trọng hơn hồng ân bội phần, chính Ngài là “Kho tàng” và tâm hồn của Con Ngài quy hướng về chính Ngài; hồng ân chỉ là điều được “ban thêm.” Lời nguyện “tư tế” của Chúa Giêsu có một vị trí độc nhất vô nhị trong nhiệm cục cứu độ (lời nguyện này sẽ được suy niệm ở cuối Đoạn thứ nhất). Thật vậy, lời cầu nguyện này cho thấy kinh nguyện của Đức Kitô Thượng Tế luôn là lời cầu nguyện của ngày hôm nay, và đồng thời cũng dạy chúng ta cách cầu nguyện cùng Chúa Cha (vấn đề sẽ được bàn đến trong Đoạn thứ hai).
The second prayer, before the raising of Lazarus, is recorded by St. John. Thanksgiving precedes the event: "Father, I thank you for having heard me," which implies that the Father always hears his petitions. Jesus immediately adds: "I know that you always hear me," which implies that Jesus, on his part, constantly made such petitions. Jesus' prayer, characterized by thanksgiving, reveals to us how to ask: before the gift is given, Jesus commits himself to the One who in giving gives himself. the Giver is more precious than the gift; he is the "treasure"; in him abides his Son's heart; the gift is given "as well."
Khi đến Giờ hoàn tất ý định yêu thương của Chúa Cha, Chúa Giêsu cho thoáng thấy chiều sâu khôn dò của lời cầu nguyện của Người Con, không những trước khi Người tự nguyện trao nộp chính mình (“Lạy Cha,... xin đừng cho ý Con thể hiện, mà là ý Cha”: Lc 22,42), mà cả đến những lời cuối cùng của Người trên thập giá, lúc mà cầu nguyện và tự hiến trở nên một. “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34); “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng” (Lc 23,43); “Thưa Bà, đây là con của Bà... Đây là Mẹ của anh” (Ga 19,26-27); “Tôi khát” (Ga 19,28); “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34); “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30); “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46) cho đến cả “tiếng kêu lớn” khi Người trao hơi thở.
When the hour had come for him to fulfill the Father's plan of love, Jesus allows a glimpse of the boundless depth of his filial prayer, not only before he freely delivered himself up (“Abba . . . not my will, but yours."), but even in his last words on the Cross, where prayer and the gift of self are but one: "Father, forgive them, for they know not what they do", "Truly, I say to you, today you will be with me in Paradise", "Woman, behold your son" - "Behold your mother", "I thirst."; "My God, My God, why have you forsaken me?" "It is finished"; "Father, into your hands I commit my spirit!" until the "loud cry" as he expires, giving up his spirit.
Tất cả những đau khổ của nhân loại trong mọi thời, dưới ách nô lệ tội lỗi và sự chết, tất cả mọi lời van xin và chuyển cầu suốt lịch sử cứu độ, đều được thu tóm vào Tiếng kêu lớn của Ngôi Lời Nhập Thể. Chúa Cha đón nhận tất cả và, vượt quá mọi mong đợi, Ngài nhận lời tất cả khi cho Con Ngài sống lại. Như vậy, toàn thể kinh nguyện trong nhiệm cục tạo dựng và cứu độ được thực hiện và hoàn tất. Tập Thánh vịnh trao cho chúng ta chìa khóa của việc cầu nguyện trong Đức Kitô. Chính trong “Ngày hôm nay” của biến cố Phục sinh, Chúa Cha phán: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con. Con cứ xin, rồi Cha ban tặng, muôn dân nước làm sản nghiệp riêng, toàn cõi đất làm phần lãnh địa” (Tv 2,7-8). Thư gửi tín hữu Do Thái dùng những lời lẽ bi thảm để diễn tả lời cầu nguyện của Chúa Giêsu đã đem lại chiến thắng cứu độ như thế nào: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Chúa Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Hr 5,7-9).
All the troubles, for all time, of humanity enslaved by sin and death, all the petitions and intercessions of salvation history are summed up in this cry of the incarnate Word. Here the Father accepts them and, beyond all hope, answers them by raising his Son. Thus is fulfilled and brought to completion the drama of prayer in the economy of creation and salvation. the Psalter gives us the key to prayer in Christ. In the "today" of the Resurrection the Father says: "You are my Son, today I have begotten you. Ask of me, and I will make the nations your heritage, and the ends of the earth your possession."
Khi Chúa Giêsu cầu nguyện, là Người đã dạy chúng ta cầu nguyện. Con đường đối thần của lời cầu nguyện của chúng ta là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu dâng lên Cha Người. Nhưng Tin Mừng còn lưu lại cho chúng ta giáo huấn minh nhiên của Chúa Giêsu về việc cầu nguyện. Là nhà sư phạm, Người bắt đầu từ hiện trạng của chúng ta, và từng bước một dẫn dắt chúng ta đến với Chúa Cha. Khi nói với đám đông dân chúng đang đi theo Người, Chúa Giêsu khởi đi từ những gì họ đã biết về cầu nguyện theo như Giao ước cũ và mở cho họ thấy nét mới mẻ của Nước Trời đang đến. Người mặc khải cho họ nét mới mẻ này qua các dụ ngôn. Sau cùng, với các môn đệ là những người sẽ phải làm thầy dạy cầu nguyện trong Hội Thánh, thì Người nói rõ về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.
When Jesus prays he is already teaching us how to pray. His prayer to his Father is the theological path (the path of faith, hope, and charity) of our prayer to God. But the Gospel also gives us Jesus' explicit teaching on prayer. Like a wise teacher he takes hold of us where we are and leads us progressively toward the Father. Addressing the crowds following him, Jesus builds on what they already know of prayer from the Old Covenant and opens to them the newness of the coming Kingdom. Then he reveals this newness to them in parables. Finally, he will speak openly of the Father and the Holy Spirit to his disciples who will be the teachers of prayer in his Church.
Ngay từ Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã nhấn mạnh đến việc hối cải tâm hồn: phải hòa giải với người anh em trước khi đến dâng lễ phẩm trên bàn thờ, phải yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bách hại mình, phải cầu nguyện cùng Chúa Cha, Đấng hiện diện “nơi kín đáo” (Mt 6,6), không lải nhải nhiều lời, thật lòng tha thứ trong cầu nguyện, có tâm hồn thanh khiết và lo tìm kiếm Nước Trời. Cuộc hối cải này hoàn toàn hướng về Chúa Cha, và đượm tình con thảo.
From the Sermon on the Mount onwards, Jesus insists on conversion of heart: reconciliation with one's brother before presenting an offering on the altar, love of enemies, and prayer for persecutors, prayer to the Father in secret, not heaping up empty phrases, prayerful forgiveness from the depths of the heart, purity of heart, and seeking the Kingdom before all else. This filial conversion is entirely directed to the Father.
Tâm hồn, một khi đã sẵn sàng hối cải như vậy, sẽ học biết cầu nguyện trong đức tin. Tin là gắn bó đầy tình con thảo với Thiên Chúa, vượt quá những gì chúng ta cảm thấy và hiểu biết. Sự gắn bó này có thể thực hiện được vì Người Con yêu dấu đã mở lối cho chúng ta đến với Chúa Cha. Người có thể yêu cầu chúng ta “tìm kiếm” và “gõ”, vì chính Người là cửa và là con đường.
Once committed to conversion, the heart learns to pray in faith. Faith is a filial adherence to God beyond what we feel and understand. It is possible because the beloved Son gives us access to the Father. He can ask us to "seek" and to "knock," since he himself is the door and the way.
Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha và tạ ơn trước khi nhận được các hồng ân của Chúa Cha thế nào, thì Người cũng dạy chúng ta bạo dạn như những người con như vậy: “Tất cả những gì anh em cầu xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi” (Mc 11,24). Sức mạnh của cầu nguyện là như thế: “mọi sự đều có thể, đối với người tin” (Mc 9,23) bằng một đức tin không nghi nan. Chúa Giêsu rất buồn phiền “vì sự cứng tin” của đám bà con thân thuộc của Người (Mc 6,6), và vì lòng tin yếu kém của các môn đệ Người, trái lại Người thán phục trước lòng tin mạnh mẽ của viên sĩ quan Rôma và người phụ nữ xứ Canaan.
Just as Jesus prays to the Father and gives thanks before receiving his gifts, so he teaches us filial boldness: "Whatever you ask in prayer, believe that you receive it, and you will." Such is the power of prayer and of faith that does not doubt: "all things are possible to him who believes." Jesus is as saddened by the "lack of faith" of his own neighbors and the "little faith" of his own disciples as he is struck with admiration at the great faith of the Roman centurion and the Canaanite woman.
Lời cầu nguyện của đức tin không hệ tại ở chỗ thưa: “Lạy Chúa, Lạy Chúa”, nhưng là sẵn lòng thi hành thánh ý của Chúa Cha. Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ Người đem vào lời cầu nguyện sự quan tâm cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa.
The prayer of faith consists not only in saying "Lord, Lord," but in disposing the heart to do the will of the Father. Jesus calls his disciples to bring into their prayer this concern for cooperating with the divine plan.
Nơi Chúa Giêsu, “triều đại Thiên Chúa đã đến gần” (Mc 1,15), Người kêu gọi con người hối cải, tin tưởng và tỉnh thức nữa. Khi cầu nguyện, người môn đệ chăm chú hướng về Đấng hiện có và đang đến, vừa tưởng nhớ việc Người đến lần thứ nhất trong xác phàm khiêm hạ, vừa hy vọng Người đến lần thứ hai trong vinh quang. Đối với các môn đệ, cầu nguyện là một cuộc chiến đấu trong sự hiệp thông với Thầy mình, và chính nhờ tỉnh thức trong cầu nguyện mà ta không sa chước cám dỗ.
In Jesus "the Kingdom of God is at hand." He calls his hearers to conversion and faith, but also to watchfulness. In prayer the disciple keeps watch, attentive to Him Who Is and Him Who Comes, in memory of his first coming in the lowliness of the flesh, and in the hope of his second coming in glory. In communion with their Master, the disciples' prayer is a battle; only by keeping watch in prayer can one avoid falling into temptation.
Có ba dụ ngôn chính về cầu nguyện được thánh Luca lưu lại cho chúng ta: — Dụ ngôn thứ nhất, “Người bạn quấy rầy”, mời gọi cầu nguyện cách khẩn khoản: “Anh em cứ gõ cửa thì cửa sẽ mở cho anh em.” Chúa Cha trên trời sẽ ban cho người cầu nguyện bất cứ điều gì người ấy cần và nhất là ban Chúa Thánh Thần, Đấng chứa đựng mọi hồng ân. — Dụ ngôn thứ hai, “Bà góa quấy rầy”, tập trung vào một trong các phẩm tính của việc cầu nguyện: “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí”, với sự kiên trì của lòng tin. “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” — Dụ ngôn thứ ba, “Người Pharisêu và người thu thuế”, liên quan đến sự khiêm tốn trong lòng của người cầu nguyện. “Lạy Thiên Chúa, xin thương con là kẻ tội lỗi.” Hội Thánh không ngừng lấy lời cầu nguyện ấy làm lời cầu nguyện của mình: Kyrie eleison! (Xin Chúa thương xót chúng con!)
Three principal parables on prayer are transmitted to us by St. Luke: - the first, "the importunate friend," invites us to urgent prayer: "Knock, and it will be opened to you." To the one who prays like this, the heavenly Father will "give whatever he needs," and above all the Holy Spirit who contains all gifts. - the second, "the importunate widow," is centered on one of the qualities of prayer: it is necessary to pray always without ceasing and with the patience of faith. "and yet, when the Son of Man comes, will he find faith on earth?" - the third parable, "the Pharisee and the tax collector," concerns the humility of the heart that prays. "God, be merciful to me a sinner!" the Church continues to make this prayer its own: Kyrie eleison!
Khi Chúa Giêsu ký thác cách công khai cho các môn đệ Người mầu nhiệm cầu nguyện với Chúa Cha, thì Người tỏ cho các ông kinh nguyện của các ông - và cũng là của chúng ta - phải thế nào, một khi Người sẽ trở về với Chúa Cha trong nhân tính đã được tôn vinh của Người. Vào lúc đó điều mới mẻ là “cầu xin nhân danh Người.” Lòng tin vào Người đưa các môn đệ đến chỗ biết Chúa Cha, vì Chúa Giêsu là “Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6). Lòng tin mang lại hoa trái trong lòng mến: đó là tuân giữ lời Người, các giới răn của Người, đó là cùng với Người ở lại trong Chúa Cha, Đấng yêu mến chúng ta trong Người, đến độ ở lại trong chúng ta. Trong Giao ước mới này, chúng ta xác tín rằng những lời cầu xin của chúng ta được đoái nhận, niềm xác tín đó dựa trên nền tảng là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu.
When Jesus openly entrusts to his disciples the mystery of prayer to the Father, he reveals to them what their prayer and ours must be, once he has returned to the Father in his glorified humanity. What is new is to "ask in his name." Faith in the Son introduces the disciples into the knowledge of the Father, because Jesus is "the way, and the truth, and the life." Faith bears its fruit in love: it means keeping the word and the commandments of Jesus, it means abiding with him in the Father who, in him, so loves us that he abides with us. In this new covenant the certitude that our petitions will be heard is founded on the prayer of Jesus.
Hơn nữa, khi lời cầu nguyện của chúng ta được kết hợp với lời cầu nguyện của Chúa Giêsu, Chúa Cha “sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác, đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật” (Ga 14,16-17). Nét mới mẻ này của lời cầu nguyện và của các điều kiện [để cầu nguyện] xuất hiện suốt diễn từ cáo biệt. Trong Chúa Thánh Thần, kinh nguyện Kitô Giáo là sự hiệp thông tình yêu với Chúa Cha, không phải chỉ nhờ Đức Kitô mà còn trong Người nữa: “Cho đến nay, anh em đã chẳng xin gì nhân danh Thầy. Cứ xin đi, anh em sẽ được, để niềm vui của anh em nên trọn vẹn” (Ga 16,24).
Even more, what the Father gives us when our prayer is united with that of Jesus is "another Counselor, to be with you for ever, even the Spirit of truth." This new dimension of prayer and of its circumstances is displayed throughout the farewell discourse. In the Holy Spirit, Christian prayer is a communion of love with the Father, not only through Christ but also in him: "Hitherto you have asked nothing in my name; ask, and you will receive, that your joy may be full."
Lúc Người còn đang thi hành tác vụ, lời cầu nguyện với Chúa Giêsu đã được chính Người nhận lời, qua các dấu lạ, những dấu lạ này tiền dự vào sức mạnh của sự chết và sự sống lại của Người. Chúa Giêsu nhận lời cầu nguyện của đức tin, được diễn tả bằng lời nói (của người bệnh phong, của ông Giairô, của người phụ nữ Canaan, của người trộm lành ), hay trong thinh lặng (của những kẻ khiêng người bất toại, của người đàn bà bị bệnh loạn huyết đụng chạm vào áo Người, nước mắt và dầu thơm của người phụ nữ tội lỗi ). Lời nài xin tha thiết của những người mù: “Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót chúng tôi” (Mt 9,27) hay “Lạy Ông Giêsu, Con Vua Đavít, xin rủ lòng thương tôi” (Mc 10,48) được sử dụng lại trong truyền thống Khẩn nguyện Chúa Giêsu (Oratio ad Iesum): “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” Chúa Giêsu luôn đáp lại lời cầu xin Người với đức tin, bằng cách chữa lành bệnh tật hoặc thứ tha tội lỗi: “Cứ về bình an, lòng tin của anh đã cứu chữa anh.” Thánh Augustinô đã khéo léo tóm tắt ba chiều kích của lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: “Người cầu nguyện cho chúng ta, vì Người là vị Tư Tế của chúng ta; Người cầu nguyện trong chúng ta vì Người là Đầu của chúng ta; Người được chúng ta cầu nguyện, vì Người là Thiên Chúa của chúng ta. Vậy chúng ta phải nhận biết tiếng nói của chúng ta trong Người, lẫn tiếng nói của Người trong chúng ta.”
Prayer to Jesus is answered by him already during his ministry, through signs that anticipate the power of his death and Resurrection: Jesus hears the prayer of faith, expressed in words (the leper, Jairus, the Canaanite woman, the good thief) or in silence (the bearers of the paralytic, the woman with a hemorrhage who touches his clothes, the tears and ointment of the sinful woman). The urgent request of the blind men, "Have mercy on us, Son of David" or "Jesus, Son of David, have mercy on me!" has-been renewed in the traditional prayer to Jesus known as the Jesus Prayer: "Lord Jesus Christ, Son of God, have mercy on me, a sinner!" Healing infirmities or forgiving sins, Jesus always responds to a prayer offered in faith: "Your faith has made you well; go in peace."
Lời cầu nguyện của Đức Maria được mặc khải cho chúng ta vào buổi bình minh của lúc thời gian viên mãn. Trước cuộc Nhập Thể của Con Thiên Chúa và trước việc đổ tràn Thánh Thần xuống, lời cầu nguyện của Mẹ cộng tác cách độc đáo vào kế hoạch ưu ái của Chúa Cha: vào lúc Truyền tin để Đức Kitô được thụ thai, vào lúc Hiện Xuống để Hội Thánh, Thân thể của Đức Kitô, được hình thành. Hồng ân của Thiên Chúa được đón nhận nơi lòng tin của người nữ tì khiêm tốn của Ngài, sự đón nhận mà Ngài đã đợi chờ từ lúc khởi sự thời gian. Người nữ ấy, đã được Đấng Toàn Năng làm cho “đầy ân sủng”, đã đáp lại bằng việc tiến dâng trọn bản thân mình: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin thực hiện cho tôi như lời của Ngài.” Lời thưa Fiat (Xin vâng) chính là lời cầu nguyện của Kitô Giáo: tất cả là của Chúa bởi vì chính Chúa là tất cả của chúng ta.
Mary's prayer is revealed to us at the dawning of the fullness of time. Before the incarnation of the Son of God, and before the outpouring of the Holy Spirit, her prayer cooperates in a unique way with the Father's plan of loving kindness: at the Annunciation, for Christ's conception; at Pentecost, for the formation of the Church, his Body. In the faith of his humble handmaid, the Gift of God found the acceptance he had awaited from the beginning of time. She whom the Almighty made "full of grace" responds by offering her whole being: "Behold I am the handmaid of the Lord; let it be [done] to me according to your word." "Fiat": this is Christian prayer: to be wholly God's, because he is wholly ours.
Tin Mừng mặc khải cho chúng ta Đức Maria cầu nguyện và chuyển cầu trong lòng tin như thế nào: tại Cana, Thân mẫu Chúa Giêsu cầu xin Con mình lo đến nhu cầu của bữa tiệc cưới. Bữa tiệc này là dấu chỉ của một Bữa tiệc khác, là tiệc cưới Chiên Con, Đấng ban tặng Mình Máu Người theo lời nài xin của Hội Thánh, Hiền Thê của Người. Vào giờ của Giao ước mới, gần bên thánh giá, Đức Maria đã được nhận lời, với tư cách là Người Nữ, tức là bà Evà mới, đích thực là “Mẹ của chúng sinh.”
The Gospel reveals to us how Mary prays and intercedes in faith. At Cana, The mother of Jesus asks her son for the needs of a wedding feast; this is the sign of another feast - that of the wedding of the Lamb where he gives his body and blood at the request of the Church, his Bride. It is at the hour of the New Covenant, at the foot of the cross, that Mary is heard as the Woman, the new Eve, the true "Mother of all the living."
Do đó, bài ca của Đức Maria (tiếng Latinh là Magnificat và tiếng Byzantin là Megalinárion) là bài ca vừa của Mẹ Thiên Chúa vừa của Hội Thánh, bài ca vừa của Thiếu nữ Xion, vừa của dân mới của Thiên Chúa, bài ca tạ ơn vì sự viên mãn của các ân sủng được ban tràn đầy trong Nhiệm cục cứu độ, bài ca của “những người nghèo” thấy niềm hy vọng của mình được thực hiện nhờ việc hoàn thành các lời hứa dành cho cha ông chúng ta, “cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời.”
That is why the Canticle of Mary, The Magnificat (Latin) or Megalynei (byzantine) is the song both of the Mother of God and of the Church; the song of the Daughter of Zion and of the new People of God; the song of thanksgiving for the fullness of graces poured out in the economy of salvation and the song of the "poor" whose hope is met by the fulfillment of the promises made to our ancestors, "to Abraham and to his posterity for ever."
Trong Tân Ước, khuôn mẫu tuyệt hảo của cầu nguyện là lời cầu nguyện đầy tình con thảo của Chúa Giêsu. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu - thường được thực hiện trong nơi vắng vẻ và kín đáo - bao hàm sự gắn bó đầy tình yêu với thánh ý Chúa Cha cho đến tận thập giá, và sự tin tưởng tuyệt đối là được nhận lời.
Jesus' filial prayer is the perfect model of prayer in the New Testament. Often done in solitude and in secret, the prayer of Jesus involves a loving adherence to the will of the Father even to the Cross and an absolute confidence in being heard.
Chúa Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện với tâm hồn trong sạch, với đức tin sống động, luôn kiên nhẫn và sự bạo dạn của người con. Người đòi buộc họ phải tỉnh thức và mời gọi họ dâng lên Thiên Chúa những lời cầu xin nhân danh Người. Chính Chúa Giêsu Kitô nhận những lời cầu nguyện dâng lên Người.
In his teaching, Jesus teaches his disciples to pray with a purified heart, with lively and persevering faith, with filial boldness. He calls them to vigilance and invites them to present their petitions to God in his name. Jesus Christ himself answers prayers addressed to him.
Kinh nguyện của Đức Maria, trong lời “Xin vâng” và trong bài ca “Magnificat” của Mẹ, có nét đặc thù là sự quảng đại hiến dâng trọn bản thân Mẹ trong đức tin.
The prayers of the Virgin Mary, in her Fiat and Magnificat, are characterized by the generous offering of her whole being in faith.