Bởi vì làm điều tốt không xóa đi điều xấu đã làm. Việc thiện và tội lỗi không phải là hai con số cộng trừ vào nhau để ra một "số dư" — mỗi cái là một thực tại riêng.
Hãy hình dung một phiên tòa. Một người vượt đèn đỏ gây tai nạn, ra trước thẩm phán và nói: "Nhưng tôi lái xe mười năm nay, mấy chục ngàn lần kia tôi vẫn dừng đèn đỏ, xin tha cho tôi lần này." Một thẩm phán công bằng có tha không? Không — người ấy vẫn phải chịu trách nhiệm về tai nạn đã gây ra. Người từng làm nhiều điều tốt mà phạm một tội nghiêm trọng thì vẫn phải trả lẽ về tội đó; công trạng cũ không tự động xóa nợ mới.
Điều khiến vấn đề nghiêm trọng hơn nữa là: tội lỗi được đo theo tiêu chuẩn của Thiên Chúa, chứ không phải của con người. Ta dễ nghĩ mình "cũng đâu đến nỗi nào" — cho đến khi đọc lời này:
Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó.
— 1 Ga 3,15 (CGKPV)
Theo thước đo ấy, hầu như không ai trong chúng ta là "người hoàn hảo có thể tự mình lên Thiên Đàng". Sách Giáo Lý phân biệt tội trọng — thứ "phá hủy đức mến trong lòng con người" và làm ta mất ơn thánh hóa (x. ) — với tội nhẹ, nhưng cả hai đều là những vết thương thật cần được chữa lành, chứ không thể bị "đè lên" bằng việc tốt.
Vậy phải chăng con người tuyệt vọng? Không. Điểm mấu chốt không phải là "cố làm nhiều việc tốt hơn cho đủ", mà là nhận ra rằng ta cần được tha thứ — một sự tha thứ ta không thể tự tạo ra cho mình. Chính vì không ai tự trả hết nợ tội được, mà Đức Kitô đã trả thay trên thập giá, và Ngài để lại cho Hội Thánh phương thế của lòng thương xót — cách riêng là bí tích Hòa Giải — để ơn tha thứ ấy chạm đến từng người (x. ).
Nói cách khác: việc tốt là điều đáng quý và Thiên Chúa mong đợi, nhưng nó là hoa trái của ơn cứu độ, không phải cái giá mua được ơn cứu độ. (Về mối tương quan giữa đức tin và việc làm, xem thêm loạt bài liên quan bên dưới.)