Ngày lễ Ngũ Tuần, Thần Khí của Lời hứa được đổ tràn xuống các môn đệ “đang tề tựu ở một nơi” (Cv 2,1), “tất cả... đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện” để chờ đón Ngài (Cv 1,14). Thần Khí, Đấng dạy dỗ Hội Thánh và nhắc cho Hội Thánh nhớ mọi điều Chúa Giêsu đã nói, cũng sẽ huấn luyện Hội Thánh về đời sống cầu nguyện.
On the day of Pentecost, the Spirit of the Promise was poured out on the disciples, gathered "together in one place." While awaiting the Spirit, "all these with one accord devoted themselves to prayer." The Spirit who teaches the Church and recalls for her everything that Jesus said was also to form her in the life of prayer.
Trong cộng đoàn tiên khởi tại Giêrusalem, các tín hữu “chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42). Chuỗi thứ tự ấy là nét đặc thù của việc cầu nguyện của Hội Thánh: việc cầu nguyện đặt nền tảng trên đức tin tông truyền, được chứng thực bằng tình bác ái, được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể.
In the first community of Jerusalem, believers "devoted themselves to the apostles' teaching and fellowship, to the breaking of bread, and the prayers." This sequence is characteristic of the Church's prayer: founded on the apostolic faith; authenticated by charity; nourished in the Eucharist.
Những lời cầu nguyện này trước hết là những lời các tín hữu nghe và đọc trong Sách Thánh, nhưng họ làm cho những lời ấy trở thành hiện tại, đặc biệt là những lời Thánh vịnh, do chúng được nên trọn trong Đức Kitô. Chúa Thánh Thần, Đấng nhắc cho Hội Thánh đang cầu nguyện nhớ đến Đức Kitô như vậy, cũng dẫn đưa Hội Thánh đến chân lý trọn vẹn và khơi dậy những mẫu kinh mới để diễn tả mầu nhiệm khôn dò của Đức Kitô, mầu nhiệm ấy đang hoạt động trong đời sống, trong các bí tích và trong sứ vụ của Hội Thánh Người. Những mẫu kinh này sẽ được khai triển trong các truyền thống phụng vụ và linh đạo quan trọng. Các hình thức cầu nguyện, như được mặc khải trong các tác phẩm của các Tông Đồ thuộc Tân Ước, sẽ mãi mãi là mẫu mực cho kinh nguyện Kitô Giáo.
In the first place these are prayers that the faithful hear and read in the Scriptures, but also that they make their own - especially those of the Psalms, in view of their fulfillment in Christ. The Holy Spirit, who thus keeps the memory of Christ alive in his Church at prayer, also leads her toward the fullness of truth and inspires new formulations expressing the unfathomable mystery of Christ at work in his Church's life, sacraments, and mission. These formulations are developed in the great liturgical and spiritual traditions. the forms of prayer revealed in the apostolic and canonical Scriptures remain normative for Christian prayer.
Chúc tụng diễn tả động thái sâu xa nhất của việc cầu nguyện Kitô Giáo. Đó là sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người; trong đó Thiên Chúa ban ơn và con người tiếp nhận, hai bên mời gọi nhau và nối kết với nhau. Lời kinh chúc tụng là lời đáp của con người đối với những hồng ân của Thiên Chúa: vì Thiên Chúa chúc lành, tâm hồn con người có thể chúc tụng để đáp lại Đấng là nguồn mạch mọi phúc lành.
Blessing expresses the basic movement of Christian prayer: it is an encounter between God and man. In blessing, God's gift and man's acceptance of it are united in dialogue with each other. the prayer of blessing is man's response to God's gifts: because God blesses, the human heart can in return bless the One who is the source of every blessing.
Có hai dạng căn bản diễn tả động thái này: có khi là dạng đi lên, tức là lời chúc tụng được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần nhờ Đức Kitô dâng lên Chúa Cha (chúng ta chúc tụng Ngài vì Ngài đã chúc lành cho chúng ta ); có khi là dạng đi xuống, tức là khẩn cầu ân sủng của Chúa Thánh Thần, Đấng nhờ Đức Kitô, từ Chúa Cha mà xuống, (chính Ngài chúc lành cho chúng ta).
TWO fundamental forms express this movement: our prayer ascends in the Holy Spirit through Christ to the Father - we bless him for having blessed us; it implores the grace of the Holy Spirit that descends through Christ from the Father - he blesses us.
Thờ lạy là thái độ đầu tiên của con người nhìn nhận mình là thụ tạo trước Đấng Tạo hóa của mình. Thờ lạy là tán dương sự cao cả của Chúa, Đấng đã dựng nên chúng ta và sự toàn năng của Đấng cứu độ, Đấng giải thoát chúng ta khỏi sự dữ. Thờ lạy là phủ phục tinh thần trước “Đức Vua vinh quang”, và là lặng thinh kính cẩn trước Thiên Chúa, Đấng “luôn luôn cao cả hơn.” Việc thờ lạy Thiên Chúa muôn trùng chí thánh và đáng mến vô cùng làm cho lòng ta khiêm tốn và đem lại sự bảo đảm cho những lời cầu khẩn của chúng ta.
Adoration is the first attitude of man acknowledging that he is a creature before his Creator. It exalts the greatness of the Lord who made us and the almighty power of the Savior who sets us free from evil. Adoration is homage of the spirit to the "King of Glory," respectful silence in the presence of the "ever greater" God. Adoration of the thrice-holy and sovereign God of love blends with humility and gives assurance to our supplications.
Từ vựng diễn tả việc khẩn cầu trong Tân Ước có sắc thái phong phú đa dạng: xin, nài xin, nài nỉ, kêu cầu, kêu xin, kêu cứu và thậm chí “chiến đấu trong cầu nguyện.” Nhưng hình thức thông thường nhất, vì là tự phát nhất, là cầu xin. Qua lời kinh cầu xin, chúng ta bộc lộ ý thức về mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa: là những thụ tạo, chúng ta không phải tự mình mà có, không làm chủ được những nghịch cảnh, cũng chẳng phải là cùng đích của đời mình. Hơn nữa, vì là Kitô hữu, chúng ta biết mình là những tội nhân đã quay lưng lại với Cha chúng ta. Cầu xin, một cách nào đó, đã là trở về với Ngài.
The vocabulary of supplication in the New Testament is rich in shades of meaning: ask, beseech, plead, invoke, entreat, cry out, even "struggle in prayer." Its most usual form, because the most spontaneous, is petition: by prayer of petition we express awareness of our relationship with God. We are creatures who are not our own beginning, not the masters of adversity, not our own last end. We are sinners who as Christians know that we have turned away from our Father. Our petition is already a turning back to him.
Tân Ước hầu như không có những lời cầu nguyện than van thường thấy trong Cựu Ước. Từ nay trở đi, trong Đức Kitô phục sinh, lời cầu nguyện của Hội Thánh mang niềm hy vọng, cho dù hiện nay chúng ta vẫn đang trông chờ và mỗi ngày vẫn còn cần hối cải. Lời kinh cầu xin của Kitô Giáo còn xuất phát từ một chiều sâu khác, từ chiều sâu được thánh Phaolô gọi là lời rên siết: tức là lời rên siết của thụ tạo “quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,22); cũng là tiếng rên siết của chúng ta “còn trông đợi Thiên Chúa... cứu chuộc thân xác chúng ta nữa. Quả thế, chúng ta đã được cứu độ, nhưng vẫn còn phải trông mong” (Rm 8,23-24); sau cùng là những “tiếng rên siết khôn tả” của chính Chúa Thánh Thần, Đấng “giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải” (Rm 8,26).
The New Testament contains scarcely any prayers of lamentation, so frequent in the Old Testament. In the risen Christ the Church's petition is buoyed by hope, even if we still wait in a state of expectation and must be converted anew every day. Christian petition, what St. Paul calls {"groaning," arises from another depth, that of creation "in labor pains" and that of ourselves "as we wait for the redemption of our bodies. For in this hope we were saved." In the end, however, "with sighs too deep for words" the Holy Spirit "helps us in our weakness; for we do not know how to pray as we ought, but the Spirit himself intercedes for us with sighs too deep for words."
Cầu xin ơn tha thứ là động thái đầu tiên của lời kinh cầu xin, (như lời người thu thuế: “Xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, Lc 18,13). Đó là bước đi đầu tiên để có thể cầu nguyện đúng đắn và tinh tuyền. Lòng khiêm tốn đầy tin tưởng phó thác đặt chúng ta vào trong ánh sáng của sự hiệp thông với Chúa Cha và Con Ngài là Chúa Giêsu Kitô, và hiệp thông với nhau: khi đó “bất cứ điều gì chúng ta xin, chúng ta được Ngài ban cho” (1 Ga 3,22). Chúng ta phải cầu xin ơn tha thứ trước khi cử hành Thánh lễ, cũng như trước khi cầu nguyện riêng.
The first movement of the prayer of petition is asking forgiveness, like the tax collector in the parable: "God, be merciful to me a sinner!" It is a prerequisite for righteous and pure prayer. A trusting humility brings us back into the light of communion between the Father and his Son Jesus Christ and with one another, so that "we receive from him whatever we ask." Asking forgiveness is the prerequisite for both the Eucharistic liturgy and personal prayer.
Theo giáo huấn của Chúa Giêsu, trọng tâm lời kinh cầu xin của Kitô Giáo là sự khao khát và tìm kiếm Nước Chúa đang đến. Vì thế, cần phải có một trật tự trong lời cầu xin: trước tiên là Nước Chúa, rồi đến những gì cần thiết cho chúng ta để đón nhận và cộng tác cho Nước Chúa trị đến. Việc cộng tác như vậy vào sứ vụ của Đức Kitô và của Chúa Thánh Thần, nay là sứ vụ của Hội Thánh, là đối tượng cầu xin của cộng đoàn thời các Tông Đồ. Kinh nguyện của thánh Phaolô, vị Tông Đồ ngoại hạng, mặc khải cho ta thấy sự quan tâm thánh thiện đến tất cả các giáo đoàn, phải gợi hứng cho kinh nguyện Kitô Giáo như thế nào. Bằng cầu nguyện, mọi người đã chịu Phép Rửa đều hoạt động cho Nước Chúa trị đến.
Christian petition is centered on the desire and search for the Kingdom to come, in keeping with the teaching of Christ. There is a hierarchy in these petitions: we pray first for the Kingdom, then for what is necessary to welcome it and cooperate with its coming. This collaboration with the mission of Christ and the Holy Spirit, which is now that of the Church, is the object of the prayer of the apostolic community. It is the prayer of Paul, the apostle par excellence, which reveals to us how the divine solicitude for all the churches ought to inspire Christian prayer. By prayer every baptized person works for the coming of the Kingdom.
Khi tham dự vào tình yêu cứu độ của Thiên Chúa như thế, chúng ta cần hiểu rằng mọi nhu cầu đều có thể trở thành đối tượng của lời kinh cầu xin. Đức Kitô, Đấng đã đón nhận tất cả để cứu chuộc tất cả, được tôn vinh nhờ những lời cầu xin mà chúng ta nhân danh Người dâng lên Chúa Cha. Được bảo đảm nhờ điều đó nên thánh Giacôbê và thánh Phaolô khuyến khích chúng ta cầu nguyện trong mọi hoàn cảnh.
When we share in God's saving love, we understand that every need can become the object of petition. Christ, who assumed all things in order to redeem all things, is glorified by what we ask the Father in his name. It is with this confidence that St. James and St. Paul exhort us to pray at all times.
Chuyển cầu là lời kinh cầu xin làm cho chúng ta đến gần với kinh nguyện của Chúa Giêsu. Người là Đấng chuyển cầu duy nhất nơi Chúa Cha cho tất cả mọi người, đặc biệt là cho kẻ tội lỗi. “Người có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Người hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Hr 7,25). Chính Chúa Thánh Thần “cầu thay nguyện giúp..., bởi vì Ngài cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,26-27).
Intercession is a prayer of petition which leads us to pray as Jesus did. He is the one intercessor with the Father on behalf of all men, especially sinners. He is "able for all time to save those who draw near to God through him, since he always lives to make intercession for them." The Holy Spirit "himself intercedes for us . . . and intercedes for the saints according to the will of God."
Chuyển cầu, nghĩa là cầu xin cho những người khác, ngay từ tổ phụ Ápraham, là đặc điểm của một tâm hồn hòa nhịp với lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa. Trong thời của Hội Thánh, lời chuyển cầu của Kitô hữu tham dự vào lời chuyển cầu của Đức Kitô: đây là cách diễn tả mầu nhiệm các Thánh thông công. Trong lời chuyển cầu, người cầu nguyện “đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2,4), thậm chí họ cầu nguyện cả cho những người làm hại họ.
Since Abraham, intercession - asking on behalf of another has been characteristic of a heart attuned to God's mercy. In the age of the Church, Christian intercession participates in Christ's, as an expression of the communion of saints. In intercession, he who prays looks "not only to his own interests, but also to the interests of others," even to the point of praying for those who do him harm.
Các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã nhiệt thành sống hình thức chia sẻ này. Thánh Tông Đồ Phaolô đã cho các cộng đoàn đó tham gia vào thừa tác vụ Tin Mừng của ngài bằng cách này nhưng ngài cũng chuyển cầu cho họ nữa. Lời chuyển cầu của các Kitô hữu không có ranh giới: “cho tất cả mọi người, cho vua chúa và tất cả những người cầm quyền” (1 Tm 2,1), cho những người bách hại, cho ơn cứu độ của những người từ khước Tin Mừng.
The first Christian communities lived this form of fellowship intensely. Thus the Apostle Paul gives them a share in his ministry of preaching the Gospel but also intercedes for them. The intercession of Christians recognizes no boundaries: "for all men, for kings and all who are in high positions," for persecutors, for the salvation of those who reject the Gospel.
Tạ ơn là nét đặc trưng của kinh nguyện của Hội Thánh; Hội Thánh, khi cử hành Thánh Lễ, biểu lộ và trở thành phù hợp hơn với bản chất của mình. Thật vậy, trong công trình cứu độ, Đức Kitô giải thoát thụ tạo khỏi tội lỗi và sự chết, để thánh hiến chúng một lần nữa và quy hướng chúng về Chúa Cha để tôn vinh Ngài. Lời kinh tạ ơn của các chi thể trong Thân Thể được tham dự vào lời tạ ơn của Đức Kitô là Đầu.
Thanksgiving characterizes the prayer of the Church which, in celebrating the Eucharist, reveals and becomes more fully what she is. Indeed, in the work of salvation, Christ sets creation free from sin and death to consecrate it anew and make it return to the Father, for his glory. the thanksgiving of the members of the Body participates in that of their Head.
Cũng như trong lời kinh cầu xin, mọi biến cố và nhu cầu đều có thể trở thành lễ phẩm tạ ơn. Các thư của thánh Phaolô thường khởi đầu và kết thúc bằng một lời tạ ơn, và Chúa Giêsu luôn hiện diện trong việc tạ ơn đó. “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em hãy làm như vậy, đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1 Tx 5,18). “Anh em hãy siêng năng cầu nguyện; hãy tỉnh thức mà cầu nguyện và tạ ơn” (Cl 4,2).
As in the prayer of petition, every event and need can become an offering of thanksgiving. the letters of St. Paul often begin and end with thanksgiving, and the Lord Jesus is always present in it: "Give thanks in all circumstances; for this is the will of God in Christ Jesus for you"; "Continue steadfastly in prayer, being watchful in it with thanksgiving."
Ca ngợi là hình thức cầu nguyện nhìn nhận Thiên Chúa là Thiên Chúa một cách trực tiếp nhất. Lời kinh ca ngợi tán dương Thiên Chúa vì chính Ngài, tôn vinh Ngài không phải vì các công trình của Ngài, nhưng bởi vì NGÀI HIỆN HỮU. Khi ca ngợi Thiên Chúa, chúng ta được thông phần hạnh phúc của những tâm hồn trong sạch, những kẻ yêu mến Ngài trong đức tin trước khi được nhìn thấy Ngài trong vinh quang. Nhờ lời kinh ca ngợi, Thần Khí kết hợp với thần trí chúng ta để chứng nhận chúng ta là con cái Thiên Chúa. Ngài làm chứng cho Người Con Một, trong Người, chúng ta được nhận làm nghĩa tử và nhờ Người, chúng ta tôn vinh Chúa Cha. Lời kinh ca ngợi gồm tóm các hình thức cầu nguyện khác và dâng tất cả lên Đấng là nguồn mạch và cùng đích của chúng: đó là “chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta” (1 Cr 8,6).
Praise is the form of prayer which recognizes most immediately that God is God. It lauds God for his own sake and gives him glory, quite beyond what he does, but simply because HE IS. It shares in the blessed happiness of the pure of heart who love God in faith before seeing him in glory. By praise, the Spirit is joined to our spirits to bear witness that we are children of God, testifying to the only Son in whom we are adopted and by whom we glorify the Father. Praise embraces the other forms of prayer and carries them toward him who is its source and goal: the "one God, the Father, from whom are all things and for whom we exist."
Thánh Luca, trong sách Tin Mừng của mình, thường nhắc đến thái độ thán phục và ca ngợi trước những phép lạ của Đức Kitô. Trong sách Công vụ Tông Đồ, ngài cũng nhấn mạnh các thái độ này trước những hoạt động của Chúa Thánh Thần: lời ca ngợi của cộng đoàn Giêrusalem, của người bất toại được các ông Phêrô và Gioan chữa lành, của dân chúng tôn vinh Thiên Chúa vì việc chữa lành đó, của dân ngoại ở Pixiđia “vui mừng tôn vinh Lời Chúa” (Cv 13,48).
St. Luke in his gospel often expresses wonder and praise at the marvels of Christ and in his Acts of the Apostles stresses them as actions of the Holy Spirit: the community of Jerusalem, the invalid healed by Peter and John, the crowd that gives glory to God for that, and the pagans of Pisidia who "were glad and glorified the word of God."
“Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5,19). Như các tác giả được linh hứng của Tân Ước, các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đọc lại sách Thánh vịnh một cách mới mẻ: họ dùng các Thánh vịnh để hát mừng mầu nhiệm Đức Kitô. Dưới tác động mới mẻ của Thần Khí, họ cũng sáng tác những thánh thi và thánh ca, khởi đi từ biến cố độc đáo Thiên Chúa đã thực hiện nơi Con của Ngài: cuộc Nhập thể, cái Chết toàn thắng sự chết, sự Phục sinh và việc Lên trời ngự bên hữu Ngài. Chính từ “những kỳ công này” của toàn thể nhiệm cục cứu độ mà các tín hữu dâng lên lời vinh tụng ca (doxologia), ca ngợi Thiên Chúa.
"[Address] one another in psalms and hymns and spiritual songs, singing and making melody to the Lord with all your heart." Like the inspired writers of the New Testament, the first Christian communities read the Book of Psalms in a new way, singing in it the mystery of Christ. In the newness of the Spirit, they also composed hymns and canticles in the light of the unheard - of event that God accomplished in his Son: his Incarnation, his death which conquered death, his Resurrection, and Ascension to the right hand of the Father. Doxology, the praise of God, arises from this "marvelous work" of the whole economy of salvation.
Sách Khải Huyền, lời mặc khải “về những điều sắp phải xảy đến”, có những bài thánh ca của phụng vụ thiên quốc, nhưng cũng có lời chuyển cầu của “các chứng nhân” (các vị tử đạo). Các Tiên tri và các Thánh, tất cả những người đã bị sát hại dưới trần gian để làm chứng cho Chúa Giêsu, đoàn người đông đảo “đã trải qua cơn thử thách lớn lao”, và đi trước chúng ta vào Nước Trời, đang hát lên lời ca ngợi vinh quang của “Đấng đang ngự trên ngai và Con Chiên.” Hiệp thông với các ngài, Hội Thánh trần gian cũng hát lên những bài thánh ca, trong đức tin và giữa cơn thử thách. Khi cầu xin và chuyển cầu, đức tin hy vọng, dù không còn gì để hy vọng, và tạ ơn “Chúa Cha là nguồn ánh sáng”, Đấng ban xuống “mọi hồng ân tốt lành.” Như thế, đức tin là một lời ca ngợi tinh tuyền.
The Revelation of "what must soon take place," the Apocalypse, is borne along by the songs of the heavenly liturgy but also by the intercession of the "witnesses" (martyrs). The prophets and the saints, all those who were slain on earth for their witness to Jesus, the vast throng of those who, having come through the great tribulation, have gone before us into the Kingdom, all sing the praise and glory of him who sits on the throne, and of the Lamb. In communion with them, the Church on earth also sings these songs with faith in the midst of trial. By means of petition and intercession, faith hopes against all hope and gives thanks to the "Father of lights," from whom "every perfect gift" comes down. Thus faith is pure praise.
Thánh lễ chứa đựng và diễn tả mọi hình thức cầu nguyện: đó chính là “lễ phẩm tinh tuyền” của toàn Thân thể Chúa Kitô để tôn vinh Danh Người. Truyền thống Đông và Tây phương đều gọi Thánh lễ là “hy lễ ca ngợi” (“sacrificium laudis”).
The Eucharist contains and expresses all forms of prayer: it is "the pure offering" of the whole Body of Christ to the glory of God's name and, according to the traditions of East and West, it is the "sacrifice of praise."
Chúa Thánh Thần, Đấng dạy dỗ và nhắc cho Hội Thánh nhớ những gì Chúa Giêsu đã nói, cũng dạy Hội Thánh về đời sống cầu nguyện, bằng cách gợi lên những lối diễn tả mới trong những hình thức vẫn có: chúc tụng, cầu xin, chuyển cầu, tạ ơn và ca ngợi.
The Holy Spirit who teaches the Church and recalls to her all that Jesus said also instructs her in the life of prayer, inspiring new expressions of the same basic forms of prayer: blessing, petition, intercession, thanksgiving, and praise.
Vì Thiên Chúa chúc lành cho con người, nên tâm hồn con người có thể chúc tụng để đền đáp Đấng là nguồn mạch mọi phúc lành.
Because God blesses the human heart, it can in return bless him who is the source of every blessing.
Lời cầu xin nhằm vào các việc xin ơn tha thứ, tìm kiếm Nước Chúa, cũng như cầu xin những ơn cần thiết.
Forgiveness, the quest for the Kingdom, and every true need are objects of the prayer of petition.
Chuyển cầu là một lời cầu xin cho những người khác. Lời chuyển cầu không có biên giới và bao trùm cả kẻ thù.
Prayer of intercession consists in asking on behalf of another. It knows no boundaries and extends to one's enemies.
Mọi vui buồn, mọi biến cố và nhu cầu đều có thể là chất liệu để tạ ơn; lời tạ ơn của chúng ta được tham dự vào lời tạ ơn của Đức Kitô và lấp đầy cuộc sống của chúng ta: “Hãy tạ ơn Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh” (1 Tx 5,18).
Every joy and suffering, every event and need can become the matter for thanksgiving which, sharing in that of Christ, should fill one's whole life: "Give thanks in all circumstances" (1 Thess 5:18).
Lời kinh ca ngợi, hoàn toàn vô vị lợi, hướng về Thiên Chúa; lời kinh này hát mừng Thiên Chúa vì chính Ngài, tôn vinh Ngài không phải vì các công trình Ngài thực hiện, nhưng bởi vì NGÀI HIỆN HỮU.
Prayer of praise is entirely disinterested and rises to God, lauds him, and gives him glory for his own sake, quite beyond what he has done, but simply because HE IS.